🎧 Nghe chương này

QUYỂN XIV

ULYSSES TRONG TÚP LỀU VỚI EUMAEUS.

Ulysses lúc này đã rời bến cảng, men theo con đường mòn gồ ghề vắt qua vùng đồng quê rậm rạp và vượt lên đỉnh núi. Ông hướng tới nơi nữ thần Minerva chỉ lối để tìm gặp người chăn lợn, người đầy tớ trung thành và tằn tiện nhất mà ông từng có. Ông thấy anh đang ngồi trước túp lều, bên cạnh khoảng sân rộng anh tự tay dựng lên trên một thế đất cao, phóng tầm mắt bao quát cả một vùng. Anh đã xây cất nơi ấy thật rộng rãi và khang trang, chừa hẳn một khoảng không tự do cho bầy lợn chạy nhảy. Công trình ấy được anh làm trong những tháng năm ròng rã chủ nhân vắng bóng, nhặt nhạnh từng hòn đá trên mặt đất mà chẳng hề nói nửa lời với Penelope hay Laertes. Bên trên, anh rào chắn cẩn thận bằng những bụi gai góc. Vòng ngoài sân, anh dựng một hàng rào kiên cố từ những cọc gỗ sồi vót nhọn, đóng san sát nhau. Còn bên trong, anh dựng mười hai chuồng kề sát nhau làm nơi nghỉ ngơi cho bầy lợn nái. Mỗi chuồng có tới năm mươi con lợn nái giống đầm mình nằm ườn. Lợn đực thì ngủ bên ngoài, số lượng ít hơn hẳn, bởi đám người cầu hôn không ngừng giết mổ ăn thịt, còn người chăn lợn thì cứ phải liên tục cắn răng chọn những con ngon nhất dâng nộp cho chúng. Tổng cộng có ba trăm sáu mươi con lợn đực, được canh chừng bởi bốn con chó săn hung dữ như sói do chính anh nuôi nấng, lúc nào cũng nằm chầu bên cạnh. Lúc này, người chăn lợn đang thoăn thoắt cắt một đôi dép từ miếng da bò to và dày. Ba người làm của anh đang tản đi chăn lợn ở quanh vùng, còn người thứ tư thì anh đã phái xuống thị trấn, mang theo một con lợn đực béo tốt mà anh buộc phải cống nạp để những kẻ cầu hôn có thể hiến tế rồi ăn uống no say.

Khi trông thấy Ulysses, lũ chó săn liền sủa ầm ĩ rồi nhe nanh lao xổ vào ông. Ulysses đủ kinh nghiệm để từ từ ngồi thụp xuống và vứt bỏ cây gậy đang cầm. Dẫu vậy, ông hẳn đã bị chúng xé xác ngay trong trang trại của chính mình nếu người chăn lợn không kịp vứt vội miếng da bò đang cầm trên tay, lao như bay qua cổng lều, vừa la hét vừa nhặt đá ném tới tấp để đuổi lũ chó đi. Sau đó, anh quay sang nói với Ulysses: "Ông lão, suýt chút nữa thì bầy chó đã kết liễu mạng sống của ông, và rồi ông sẽ khiến tôi chuốc lấy rắc rối. Các vị thần đã giáng xuống đầu tôi quá đủ mọi phiền muộn rồi, chẳng cần thêm chuyện này nữa đâu. Tôi đã mất đi một người chủ vĩ đại nhất, và lúc nào cũng chìm trong nỗi đau đáu vì ông ấy. Tôi phải nai lưng chăm bẵm bầy lợn cho kẻ khác ăn thịt, trong khi chủ nhân tôi, nếu vẫn còn sống để thấy ánh mặt trời, thì có lẽ đang lay lắt chết đói ở một vùng đất xa xôi vô danh nào đó. Nhưng xin mời ông vào trong. Đợi khi ông ăn bánh mì và uống rượu vang thỏa thuê, hãy nói cho tôi biết ông từ đâu đến, và kể cho tôi nghe mọi nỗi bất hạnh của ông."

Ngay lập tức, người chăn lợn đi trước dẫn đường đưa khách vào lều rồi mời ông ngồi xuống. Anh chu đáo rải một lớp cỏ sậy thật dày làm đệm êm, rồi ném lên đó một tấm da sơn dương bờm xờm-tấm da lớn dầy dặn mà anh vẫn thường đắp ngủ mỗi đêm. Được tiếp đón ân cần như vậy, Ulysses xiết bao vui mừng và lên tiếng: "Thưa anh, cầu xin thần Jove cùng chư thần ban cho anh mọi điều mong ước, để đền đáp tấm lòng thảo thơm anh vừa dành cho tôi."

