🎧 Nghe chương này

QUYỂN XX

ULYSSES KHÔNG THỂ NGỦ-LỜI CẦU NGUYỆN CỦA PENELOPE VỚI DIANA-HAI ĐIỀM BÁO TỪ THẦN LINH-EUMAEUS VÀ PHILOETIUS ĐẾN-BỌN CẦU HÔN ĂN TỐI-CTESIPPUS NÉM CHÂN BÒ VÀO ULYSSES-THEOCLYMENUS TIÊN ĐOÁN THẢM HỌA VÀ RỜI KHỎI NGÔI NHÀ.

Ulysses ngả lưng ngoài hành lang trên một tấm da bò mộc. Chàng khoác thêm vài tấm da cừu lột từ những con vật mà bọn cầu hôn đã xẻ thịt ăn uống no say. Nữ tì Eurynome cẩn thận đắp cho chàng một chiếc áo choàng. Nằm đó, Ulysses trằn trọc mãi không nguôi, mải miết vạch ra kế sách đoạt mạng lũ người ngông cuồng. Chẳng bao lâu, đám tì nữ từng lén lút tư tình với bọn chúng cũng kéo nhau rời khỏi nhà, tiếng cười rúc rích lả lơi vang vọng. Khung cảnh ấy khiến Ulysses giận sôi máu. Chàng phân vân, tự hỏi nên chăng vùng dậy kết liễu từng ả ngay tức khắc, hay cứ mặc cho lũ ả tận hưởng nốt đêm cuối cùng bên đám nhân tình đê tiện. Lồng ngực chàng như muốn nổ tung, trái tim gầm gừ thịnh nộ, tựa hồ một con chó mẹ đang cho con bú, nhe nanh gầm gừ đe dọa khi bóng dáng kẻ lạ vô tình bước tới. Chàng uất hận trước những trò đồi bại đang diễn ra ngay trong nhà mình. Nhưng rồi, chàng dùng tay tự đấm mạnh vào ngực và răn dạy: "Trái tim, hãy nằm im! Mi đã từng nếm trải những nỗi đau đớn cùng cực hơn thế, vào cái ngày gã Cyclops hung tợn nhai nuốt những người đồng đội dũng cảm của mi. Dẫu cận kề cái chết, mi vẫn âm thầm nhẫn nhịn cho tới tận khi mưu trí giúp mi toàn mạng thoát khỏi hang sâu."

Chàng tự dặn lòng mình như thế, ép tâm can phải nhẫn nhục. Thế nhưng, chàng vẫn thao thức khôn nguôi. Hệt như người ta nướng một khúc dồi nhồi đầy máu và mỡ trên ngọn lửa hồng rực rỡ cốt sao cho mau chín, chàng cũng xoay trở liên hồi, tâm trí sục sôi tìm kế sách. Làm thế nào một mình chàng, với thân cô thế cô, có thể quét sạch toán người cầu hôn đông đúc và xảo quyệt kia? Đúng lúc ấy, Minerva từ đỉnh trời cao vợi hạ phàm trong nhân ảnh một người phụ nữ. Nàng lơ lửng trên đầu chàng, nhẹ nhàng cất tiếng: “Hỡi con người tội nghiệp vô phúc của ta, cớ sao chàng lại nằm thao thức như thế này? Đây chính là cơ ngơi của chàng: vợ chàng đang bình yên bên trong, và con trai chàng cũng vậy, một chàng trai trẻ mà bất kỳ người cha nào cũng có quyền tự hào.”

“Thưa người,” Ulysses khẽ đáp, “những lời người nói đều thấu tình đạt lý, song lòng con vẫn vương vấn chút e ngại. Con không biết xoay xở ra sao để một mình kết liễu lũ cầu hôn xảo trá ấy, khi chúng lúc nào cũng tụ tập đông đảo quanh đây. Lại còn một hiểm họa khác, thậm chí còn to lớn hơn. Cứ cho rằng nhờ ân điển của cha và người, con thành công tru diệt bọn chúng. Con tha thiết xin người hãy xem xét, con sẽ phải trốn lánh đi đâu để thoát khỏi lưỡi gươm thù hận của những kẻ đến báo oán khi ván cờ tàn?”