Nghe vậy, hỡi người chăn lợn Eumaeus, anh đáp lời: "Thưa ông, cho dù có một người nghèo khổ hơn nữa bước đến nơi này, tôi cũng không bao giờ có ý xem thường. Bởi mọi người lạ và những kẻ ăn xin đều là sứ giả của thần Jove đưa tới. Có bao nhiêu ông hãy cứ nhận lấy và coi đó là tấm lòng thành, bởi những kẻ phận tôi tớ như chúng tôi lúc nào cũng sống trong nơm nớp lo sợ khi phải hầu hạ những vị chúa trẻ tuổi hống hách. Sự thể bất hạnh của tôi lúc này là vậy, vì bầu trời đã che khuất lối về của người chủ luôn đối đãi tử tế với tôi. Người ấy từng ban cho tôi một chút cơ đồ-một nếp nhà, một mảnh đất cắm dùi, một người vợ hiền thục, và tất thảy những gì một người chủ hào hiệp có thể ban tặng cho kẻ tôi tớ đã vắt kiệt sức lực vì mình, kẻ được các vị thần rủ lòng thương ban phước lành cho công việc như tôi hiện tại. Nếu chủ nhân tôi còn ở lại đây để hưởng tuổi già, hẳn ông ấy đã cất nhắc cho tôi biết bao điều tốt đẹp. Nhưng ông ấy đã đi mất rồi, nên tôi chỉ ao ước sao cho cả dòng giống của ả Helen kia lụi tàn không còn một mống, bởi ả ta chính là căn nguyên cướp đi sinh mạng của biết bao con người đức độ. Chính vì sự vụ ấy mà chủ nhân tôi phải cất bước tới Ilius, miền đất của những chiến mã kiêu hùng, để tử chiến với quân Trojan vì nghĩa khí của vua Agamemnon."

Nói đoạn, anh thắt chặt dây lưng rồi thoăn thoắt đi về phía những chuồng lợn đang nhốt bầy lợn con còn ngậm vú mẹ. Anh lựa bắt hai con, mang về làm vật hiến tế. Anh thui chín, mổ thịt rồi xiên chúng lại. Khi thịt vừa chín tới, anh mang tất cả vào lều, dọn ra trước mặt Ulysses khi những xiên thịt vẫn còn nóng hôi hổi, rồi rắc lên chút bột lúa mạch trắng ngần. Tiếp đó, người chăn lợn rót rượu vang pha sẵn vào chiếc bát gỗ chạm khắc dây thường xuân, tự mình ngồi đối diện Ulysses và nài nỉ ông bắt đầu dùng bữa.

"Xin mời ông dùng thử món thịt lợn của kẻ tôi tớ này," anh nói. "Những con lợn béo mập thì phải cống nạp cho đám người cầu hôn kia, những kẻ ăn thịt chúng mà không hề biết trơ trẽn hay e dè. Nhưng các vị thần trên cao chẳng bao giờ dung túng cho những hành vi đáng xấu hổ, mà chỉ tôn vinh những ai hành xử ngay thẳng, hợp lẽ đạo. Ngay cả những băng cướp hung tợn đi cướp bóc xứ người, dù có được thần Jove ban cho chiến lợi phẩm đầy ắp tàu và khải hoàn trở về, trong thâm tâm họ vẫn bị cắn rứt lương tâm và sống trong nỗi sợ hãi ngày phán xét. Thế nhưng, có vị thần nào đó dường như đã rỉ tai với bọn người này rằng Ulysses đã chết và sẽ không bao giờ trở lại. Vậy nên, chúng chẳng chịu trở về nhà riêng mà đường hoàng ngỏ lời cầu hôn theo lẽ thường, thay vào đó lại ỷ thế dùng vũ lực vơ vét, phung phí tài sản của ông ấy một cách không gớm tay. Chẳng có ngày hay đêm nào trôi qua dưới vòm trời này mà chúng không làm thịt một hoặc hai vật hiến tế, chưa kể việc nốc cạn rượu vang của ông ấy, bởi gia tài nhà này vô cùng đồ sộ. Trên khắp mảnh đất Ithaca hay dải đất liền quanh đây, chẳng một bậc vĩ nhân nào có thể sánh kịp sự giàu có của ông ấy; tài sản của ông ấy phải bằng hai mươi người gộp lại. Để tôi kể cho ông nghe những gì ông ấy có. Trên đất liền, ông ấy có mười hai đàn gia súc, và cũng ngần ấy đàn cừu, mười hai đàn lợn, trong khi bầy người làm và những người chăn thuê phải rong ruổi chăm sóc mười hai đàn dê rộng lớn. Ngay tại Ithaca này, ông ấy thậm chí còn thả nuôi những đàn dê quy mô ở cực bên kia hòn đảo, giao cho những người chăn dê xuất sắc nhất cai quản. Mỗi ngày, họ đều phải nộp cho đám người cầu hôn con dê béo tốt nhất trong bầy. Về phần tôi, tôi quản lý đàn lợn mà ông thấy ở đây, và cũng phải cắn răng lựa con lợn ngon nhất gửi nộp cho chúng."

Anh cứ thế tuôn trào tâm sự, còn Ulysses thì lặng lẽ ăn uống ngấu nghiến, chẳng thốt một lời, ủ mưu chờ ngày phục hận. Khi đã no bụng và thỏa mãn, người chăn lợn tiện tay lấy chiếc bát mình hay dùng, rót đầy rượu vang dâng cho Ulysses. Cầm bát rượu trên tay, ông khấp khởi mừng thầm và lên tiếng hỏi: "Thưa anh, vị chủ nhân đã mua và trả công cho anh, một người giàu có và quyền lực như anh vừa kể, thực sự là ai? Anh nói rằng ông ấy đã bỏ mạng vì nghĩa khí của vua Agamemnon; xin hãy nói cho tôi biết tên ông ấy, biết đâu tôi đã từng tao ngộ một con người như vậy. Chỉ thần Jove và các chư thần mới tường tận mọi việc, nhưng tôi có thể mang đến cho anh chút tin tức về ông ấy, bởi tôi đã chu du qua biết bao dặm đường."

Eumaeus thở dài đáp lại: "Thưa ông, dẫu có lữ khách nào mang tin tức tới đây, vợ và con trai của Ulysses cũng chẳng mảy may tin vào những lời thêu dệt ấy. Những kẻ lang bạt xin ăn vẫn không ngừng gõ cửa nơi đây, mồm mép rặt những lời dối trá, cấm có một lời nào là sự thực. Bất kỳ ai lạc bước đến Ithaca đều tìm gặp phu nhân của tôi và bịa ra vô vàn câu chuyện, để rồi bà ấy lại tiếp đãi, lo toan và hỏi han đủ điều, nước mắt lưng tròng như mọi góa phụ xót thương chồng. Ngay cả ông nữa, thưa ông, chỉ vì muốn đổi lấy một chiếc áo sơ mi hay áo choàng, chắc hẳn ông cũng sẽ dệt nên một câu chuyện êm tai không kém. Nhưng bầy sói đói và lũ chim cắt từ lâu đã xé xác Ulysses, hoặc bầy cá biển đã rỉa sạch thịt ông ấy, và nắm xương tàn giờ đang vùi sâu dưới lớp cát lạnh lẽo trên một bờ biển xa xăm nào đó. Ông ấy đã chết và mãi mãi ra đi, để lại một nỗi mất mát tột cùng cho tất cả bằng hữu-và đặc biệt là cho tôi. Dù có phiêu bạt tới đâu, tôi cũng sẽ chẳng bao giờ tìm được một người chủ tốt bụng như thế, kể cả khi tôi có quay về cố hương sum vầy cùng cha mẹ, nơi tôi đã cất tiếng khóc chào đời. Giờ đây, tôi không còn màng quá nhiều đến đấng sinh thành, dù tận sâu thẳm vẫn khát khao được gặp lại họ ở quê nhà; chính sự vắng bóng của Ulysses mới là điều cào xé tâm can tôi nhất. Tôi không thể thốt tên ông ấy mà thiếu đi sự tôn kính dù ông ấy chẳng còn ở đây, bởi ông ấy thương tôi sâu đậm, chăm lo cho tôi ân cần đến mức dù ông ấy ở nơi đâu, tôi sẽ mãi mãi tôn thờ ký ức về ông ấy."

"Thưa anh," Ulysses đáp lại, "anh thật quả quyết, và một mực hoài nghi việc chủ nhân của anh sẽ trở về nhà. Tuy nhiên, tôi không chỉ nói suông, mà tôi xin thề rằng ông ấy đang trên đường trở lại. Đừng trả cho tôi bất cứ thứ gì cho đến khi tin báo của tôi thành sự thực, và chỉ lúc ấy ông ấy thực sự xuất hiện, anh mới cần tặng tôi một chiếc áo sơ mi và áo choàng tốt nếu anh muốn. Dù tôi đang lâm vào cảnh bần hàn cùng cực, tôi quyết không nhận lấy một mảy may thứ gì trước thời điểm ấy, bởi tôi khinh bỉ thứ người-khinh bỉ như ngọn lửa địa ngục-để cho cái đói nghèo cám dỗ mình thốt ra những lời dối trá. Tôi thề nhân danh vua Jove vĩ đại, nhân danh các nghi thức hiếu khách linh thiêng, và nhân danh lò sưởi ấm áp của Ulysses mà tôi vừa đặt chân đến, rằng tất thảy những gì tôi nói nhất định sẽ ứng nghiệm. Ulysses sẽ trở về ngay trong năm nay thôi. Vào thời khắc cuối tháng này chuyển giao sang đầu tháng tới, ông ấy sẽ hiện diện ở đây để giáng đòn thù lên tất thảy những kẻ đang đoạ đày vợ con ông."

Nghe vậy, hỡi người chăn lợn Eumaeus, anh đáp lời: "Ông lão ơi, ông sẽ chẳng nhận được phần thưởng nào cho thứ tin tốt lành đó đâu, và Ulysses cũng sẽ vĩnh viễn chẳng bao giờ bước chân về nhà nữa. Hãy cứ yên tâm thưởng thức rượu vang, và chúng ta hãy chuyển sang câu chuyện khác đi. Đừng gợi lại những chuyện này nữa; mỗi lần có ai nhắc đến người chủ đáng kính của tôi là lòng tôi lại quặn thắt. Còn về lời thề của ông, chúng ta hãy cứ gác lại, dù trong thâm tâm tôi cũng mong mỏi khôn cùng ngày ông ấy trở về, giống như phu nhân Penelope, như lão phụ Laertes và người con trai Telemachus của ông ấy. Tôi cũng xót xa tột độ cho đứa con trai của ông ấy; cậu bé đang lớn bổng thành một chàng trai, hứa hẹn một dung mạo và vóc dáng xuất chúng chẳng kém gì cha mình. Nhưng có một thế lực nào đó, thần linh hay phàm nhân, đã làm nhiễu loạn tâm trí cậu, xui khiến cậu cất bước tới Pylos hòng dò la tin tức về người cha. Lũ người cầu hôn thì đang mai phục trên đường về, rắp tâm xóa sổ cái tên cuối cùng của dòng họ Arceisius khỏi mảnh đất Ithaca. Nhưng thôi, chúng ta hãy không bàn về cậu ấy nữa, cứ phó mặc xem cậu ấy có bị sập bẫy hay không, hoặc biết đâu sẽ thoát thân nếu con trai thần Saturn giang tay che chở. Còn bây giờ, ông lão, hãy kể cho tôi nghe câu chuyện của chính ông. Tôi rất muốn biết ông là ai và ông đến từ phương trời nào. Hãy kể cho tôi nghe về quê hương và song thân của ông, ông đã lên con tàu nào, thủy thủ đoàn đã đưa ông cập bến Ithaca ra sao, và họ tự xưng là người xứ nào-bởi lẽ ông chẳng thể nào đến đây bằng đường bộ."