“Xấu hổ chưa,” Minerva quở trách, “chà, một kẻ phàm trần bất kỳ nào đó hẳn cũng sẽ vững tin vào đồng minh của mình, cho dù kẻ đó có thấp bé hay kém cỏi hơn ta. Lẽ nào ta không phải là một nữ thần, và lẽ nào ta đã chẳng chở che chàng qua bao thăng trầm bão táp hay sao? Ta nói thẳng cho chàng hay, dẫu có năm mươi toán người gươm giáo sáng ngời bao vây khao khát đoạt mạng chúng ta, chàng vẫn thừa sức cướp sạch cừu và gia súc của chúng, lùa tất thảy đi theo mình. Thôi nào, hãy nhắm mắt lại đi; thức trắng đêm dài là một điều hao tổn tâm trí. Chàng sẽ sớm được giải thoát khỏi mớ bòng bong của mình thôi.”

Nói rồi, nàng gieo giấc mộng êm đềm lên đôi mắt chàng, sau đó vút bay trở về đỉnh Olympus huy hoàng.

Trong khi Ulysses đắm chìm vào giấc ngủ sâu thẳm nhằm làm vơi đi gánh nặng buồn đau, người vợ hiền thục của chàng chợt tỉnh giấc. Nàng ngồi bật dậy trên giường, nức nở khóc. Khi dòng nước mắt đã phần nào xoa dịu nỗi sầu bi, nàng thành tâm cầu nguyện với Diana: “Hỡi nữ thần Diana vĩ đại, con gái của Jove, xin nữ thần hãy bắn một mũi tên vô hình xuyên thấu trái tim con, ban cho con cái chết; hoặc hãy thả một cơn lốc cuồng phong cuốn phăng con đi, băng qua những lối đi tăm tối lạnh lẽo cho đến khi buông con rơi xuống tận miệng sông Oceanus cuồn cuộn sóng trào, hệt như nữ thần đã làm với các con gái của Pandareus. Những người con gái ấy bơ vơ côi cút vì mẹ cha đều đã bị các vị thần tước đoạt sinh mạng. Thế nhưng Venus vẫn dang tay che chở, nuôi dưỡng họ bằng pho mát, mật ong và rượu ngọt. Juno chỉ dạy họ vượt trội hơn mọi phụ nữ về nhan sắc lẫn trí tuệ; Diana ban cho họ dáng vóc uy nghi; còn Minerva phú cho họ muôn vàn tài năng xuất chúng. Nhưng một ngày nọ, khi Venus vừa lên đỉnh Olympus xin Jove ban cho họ những người chồng xứng đáng (bởi ngài tỏ tường mọi vận mệnh tương lai), những cơn bão tố ập đến cuốn phăng họ đi, bắt họ trở thành tì nữ cho các nữ thần Erinyes đáng sợ. Con thiết tha mong ước các vị thần trên cõi thiên đình sẽ giấu nhẹm con khỏi tầm mắt người phàm, hoặc nữ thần Diana xinh đẹp có thể giáng đòn chí mạng xuống con. Bởi con chỉ muốn đi về chốn âm ty buồn bã, cốt sao tâm tư này chỉ hướng về một mình Ulysses, quyết không bao giờ trao thân gửi phận cho một kẻ tồi tệ hơn chàng. Hơn nữa, dù cho nỗi đau buồn ban ngày có cào xé tâm can đến nhường nào, con người ta vẫn có thể cắn răng chịu đựng, miễn là họ có được giấc ngủ bình yên khi đêm về. Khi đôi mắt nhắm nghiền trong mộng mị, mọi điều tốt xấu đều tan biến. Ấy vậy mà sự khốn khổ cứ mãi bám riết lấy con, ám ảnh con cả trong những giấc chiêm bao. Ngay đêm nay, con ngỡ như có một bóng người kề bên, dáng điệu hệt như Ulysses vào cái ngày chàng rời đi cùng đạo quân của mình. Trái tim con đã bừng lên niềm hân hoan tột độ, bởi con cứ ngỡ đó chẳng phải một giấc mơ, mà là một sự thật hiển hiện.”