Và Ulysses cất lời đáp: "Tôi sẽ kể cho anh nghe tường tận mọi điều. Giá như lúc này có đủ thịt ngon và rượu vang nồng, để chúng ta có thể cứ thế thong dong ở lại túp lều này, mặc cho thiên hạ tất bật ngược xuôi, tôi có thể dư sức kể ròng rã suốt mười hai tháng trời mà chẳng sao kể cho xiết những nỗi bi ai mà đấng thánh thần đã giáng xuống đời tôi.

"Tôi sinh ra trên mảnh đất Crete; cha tôi là một người đàn ông khá giả. Dù ông có nhiều mụn con trai danh chính ngôn thuận, còn tôi là đứa con của một người tì thiếp mang thân phận nô lệ mà ông mua về, nhưng cha tôi - ngài Castor con trai của Hylax, người mà tôi luôn tự hào xưng danh, vị anh hùng từng được cả xứ Crete nể trọng bởi gia tài đồ sộ, cơ ngơi trù phú và bầy con trai dũng mãnh - đã luôn đối đãi với tôi bình đẳng ngang hàng như những người anh em ruột thịt. Thế nhưng, khi tử thần gõ cửa và đưa cha tôi xuống cõi âm ty của Hades, những người anh em kia đã chia năm xẻ bảy gia tài, rút thăm định đoạt phần hơn, và chỉ ném cho tôi một phần nhỏ nhoi cùng chút tài sản vụn vặt. Tuy vậy, chính lòng dũng cảm trời ban đã giúp tôi cưới được một người vợ xuất thân từ danh gia vọng tộc. Bởi lẽ tôi chẳng phải kẻ chỉ biết khoác lác hay kẻ hèn nhát lẩn trốn trên chiến trường. Giờ đây, mọi vinh quang ấy đã lùi vào dĩ vãng; nhưng nếu anh nhìn vào những cọng rơm khô, hẳn anh cũng đoán được bông lúa thuở nào từng trĩu hạt ra sao, vì quả thực, những truân chuyên tôi nếm trải đã quá đỗi ê chề. Thần Mars1 và nữ thần Minerva đã ban cho tôi lòng quả cảm chốn sa trường; mỗi bận tự tay chọn mặt gửi vàng những chiến binh đi phục kích kẻ thù, tôi chưa từng màng tới cái chết, mà luôn là người hăng hái xông lên đầu tiên, vung ngọn giáo sắc nhọn hạ gục bất kỳ kẻ nào tôi đuổi kịp. Trên chiến địa tôi oai hùng là thế, nhưng lại chẳng mảy may bận tâm đến chuyện đồng áng nương rẫy, hay nếp sống gia đình bình dị của những kẻ chỉ chăm chăm nuôi nấng vợ con. Niềm vui thú lớn nhất đời tôi là những đoàn chiến thuyền, những trận giao phong ác liệt, những ngọn lao vun vút và những mũi tên xé gió - những thứ vũ khí chết chóc mà hầu hết đàn ông đều run rẩy khi nghĩ tới. Nhưng mỗi người một chí hướng, và đó chính là lẽ sống mà tôi bẩm sinh đã mang trong máu thịt. Trước khi quân Achaean kéo đến thành Troy, tôi đã chín lần thống lĩnh binh sĩ và tàu thuyền đi viễn chinh nơi đất khách quê người, gom góp được biết bao của nả. Tôi luôn là người đầu tiên được chọn lựa chiến lợi phẩm, để rồi sau đó lại được chia thêm muôn vàn bảo vật.

"Cơ ngơi của tôi phất lên như diều gặp gió, đưa tôi trở thành một bậc quyền uy vang danh giữa xứ Crete. Thế nhưng, khi thần Jove rắp tâm giáng xuống cuộc viễn chinh kinh hoàng cướp đi sinh mạng bao người ấy, thiên hạ đã khẩn khoản cầu xin tôi và Idomeneus dẫn dắt đoàn tàu chiến của họ thẳng tiến đến Troy. Không còn đường lui, chúng tôi đành phải thuận theo tiếng gọi của đám đông. Ở nơi khói lửa đó, chúng tôi đã kề vai sát cánh chiến đấu ròng rã suốt chín năm trời, để rồi đến năm thứ mười, chúng tôi đã san phẳng thành trì của Priam và nhổ neo quay về quê hương khi thần thánh làm chúng tôi phân tán. Cũng từ đấy, thần Jove bắt đầu giăng sẵn tấn bi kịch tàn nhẫn giáng xuống đầu tôi. Tôi chỉ được tận hưởng trọn vẹn một tháng ngắn ngủi bình yên bên vợ con và cơ ngơi của mình, để rồi sau đó, khát vọng viễn chinh lại sục sôi thôi thúc tôi dong buồm tấn công cõi Ai Cập. Tôi tức tốc trang bị một hạm đội hùng hậu, chiêu mộ những tay chèo lực lưỡng. Chín con tàu sừng sững đậu đó, và đám đông nườm nượp kéo đến xin đầu quân. Suốt sáu ngày ròng, tôi cùng những người đồng đội mở tiệc linh đình; tôi cung cấp vô vàn lễ vật để họ vừa dâng lên thần linh, vừa thết đãi chính mình. Nhưng đến ngày thứ bảy, chúng tôi lên tàu, rời xa bờ cõi Crete, căng buồm lướt sóng dưới ngọn gió Bắc thuận lợi như thể đang xuôi theo dòng nước xiết. Chẳng một tai ương nào ập đến, chẳng một ai ốm đau bệnh tật. Chúng tôi chỉ việc yên vị, phó mặc những con tàu cho sức gió và tay lái của những người cầm lái. Đến ngày thứ năm, chúng tôi cập bến dòng sông Aegyptus2. Tôi neo đậu tàu thuyền vững chãi trên sông, hạ lệnh cho thủy thủ đoàn ở lại canh gác, trong khi bản thân cử những tay trinh sát tinh nhuệ đi dò la từ mọi điểm cao thuận lợi.