Lúc bấy giờ rạng đông vừa ló dạng. Ulysses chợt vẳng nghe tiếng than khóc của nàng, điều này khiến tâm trí chàng thoáng chốc bối rối. Cứ ngỡ như nàng đã nhận ra chàng và đang túc trực kề bên. Chàng liền ôm lấy áo choàng cùng những tấm da cừu vừa trải đệm, đặt gọn gàng lên chiếc ghế ngoài hành lang, riêng tấm da bò mộc thì chàng mang ra ngoài trời. Chàng giang rộng hai cánh tay hướng lên không trung, khấn nguyện: “Thưa cha Jove, nếu cha đã thương xót đưa con băng qua đất liền và biển cả, trở về đúng cơ ngơi của mình sau muôn vàn nỗi thống khổ cha từng giáng xuống, xin cha hãy ban cho con một điềm báo từ miệng của một ai đó đang thức giấc trong chính ngôi nhà này, và xin cha hãy cho con một điềm báo khác dưới dạng nào đó từ thế giới bên ngoài.”

Chàng đã thiết tha cầu nguyện như vậy. Jove lắng nghe thấu đáo lời thỉnh cầu của chàng, và ngay tức khắc, một tiếng sấm ầm ĩ vang rền từ trên cao, xuyên qua những đám mây giữa vẻ tráng lệ của đỉnh Olympus. Ulysses vui mừng khôn xiết khi nghe thấy âm thanh đó. Cùng lúc ấy bên trong nhà, từ căn phòng nghiền gần đó, một người thợ cất tiếng, mang đến cho chàng một điềm báo thứ hai. Có tất thảy mười hai nữ thợ đảm nhận nhiệm vụ xay giã lúa mì và lúa mạch, thứ lương thực nuôi sống con người. Những người khác đã giã xong phần việc của mình và về phòng nghỉ ngơi, song riêng người này vẫn miệt mài làm việc vì sức vóc ốm yếu hơn họ. Khi nghe thấy tiếng sấm rền, cô dừng tay chày, đưa ra điềm báo cho vị chủ nhân của mình: “Thưa cha Jove,” cô nói, “cha là người thống trị cả vòm trời và mặt đất bao la, cha vừa làm sấm nổ ngang trời quang mây tạnh, hẳn đây là điềm báo dành cho một ai đó. Xin cha hãy chấp nhận lời cầu nguyện của con, một đầy tớ tội nghiệp đang kêu cầu danh cha. Xin cha hãy biến ngày hôm nay thành ngày cuối cùng bọn cầu hôn được yến tiệc linh đình trong nhà của Ulysses. Chúng đã vắt kiệt sức con bằng công việc giã bột phục vụ chúng. Con hằng mong mỏi chúng sẽ không bao giờ có thêm một bữa ăn nào ở bất kỳ đâu trên thế gian này nữa.”

Ulysses vô cùng hoan hỉ khi nhận được những điềm báo truyền đến chàng qua lời rủa sả của người phụ nữ, và qua tiếng sấm vang rền. Bởi chàng hiểu rõ, chúng minh chứng cho việc chàng sẽ giáng đòn thù đích đáng trả thù bọn cầu hôn.

Lúc bấy giờ, các tì nữ trong cung điện đã thức giấc và bắt đầu nhóm lửa bập bùng trên lò sưởi. Telemachus cũng trở dậy sửa soạn y phục. Cậu vắt thanh gươm báu qua vai, xỏ dép vào đôi chân tuấn tú, rồi nắm chặt ngọn giáo uy dũng với mũi đồng nhọn hoắt. Bước tới ngưỡng cửa hành lang, cậu cất tiếng hỏi Euryclea: "U ơi, u có lo liệu chỗ ngủ và miếng ăn chu đáo cho vị khách lạ không, hay u cứ để mặc ông ấy tự xoay xở? Chẳng giấu gì u, mẹ con tuy là một người phụ nữ đức hạnh, nhưng đôi khi lại bận tâm quá mức đến những kẻ tầm thường mà phớt lờ những người thực sự cao quý hơn."

"Này con, đừng vội buông lời trách móc," Euryclea dịu dàng đáp, "bởi chẳng có ai ở đây đáng bị chê trách cả. Người khách lạ cứ ngồi thưởng rượu cho đến tận lúc ông ấy muốn nghỉ. Mẹ con có ngỏ ý mời thêm bánh mì nhưng ông ấy đã chối từ. Đến lúc ông ấy ngỏ ý muốn chợp mắt, mẹ con liền sai nữ tì dọn sẵn một chiếc giường êm ái. Thế nhưng, ông ấy lại nói mình chỉ là một kẻ lang thang khốn khổ, chẳng dám mơ tưởng đến giường cao nệm ấm. Ông ấy nằng nặc đòi trải một tấm da bò mộc cùng vài tấm da cừu ngay ngoài hành lang, và chính tay u đã đắp cho ông ấy một chiếc áo choàng."