"Nhưng những kẻ đó đã phớt lờ mệnh lệnh của tôi, hành động xốc nổi bốc đồng, điên cuồng cướp bóc vùng đất của người Ai Cập, tàn sát đàn ông và bắt bớ vợ con họ làm tù binh. Tiếng kêu cứu thất thanh chẳng mấy chốc đã truyền đến kinh thành. Vừa nghe thấy tiếng hô hoán báo động, khi bình minh vừa ló dạng, người dân đã ùa ra như ong vỡ tổ. Chẳng mấy chốc, cả một vùng đồng bằng đã đặc nghẹt kỵ binh, lính bộ binh và ánh giáp trụ sáng lóa. Và rồi, thần Jove đã gieo rắc nỗi kinh hoàng tột độ lên binh lính của tôi; họ khiếp đảm không dám đương đầu với kẻ thù nữa khi nhận ra mình đã bị bủa vây tứ phía. Người Ai Cập đã thẳng tay tàn sát vô số người của tôi, số còn lại bị bắt sống và đày đọa trong cảnh lao động khổ sai. Tuy nhiên, chính thần Jove đã khơi lên trong tâm trí tôi một quyết định sinh tử - dẫu đôi lúc tôi ước gì mình đã bỏ mạng ngay tại đất Ai Cập ấy, bởi còn quá nhiều cay đắng đang chực chờ - tôi vội vã tháo chiếc mũ chiến, gỡ bỏ tấm khiên, buông thõng ngọn giáo khỏi tay. Sau đó, tôi lao thẳng đến cỗ xe của nhà vua, ôm ghì lấy đầu gối ngài mà hôn lên đó. Động lòng trắc ẩn, nhà vua đã tha mạng cho tôi, đưa tôi lên cỗ xe hoàng gia và chở tôi - kẻ đang nức nở tuôn rơi hàng lệ - về tận cung điện của ngài. Dù cho vô số binh lính đã hung hãn chĩa những ngọn giáo bằng gỗ tần bì về phía tôi, quyết truy sát tôi trong cơn thịnh nộ tột cùng, nhà vua vẫn kiên quyết chở che, bởi ngài e sợ cơn thịnh nộ của thần Jove - đấng bảo hộ cho những người khách lạ, vị thần luôn giáng đòn trừng phạt những kẻ làm điều bất chính.

"Tôi đã nương náu ở đó suốt bảy năm ròng, tích cóp được không ít của cải từ những người Ai Cập hiếu khách, bởi ai ai cũng ban tặng cho tôi chút gì đó. Nhưng khi bước sang năm thứ tám, một gã người Phoenicia3 xuất hiện - một kẻ gian manh xảo quyệt, tay đã nhúng chàm đủ mọi tội ác. Gã đã dùng lời đường mật dụ dỗ tôi theo gã về Phoenicia, nơi gã cất giữ nhà cửa và tài sản. Tôi đã tá túc ở đó suốt mười hai tháng, nhưng đến khi thời gian cạn dần, khi những tháng ngày dằng dặc trôi qua và mùa cũ quay vòng trở lại, gã đã ép tôi lên một con tàu hướng đến Libya4. Gã bịa ra một lý do vô hại rằng tôi sẽ phụ gã mang theo hàng hóa, nhưng thực chất là để gã có thể đem tôi đi bán làm nô lệ, vơ vét món tiền bất chính từ tôi. Tuy trong lòng đã nảy sinh nghi ngờ về dã tâm của gã, tôi vẫn đành cắn răng lên tàu, bởi tôi chẳng còn sự lựa chọn nào khác.

"Con tàu lướt đi băng băng dưới ngọn gió Bắc mát rượi cho đến khi chúng tôi tiến vào vùng biển chơi vơi giữa Crete và Libya. Nhưng ngay tại đó, thần Jove đã định đoạt kết liễu bọn họ. Ngay khi bóng dáng đảo Crete khuất tầm mắt, xung quanh chỉ còn một màu nước biển giao hòa cùng bầu trời thăm thẳm, ngài đã giăng một đám mây đen kịt bao trùm lấy con tàu, khiến mặt biển tối sầm lại trong một màn đêm u ám. Ngay sau đó, thần Jove giáng xuống những tia sét dữ dội; con tàu xoay tít, chìm trong biển lửa và mùi diêm sinh khét lẹt khi bị sét đánh trúng. Tất cả thủy thủ đoàn đều bị hất văng xuống biển khơi; họ bị dòng nước hung hãn cuốn trôi quanh thân tàu, trông tựa như một bầy chim mòng biển nháo nhác. Vị thần tối cao đã tước đoạt hoàn toàn cơ hội trở về quê hương của họ. Tôi rơi vào trạng thái kinh hoàng tột độ. Thế nhưng, thần Jove đã đưa cột buồm gãy trôi dạt đến ngay trong tầm với của tôi, cứu lấy mạng sống mong manh này. Tôi bám chặt lấy nó, phó mặc thân mình trôi dạt trước cơn thịnh nộ của bão tố. Suốt chín ngày lênh đênh trên biển, đến đêm thứ mười tăm tối, một con sóng khổng lồ đã đánh dạt tôi vào bờ biển Thesprotian. Tại đây, Pheidon - vị vua của người Thesprotian - đã giang tay tiếp đón tôi với lòng hiếu khách tuyệt vời mà chẳng hề toan tính điều chi. Con trai ngài đã tình cờ phát hiện ra tôi khi tôi đang thoi thóp, sắp chết vì lạnh lẽo và kiệt sức; chính chàng đã tự tay dìu tôi, đưa tôi về dinh thự của vua cha và khoác lên người tôi những bộ áo quần ấm áp.

"Và cũng chính tại nơi ấy, tôi đã nghe được những tin tức về Ulysses. Vua Pheidon kể rằng ngài đã từng thết đãi Ulysses, dành cho ông lòng hiếu khách nồng hậu khi ông đang trên hành trình gian nan tìm đường về quê hương. Nhà vua còn tận mắt cho tôi chiêm ngưỡng kho báu rực rỡ bằng vàng và sắt rèn mà Ulysses đã dày công thu thập. Khối tài sản ấy đồ sộ đến mức dư sức nuôi sống cả gia tộc ông qua mười thế hệ, nhiều đến độ ông đã phải gửi lại trong dinh thự của vua Pheidon. Nhưng nhà vua tiết lộ rằng Ulysses đã lên đường đến Dodona, mong muốn thấu hiểu thánh ý của thần Jove qua cây sồi thiêng cao vút, để biết liệu sau một thời gian đằng đẵng xa cách, ông nên đường hoàng xuất hiện ở Ithaca hay âm thầm trở về. Thậm chí, vua Pheidon còn thốt lên lời thề độc trước mặt tôi, vừa hiến tế rượu vang trong chính dinh thự của mình, vừa quả quyết rằng con tàu đã sẵn sàng bên bờ nước, thủy thủ đoàn đã điểm danh đầy đủ, chuẩn bị đưa Ulysses trở về quê cha đất tổ. Tuy nhiên, ngài đã tiễn tôi đi trước khi Ulysses kịp quay lại, bởi tình cờ có một con tàu của người Thesprotian sắp nhổ neo hướng về hòn đảo Dulichium bạt ngàn lúa mì, và nhà vua đã ân cần căn dặn những người chịu trách nhiệm phải đảm bảo đưa tôi bình an vô sự đến diện kiến Vua Acastus.

"Thế nhưng, những kẻ ấy lại rắp tâm ấp ủ một âm mưu tàn độc nhắm vào tôi, đẩy tôi rơi xuống tận cùng đáy sâu của sự khốn cùng. Khi con tàu đã rẽ sóng ra khơi xa, khuất bóng đất liền, bọn chúng liền quyết định đem tôi đi bán làm nô lệ. Chúng nhẫn tâm lột sạch chiếc áo sơ mi và tấm áo choàng tôi đang mặc, rồi quẳng cho tôi những mảnh giẻ rách cũ kỹ tơi tả mà anh đang thấy tôi khoác trên người lúc này. Khi bóng hoàng hôn buông xuống, bọn chúng cập bến vùng đất canh tác của Ithaca. Tại đây, chúng dùng một sợi dây thừng bện chặt trói gô tôi lại trên boong tàu, rồi rủ nhau lên bờ nhậu nhẹt bên bãi biển. Nhưng hỡi ôi, các vị thần đã sớm ra tay cởi trói cho tôi. Lấy những mảnh giẻ rách trùm kín đầu, tôi men theo bánh lái trượt nhẹ xuống biển sâu, rồi bơi một mạch cho đến khi thoát khỏi nanh vuốt của bọn chúng. Tôi lóp ngóp bò lên bờ, lẩn khuất vào một khu rừng rậm rạp để nương náu. Bọn chúng điên tiết lùng sục khắp nơi vì để vuột mất tôi, cho đến khi cảm thấy mọi nỗ lực đều vô vọng mới hậm hực quay lại tàu. Và rồi, những vị thần đã từng khéo léo che giấu tôi, lại một lần nữa đưa bước chân tôi đến trước ngưỡng cửa nhà của một người đàn ông tốt bụng - bởi dường như, số phận vẫn chưa cho phép tôi nhắm mắt xuôi tay lúc này."

Nghe vậy, hỡi người chăn lợn Eumaeus, anh đáp lời: "Hỡi người khách lạ khốn khổ, câu chuyện về những nỗi truân chuyên của ông quả thật rất lôi cuốn, nhưng những gì ông kể về Ulysses lại chẳng đúng chút nào. Ông sẽ không bao giờ khiến tôi tin được điều đó. Tại sao một người như ông lại phải đi khắp nơi buông những lời dối trá như vậy? Tôi biết quá rõ về ngày trở về của chủ nhân tôi. Các vị thần, thảy đều căm ghét ông ấy, nếu không thì họ đã cướp đi sinh mệnh ông ấy ngay trước cổng thành Troy, hoặc để ông ấy ngã xuống giữa vòng tay bạn hữu khi những ngày tháng can qua đã khép lại. Nếu được thế, toàn quân Achaean hẳn đã đắp cho ông một nấm mồ tươm tất trên đống tro tàn, và con trai ông ấy sẽ thừa kế vinh quang của cha mình. Nhưng hỡi ôi, giờ đây những cơn bão dữ dội đã cuốn ông ấy đi biệt tăm biệt tích.