Nghe vậy, Telemachus sải bước băng qua khoảng sân, tiến về nơi những người Achaean đang tụ họp. Tay cậu vác ngọn giáo, và hai chú chó săn trung thành luôn túc trực theo gót chủ. Cùng lúc đó, Euryclea hối thúc đám tì nữ: "Lại đây, mau dậy đi thôi! Hãy mau chóng quét dọn các hành lang, rảy nước cho đỡ bụi, rồi phủ khăn trải lên những dãy ghế ngồi. Các cô kia, mau lấy bọt biển ướt lau cho sạch bong mấy chiếc bàn. Rửa sạch các bình pha rượu cùng ly chén, rồi tức tốc ra đài phun nước lấy nước về đây. Bọn cầu hôn sắp sửa kéo tới nơi rồi, hôm nay là ngày lễ, chắc chắn chúng sẽ đến sớm hơn mọi ngày."

Nhũ mẫu vừa dứt lời, đám tì nữ răm rắp làm theo. Hai mươi người thoăn thoắt ra đài phun nước, trong khi những người còn lại tất bật dọn dẹp khắp gian nhà. Những gia nhân phục dịch bọn cầu hôn cũng đã tới và bắt đầu chẻ củi. Trông chốc lát, đám phụ nữ đi lấy nước đã trở về, theo sau họ là người chăn lợn dẫn tới ba con lợn béo tốt nhất đàn. Thả lợn ăn quanh quẩn trong sân, anh ta tiến đến bên Ulysses và cất giọng ân cần hỏi han: "Ông lão, bọn cầu hôn có đối đãi với ông khá hơn chút nào không, hay chúng vẫn giữ thói xấc xược như mọi bận?"

"Cầu xin thần linh," Ulysses trầm ngâm đáp lại, "trừng phạt lũ người tàn ác ấy vì những thói ngông cuồng, hách dịch ngay trong dinh thự của người khác mà chẳng hề mảy may biết đến nỗi nhục nhã."

Giữa lúc hai người đang trò chuyện, gã chăn dê Melanthius bước tới. Hắn đang dắt theo những con dê ngon nhất để dâng lên bàn tiệc của bọn cầu hôn, cùng đi với hai gã chăn cừu. Sau khi cột bầy dê ngay dưới cổng, Melanthius bắt đầu buông lời mỉa mai Ulysses: "Lão vẫn còn vác mặt ở đây à, lão ăn mày? Cứ lảng vảng quanh nhà xin xỏ để làm phiền người khác sao? Sao lão không cút đi chỗ khác? Chắc ta với lão khó mà nói chuyện tử tế với nhau nếu chưa cho nhau nếm mùi nắm đấm. Lão đi xin ăn mà chẳng biết liêm sỉ là gì: khắp xứ Achaean này hết chỗ tiệc tùng rồi hay sao mà lão cứ phải chui rúc ở đây?"

Ulysses không đáp lời, chỉ lặng lẽ cúi đầu ngẫm ngợi. Ngay sau đó, người thứ ba là Philoetius nhập bọn, dắt theo một con bò cái tơ chưa đẻ cùng vài con dê. Những con vật này được đám lái đò chuyên chở khách qua lại đưa sang. Philoetius cẩn thận buộc chặt con bò cái và bầy dê dưới cổng rồi rảo bước tiến về phía người chăn lợn: "Bác chăn lợn ơi, vị khách lạ mới đến này là ai vậy? Ông ấy có phải là người quen của bác không? Lai lịch thế nào, từ đâu đến? Thật tội nghiệp, dáng vẻ của ông ấy trông như một bậc vĩ nhân sa cơ lỡ bước. Suy cho cùng, thần linh cứ gieo rắc bi thương cho bất cứ ai họ muốn-thậm chí là với những bậc quân vương, nếu điều đó làm họ vừa ý."