"Về phần mình, tôi chỉ quanh quẩn ở đây chăm lo bầy lợn, chẳng bao giờ bén mảng tới thị trấn, trừ phi phu nhân Penelope sai người gọi tôi lên mỗi khi có tin tức về Ulysses. Lúc ấy, mọi người lại ngồi quây quần và dồn dập hỏi han, cả những người xót xa trước sự vắng mặt của đức vua, lẫn những kẻ khấp khởi mừng thầm vì có dịp mặc sức đục khoét tài sản của ông ấy. Riêng tôi, tôi chẳng màng cất lời hỏi han bất cứ ai kể từ bận bị một gã người Aetolian lừa gạt. Gã đó lỡ tay giết người, phải chạy trốn một chặng đường dài cho tới khi đặt chân đến trang trại của tôi, và tôi đã hết lòng khoản đãi. Gã thề thốt rằng đã trông thấy Ulysses ở cùng Idomeneus giữa những người Cretan, đang sửa sang lại đoàn chiến thuyền hư hại sau một trận cuồng phong. Gã bảo Ulysses sẽ cùng thuộc hạ trở về vào mùa hè hoặc mùa thu năm sau, mang theo vô vàn của cải. Vậy nên, ông lão bất hạnh ạ, nay số phận đã đưa đẩy ông đến tận cửa nhà tôi, thì xin ông đừng buông lời xu nịnh bằng những hy vọng hão huyền như thế nữa. Tôi đối đãi tử tế với ông nào phải vì những lời dối trá ấy, mà bởi lòng tôn kính vị thần hiếu khách Jove, vì lòng kính sợ thần linh và vì nỗi xót thương dành cho số kiếp của ông."

Ulysses từ tốn đáp: "Tôi thấy tâm trí anh ngập tràn sự hoài nghi. Tôi đã thề độc như vậy mà anh vẫn chẳng chút mảy may tin tưởng. Thôi thì chúng ta hãy lập một giao kèo, có bách thần trên thiên đàng chứng giám. Nếu chủ nhân của anh bình an trở về nhà, anh hãy tặng tôi một chiếc áo choàng cùng áo sơ mi tươm tất, và đưa tôi đến Dulichium nơi tôi hằng mong đợi. Còn nếu ông ấy không trở về như lời tôi nói, anh cứ xúi những người làm của mình xông vào đánh đập tôi, rồi ném tôi xuống vách đá đằng kia, như một đòn trừng phạt răn đe lũ người lang bạt đừng đi khắp chốn gieo rắc lời dối trá."

"Thế thì tôi quả là sẽ lưu danh muôn thuở mất!" Eumaeus đáp lại, "cả ở hiện tại lẫn mai sau, nếu như tôi ra tay sát hại ông sau khi đã rước ông vào túp lều này và ân cần tiếp đãi. Phải thành tâm cầu nguyện lắm tôi mới dám làm cái việc tày đình ấy! Nhưng thôi, giờ đã đến bữa tối rồi. Hy vọng đám người làm của tôi sẽ về ngay, để chúng ta còn kịp nấu món gì đó ngon miệng dọn lên."

Họ hàn huyên như thế, thì ngay sau đó đám gia nhân chăn lợn lùa bầy lợn trở về. Lũ lợn được nhốt vào chuồng để ngủ qua đêm, kêu ré lên inh ỏi khi bị lùa vào trong. Eumaeus liền gọi những người làm của mình tới và bảo: "Các anh hãy chọn bắt con lợn nào béo tốt nhất mang vào đây, để ta hiến tế thết đãi vị khách lạ này, và chúng ta cũng sẽ có phần. Chúng ta đã nếm trải đủ nỗi nhọc nhằn suốt bao tháng ngày ròng rã chăn nuôi bầy lợn này, trong khi những kẻ khác lại cứ ngang nhiên ngồi mát ăn bát vàng."

Dứt lời, anh vung rìu chẻ củi, trong khi những người khác mang vào một con lợn đực béo núc ních, vừa độ năm tuổi, rồi đặt nó bên bàn thờ. Vốn là một con người chính trực, Eumaeus không hề xao nhãng việc thờ phụng thần linh. Việc đầu tiên anh làm là xén một nhúm lông trên trán con vật ném vào ngọn lửa đỏ rực, vừa làm vừa khấn nguyện bách thần cho Ulysses sớm ngày trở về cố hương. Tiếp đó, anh dùng một thanh củi sồi chừa lại lúc nãy phang mạnh vào đầu con lợn, khiến nó lăn đùng ra bất tỉnh, trước khi những người khác xúm lại mổ thịt và thui vàng. Họ xẻ thịt con vật thành từng tảng. Eumaeus bắt tay vào việc bằng cách lạng những miếng thịt sống từ mỗi khớp xương đặt lên trên một lớp mỡ mỏng; anh rắc thêm chút bột lúa mạch rồi xếp tất cả lên bếp than hồng rực. Chỗ thịt còn lại, họ thái thành từng miếng nhỏ, xiên vào que và nướng cho tới khi chín tới. Nhấc khỏi xiên, họ trút thịt thành một đống vun vút trên thớt. Là một người vốn tính công bằng, người chăn lợn bèn đứng dậy tự tay chia đều các phần ăn. Anh chia thịt làm bảy phần; một phần để riêng dâng lên thần Mercury con trai của Maia cùng các nữ thần, miệng lầm rầm khấn vái; những phần còn lại anh chia đều cho từng người. Riêng với Ulysses, anh ưu ái dọn cho ông vài lát thịt thăn ngon nhất để tỏ lòng tôn kính đặc biệt, khiến vị anh hùng vô cùng hoan hỉ. "Eumaeus này," ông cất lời, "tôi mong sao thần Jove sẽ rộng lòng ưu ái anh hệt như tôi lúc này, bởi sự tôn trọng anh đã dành cho một kẻ bần hàn xơ xác như tôi."