Vừa dứt lời, anh ta tiến lại gần Ulysses và đưa tay phải ra chào hỏi: "Kính chào cụ, vị khách lạ đường xa! Cụ đang phải chịu cảnh túng quẫn lúc này, nhưng tôi hi vọng những ngày tháng tốt đẹp hơn sẽ đến với cụ. Ôi, thưa cha Jove tối cao, trong tất thảy các vị thần, ngài là đấng tàn nhẫn nhất! Chúng con là con cái của ngài, vậy mà ngài chẳng mảy may đoái hoài xót thương trước muôn vàn khốn cùng và đớn đau của chúng con. Vừa trông thấy người đàn ông này, tôi đã toát mồ hôi hột, hai mắt nhòe lệ vì nhớ đến đức vua Ulysses. Tôi e rằng ngài ấy cũng đang lang thang rảo bước trong bộ dạng rách rưới tả tơi hệt như thế này, nếu quả thực ngài vẫn còn tại thế. Nếu ngài đã khuất núi và bước chân xuống địa ngục của Hades, thì ôi chao, thật bất hạnh cho người chủ nhân tốt bụng của tôi! Ngài đã tin tưởng giao cho tôi trọng trách chăn bò từ thuở tôi còn là một chàng trai trẻ giữa những người Cephallenian1. Giờ đây đàn gia súc của ngài đã sinh sôi đông đúc không sao đếm xuể; chẳng ai có thể chăm chút chúng tốt hơn tôi, bởi chúng nảy nở như những bông lúa trĩu hạt. Thế nhưng tôi vẫn phải tự tay dắt chúng đến phục vụ bữa ăn cho những kẻ khác. Lũ người ấy chẳng hề e dè cậu con trai ngài dù cậu ấy luôn ở trong nhà, cũng chẳng sợ cơn thịnh nộ của thần linh giáng xuống. Bọn chúng ngày đêm hăm hở xâu xé tài sản của Ulysses chỉ vì ngài vắng mặt quá lâu. Tôi đã nhiều lần nung nấu ý định-dẫu biết điều đó là sai trái khi con trai ngài còn sống-sẽ lùa cả đàn gia súc trốn sang một vùng đất xa lạ. Dù cho quyết định ấy có tồi tệ đến mấy, thì vẫn còn dễ thở hơn là nán lại đây chịu đựng sự ngược đãi trong chính bầy gia súc của người khác. Hoàn cảnh này quả thật quá sức chịu đựng, đáng lẽ tôi đã rũ áo ra đi từ lâu để nương nhờ một vị thủ lĩnh khác, thế nhưng tôi vẫn nán lại chỉ vì giữ mãi một niềm tin rằng người chủ đáng thương của tôi rồi sẽ quay về, quét sạch lũ cầu hôn đốn mạt kia ra khỏi mái nhà này."

"Anh bạn chăn bò," Ulysses điềm tĩnh đáp lại, "anh quả là một người tốt bụng và thấu tình đạt lý. Do vậy, tôi sẽ nói cho anh biết một điều, và lấy lời thề để minh chứng. Nhân danh Jove, đấng cai trị của mọi vị thần, và nhân danh ngọn lửa trên bếp nhà Ulysses nơi tôi đang đứng, Ulysses chắc chắn sẽ trở về trước khi anh rời khỏi nơi này. Và nếu anh muốn, chính mắt anh sẽ chứng kiến ngài trừng trị thích đáng bọn cầu hôn đang hống hách làm chủ nơi đây."

"Nếu Jove thực sự biến điều đó thành hiện thực," người chăn bò quả quyết, "cụ sẽ thấy tôi dốc hết sức mình phò tá ngài ấy ra sao."

Bên cạnh anh ta, Eumaeus cũng cất lời thành tâm cầu nguyện thần linh mang Ulysses sớm ngày hồi hương.

Họ cứ thế chuyện trò với nhau. Trong khi đó, đám người cầu hôn lại đang rắp tâm ủ mưu ám sát Telemachus; bỗng một điềm gở xuất hiện bên phía tay trái chúng-một con đại bàng sải cánh bay qua, móng vuốt cắp chặt một con chim bồ câu. Thấy vậy, Amphinomus liền lên tiếng: "Thưa các anh em, mưu đồ ám sát Telemachus của chúng ta chẳng thể thành công đâu; chi bằng tất cả hãy cùng vào dùng bữa."

Cả bọn nghe vậy đều ưng thuận, thế là chúng bước vào trong, cởi áo choàng vắt lên các băng ghế và chỗ ngồi. Chúng hiến tế cừu, dê, lợn cùng những con bò cái tơ; đợi đến lúc những miếng thịt nội tạng chín tới, chúng liền dọn ra vòng quanh. Rượu được pha sẵn trong các vò lớn; người chăn lợn ân cần trao tận tay mỗi người chiếc cốc của mình, trong khi Philoetius chia bánh mì từ trong giỏ ra, còn Melanthius thì đon đả rót rượu. Thế rồi, chúng bắt đầu nhúng tay vào những món ngon vật lạ vừa được bày biện.

Telemachus cố ý xếp cho Ulysses ngồi ở phía hành lang lát đá; cậu dọn cho ông một chỗ ngồi tồi tàn bên chiếc bàn nhỏ riêng biệt, rồi sai người mang thịt nội tạng và một chiếc cốc vàng rót đầy rượu tới. Cậu dõng dạc nói: "Ngài hãy ngồi đó và nhâm nhi chén rượu giữa những con người quyền quý này. Chính tôi sẽ đứng ra dẹp bỏ những lời chế nhạo cùng những đòn roi bạo ngược của đám người cầu hôn, bởi nơi đây chẳng phải là một quán rượu ven đường, mà là dinh cơ thuộc về Ulysses, và giờ đã được truyền lại cho tôi. Vậy nên, hỡi các vị cầu hôn, các vị hãy giữ chặt đôi tay và cái lưỡi của mình, bằng không, rắc rối sẽ giáng xuống đấy."

Đám cầu hôn cắn chặt môi, sững sờ trước những lời lẽ táo bạo của vị chủ nhân trẻ tuổi. Sau đó, Antinous hằn học nói: "Dẫu chẳng lọt tai với những lời lẽ như vậy, nhưng chúng ta đành phải cam chịu thôi, vì Telemachus đang thực sự buông lời đe dọa chúng ta vô cùng nghiêm túc. Phải chi thần Jove cho phép, lẽ ra chúng ta đã chặn đứng những lời hùng hồn của cậu ta từ lâu rồi."

Antinous cứ nói như thế, song Telemachus chẳng thèm bận tâm đến hắn. Cùng lúc ấy, các sứ giả đang mang những lễ vật thiêng liêng rước qua khắp thành phố, còn những người Achaean thì đang tụ tập dưới bóng cây râm mát của thần Apollo.

Sau đó, họ nướng phần thịt bên ngoài, tuốt ra khỏi xiên, chia phần cho từng người rồi bắt đầu tận hưởng bữa tiệc thỏa thuê; những người phục vụ bàn ăn cũng dọn cho Ulysses một phần y hệt như những người khác, đúng theo những gì Telemachus đã căn dặn.

Tuy nhiên, nữ thần Minerva chẳng hề muốn để bọn cầu hôn từ bỏ thói ngạo mạn xấc xược dù chỉ một khắc, bởi nàng muốn thổi bùng ngọn lửa căm hận trong lòng Ulysses lên cao hơn nữa. Giữa đám tiệc lúc ấy, tình cờ có một gã thô lỗ tên là Ctesippus, người vùng Same. Dựa dẫm vào khối tài sản kếch xù, gã buông lời tán tỉnh vợ của Ulysses, rồi quay sang lớn tiếng với bọn cầu hôn: "Các vị hãy nghe những gì tôi nói đây. Người khách lạ này đã được chia phần ăn lớn chẳng kém bất kỳ ai; như vậy cũng tốt, bởi ngược đãi bất kỳ vị khách nào được Telemachus rước về đây là điều trái ngang và phi lý. Tuy nhiên, tôi cũng sẽ tự bỏ tiền túi tặng cho ông ta một món quà, để ông ta có chút gì đó mà ban thưởng cho người đàn bà tắm rửa, hoặc cho một người hầu nào đó của Ulysses."

Vừa dứt lời, gã nhặt ngay một chiếc chân bò cái tơ từ giỏ thịt gần đó rồi ném thẳng vào Ulysses, nhưng ngài đã kịp nghiêng đầu né tránh, khóe môi khẽ nở một nụ cười lạnh lẽo đầy khinh miệt theo kiểu người Sardinia2; thế là chiếc chân bò trượt mục tiêu, đập mạnh vào tường. Telemachus phẫn nộ tột độ, trút cơn thịnh nộ lên Ctesippus: "Thật may cho mi," cậu quát, "rằng người khách lạ đã kịp nghiêng đầu để mi ném trượt. Nếu mi mà đánh trúng ông ấy, ta thề sẽ phóng ngọn giáo xuyên qua người mi, và cha mi sẽ phải lo sắm sửa đám tang chứ chẳng phải lo đám cưới cho mi trong ngôi nhà này đâu. Thế nên, hãy để ta không còn phải chứng kiến bất cứ hành vi vô lễ nào từ bất kỳ ai trong các vị nữa, bởi ta nay đã khôn lớn để thấu rõ điều thiện, lẽ ác và tường tận mọi chuyện đang diễn ra, chứ chẳng còn là một đứa trẻ như ngày trước. Đã từ lâu, ta phải nhẫn nhịn nhìn các người tàn sát bầy cừu và vung vãi lúa mì, rượu vang của ta, bởi một mình ta chẳng thể chống lại số đông, nhưng đừng hòng giở thêm trò bạo lực nào với ta nữa. Tuy vậy, nếu các người muốn đoạt mạng ta, thì cứ việc ra tay; ta thà chết còn hơn là ngày qua ngày phải chứng kiến những cảnh tượng nhơ nhuốc thế này-khách khứa thì bị lăng nhục, còn những kẻ đàn ông thì trơ trẽn vồ vập các nữ tì lảng vảng quanh nhà."

Cả bọn nghe vậy đều im bặt, cho đến khi Agelaus con trai của Damastor cất tiếng xoa dịu: "Chẳng ai nên tức giận hay chối bỏ những lời vừa rồi, bởi đó hoàn toàn là lẽ đương nhiên. Vậy nên, xin đừng ngược đãi vị khách lạ này, hay bất kỳ người hầu nào trong ngôi nhà này nữa; tuy nhiên, tôi muốn dành một lời chân thành gửi tới Telemachus và mẫu thân cậu, một lời khuyên mà tôi hy vọng cả hai sẽ ưng thuận. ‘Chừng nào,’ tôi muốn nói, ‘mà cậu vẫn còn ôm ấp hy vọng về một ngày Ulysses quay về, thì sẽ chẳng có ai dám phàn nàn việc cậu kiên nhẫn chờ đợi và cam chịu sự hiện diện của bọn cầu hôn trong nhà mình. Giá như ngài ấy trở về thì tốt biết mấy, nhưng giờ đây, mọi sự đã quá rõ ràng rằng ngài ấy sẽ chẳng bao giờ làm được điều đó; thế nên, cậu hãy nhẹ nhàng khuyên giải mẹ mình, thuyết phục bà bước thêm bước nữa với người đàn ông xuất chúng nhất, cũng là người dâng lên những sính lễ hậu hĩnh nhất. Có như vậy, cậu mới yên tâm cai quản tài sản thừa kế của riêng mình, và được tận hưởng bữa tiệc trong cảnh thái bình, còn mẹ cậu sẽ rảo bước đi chăm lo cho tổ ấm của một người đàn ông khác, chứ chẳng phải của cậu nữa.’"

Telemachus dõng dạc đáp lời: "Nhờ thần Jove chứng giám, thưa anh Agelaus, và nhân danh những nỗi buồn đau của người cha bất hạnh của tôi, người đã bỏ mạng nơi đất khách quê người, hay đang lang bạt ở một chân trời xa xôi nào đó, tôi chẳng bao giờ cản bước chuyện tái giá của mẹ tôi; trái lại, tôi còn hết lòng thúc giục bà hãy chọn lấy bất cứ ai bà ưng ý, và tôi nguyện sẽ dâng tặng thêm vô vàn của cải, nhưng tôi không dám tàn nhẫn cưỡng ép bà phải rời khỏi ngôi nhà này trái với mong muốn của chính mình. Cầu xin các đấng bề trên đừng bắt tôi phải làm cái điều cay nghiệt ấy."

Lúc này, nữ thần Minerva giáng xuống bọn cầu hôn một trận cười vô độ, làm cho tâm trí chúng trở nên mụ mẫm; nhưng đó chỉ là những điệu cười gượng gạo, méo mó. Những miếng thịt chúng ăn bỗng đầm đìa máu tươi, hốc mắt chúng ứa lệ, và trái tim chúng oằn nặng dưới những linh cảm chẳng lành. Thấy vậy, nhà tiên tri Theoclymenus bèn cất tiếng: "Hỡi những kẻ bất hạnh, chuyện gì đang bủa vây các người vậy? Có một bức màn tăm tối đang trùm lấp các người từ đầu đến chân. Má các người giàn giụa nước mắt; không gian đặc quánh những tiếng khóc than; những bức tường và xà nhà rỏ máu tòng tọc; ngoài kia, cổng hành lang và khoảng sân chật ních những bóng ma đang lũ lượt kéo nhau xuống cõi địa ngục tăm tối. Mặt trời đã bị xóa sổ khỏi vòm trời, và một luồng chướng khí u ám, chết chóc đang bủa vây khắp xứ sở."

Nhà tiên tri dứt lời, cả bọn lại được thể phá lên cười ồ. Tên Eurymachus bèn giễu cợt: "Gã khách lạ mới đến này điên thật rồi. Bọn hầu đâu, các ngươi mau tống cổ hắn ra ngoài đường, vì hắn chê ở đây quá tối tăm."

Nhưng Theoclymenus đanh thép đáp lời: "Này Eurymachus, ngươi chẳng việc gì phải sai kẻ nào hộ tống ta. Ta có đủ mắt, đủ tai, có đôi chân của riêng ta, và cả một trí tuệ tỏ tường mọi nhẽ. Ta sẽ tự mình mang chúng rời khỏi ngôi nhà này, bởi ta đã tận mắt thấy một tai họa giáng xuống đầu các ngươi. Không một kẻ nào trong số các ngươi - những kẻ dám cả gan lăng mạ khách khứa và rắp tâm ủ mưu hèn kế bẩn trong dinh thự của Ulysses - có thể trốn thoát được."

Nói đoạn, ông quay gót bước khỏi dinh thự, trở về tá túc nơi Piraeus - người đã rộng lòng chào đón ông. Nhưng bọn cầu hôn lại đưa mắt nhìn nhau, buông lời bỡn cợt khách khứa để chọc tức Telemachus. Một gã xấc xược trong đám mỉa mai: "Telemachus, cậu xui xẻo với những vị khách của mình quá nhỉ; đầu tiên thì rước về cái lão lang thang phiền phức, chỉ biết ngửa tay xin xỏ bánh mì và rượu nho, chẳng thạo việc gì mà cũng chẳng biết đánh đấm, đúng là một kẻ vô dụng, nay lại tòi đâu ra thêm một gã tự phong làm nhà tiên tri. Nghe tôi khuyên này, tốt nhất là tống cổ bọn họ lên thuyền, chở đến chỗ người Sicel3 mà bán, họa may còn gỡ gạc được chút đỉnh."

Telemachus bỏ ngoài tai những lời xấc xược ấy, chỉ lẳng lặng hướng ánh mắt về phía cha mình, nín thở chờ đợi khoảnh khắc ông ra tay trừng trị đám cầu hôn.

Trong khi ấy, con gái của Icarius - nàng Penelope khôn ngoan - đã cho dọn một chiếc ghế lộng lẫy hướng thẳng ra sân và các hành lang, cốt để lắng nghe trọn vẹn những gì bọn chúng đang bàn tán. Bữa yến tiệc quả thực đã được dọn ra giữa những tiếng cười đùa huyên náo; cỗ bàn vừa ê hề vừa thịnh soạn, bởi chúng đã giết thịt vô số súc vật. Nhưng bữa ăn khuya hãy còn phía trước, và trên đời này chẳng có cỗ bàn nào khủng khiếp hơn bữa ăn mà một vị nữ thần và một người đàn ông quả cảm sắp sửa bày ra trước mắt chúng-bởi chính chúng đã tự chuốc lấy sự diệt vong cho mình.



  1. Cephallenian là tên gọi chung cho những người dân sinh sống trên các hòn đảo thuộc vương quốc của Ulysses, bao gồm cả đảo Ithaca. 

  2. Người Hy Lạp cổ đại truyền tai nhau về một loại cây độc ở đảo Sardinia (thuộc Ý ngày nay). Người ăn phải cây này sẽ co giật cơ mặt tạo thành một nụ cười quái gở trước khi chết. Từ đó, nụ cười kiểu Sardinia (Sardonic smile) dùng để chỉ nụ cười gượng gạo, chua chát hoặc mỉa mai, khinh bỉ. 

  3. Sicel là một bộ tộc cổ đại sinh sống ở đảo Sicily (Ý). Trong thời kỳ này, họ thường được nhắc đến liên quan đến các hoạt động buôn bán nô lệ.