Nghe vậy, hỡi người chăn lợn Eumaeus, anh nhẹ nhàng đáp: "Mời ông dùng bữa, hỡi người khách quý, xin hãy cứ thong thả thưởng thức bữa tối giản dị này. Thần linh ban phát ân huệ hay cước từ thỉnh cầu đều thuận theo ý nguyện của người, bởi các đấng quyền năng có thể làm bất cứ điều gì họ muốn."

Vừa dứt lời, anh cắt miếng thịt đầu tiên làm vật hiến tế thiêu dâng lên các vị thần bất tử. Xong xuôi, anh thành kính rót một chén rượu rưới làm lễ vật, rồi trao tận tay Ulysses, trước khi ngồi xuống thưởng thức phần ăn của chính mình. Gia nhân Mesaulius dọn bánh mì lên cho mọi người; đây là người đàn ông mà Eumaeus đã tự xuất tiền túi mua về từ đám thương nhân Taphian trong lúc chủ nhân vắng nhà, mà chẳng hề đánh tiếng với phu nhân Penelope hay lão gia Laertes. Thế rồi, mọi người hân hoan thưởng thức những món ăn ngon lành dọn sẵn trước mặt. Đến khi ai nấy đã no say thỏa thuê, Mesaulius dọn dẹp sạch sẽ những mẩu bánh mì còn sót lại, và tất cả cùng chìm vào giấc ngủ sau một bữa tối vô cùng thịnh soạn.

Màn đêm buông xuống, bóng tối bủa vây mịt mùng bởi vầng trăng đã lẩn khuất tự bao giờ. Trời mưa xối xả không dứt, và ngọn gió Tây mang theo hơi ẩm nặng trĩu thét gào từng cơn buốt giá. Trong cảnh hoang lương ấy, Ulysses nảy ra ý định thử lòng Eumaeus. Ông muốn xem liệu người chăn lợn, với tất cả sự chu đáo tuyệt vời dành cho ông, có sẵn lòng cởi chiếc áo choàng của chính anh để nhường cho ông, hay chí ít là sai một trong những người làm mang tới cho ông một tấm áo hay không.

"Xin hãy nghe tôi giãi bày," ông cất giọng, "này Eumaeus và tất cả các anh. Sau khi cầu khấn xong, tôi có đôi lời muốn ngỏ. Chính hơi men nồng nàn đã xui khiến tôi thốt ra những lời này; bởi thứ men say ấy dễ làm cho ngay cả bậc hiền nhân cũng phải cất cao tiếng hát, bật cười khúc khích, say sưa nhảy múa và thốt ra vô vàn lời lẽ mà đáng ra nên giấu kín tận đáy lòng. Dẫu vậy, vì trót đã mở lời, tôi xin được kể tiếp. Ước gì tôi còn vẹn nguyên sức trẻ và sự dẻo dai như thuở cùng binh lính lập mưu phục kích trước cổng thành Troy. Khi ấy, Menelaus và Ulysses là những vị chỉ huy tối cao, nhưng chính họ cũng đã tin tưởng giao cho tôi quyền thống lĩnh. Tiến sát chân thành, chúng tôi nép mình trong lớp áo giáp dày cộm, nằm rạp xuống những bụi rậm và đám cỏ sậy mọc quanh đầm lầy. Rồi đất trời bỗng chốc buốt giá khi cơn gió Bắc cuồn cuộn thổi tới. Tuyết bắt đầu lất phất rơi, mỏng manh nhưng rét mướt như sương muối, giăng thành một lớp băng tuyết trắng xóa phủ kín những tấm khiên đồng. Những người khác đều mang theo áo choàng và áo sơ mi, họ an giấc khá yên bình với tấm khiên quấn chặt quanh bờ vai. Riêng tôi, vì vô tâm nên đã bỏ quên tấm áo choàng, cứ đinh ninh rằng trời chẳng thể nào buốt giá đến vậy. Thế là tôi ra trận với độc một chiếc áo sơ mi mỏng manh cùng tấm khiên trên tay. Lúc đêm đã tàn qua hai phần ba, và những chòm sao đang âm thầm xoay chuyển nhường chỗ cho bình minh, tôi bèn huých khẽ cùi chỏ vào người Ulysses đang nằm kề bên. Ngài liền quay sang lắng nghe.

"'Ulysses này,' tôi thầm thì, 'cái rét buốt này ắt sẽ đoạt mạng tôi mất thôi, bởi tôi chẳng mang theo tấm áo choàng nào cả. Chắc hẳn một vị thần xảo quyệt nào đó đã lừa tôi ra trận với độc chiếc áo sơ mi mỏng manh này, và giờ tôi thực chẳng biết phải xoay xở ra sao.'

"Ulysses, vị anh hùng vừa dũng cảm vừa mưu trí ngập tràn, liền nảy ra một kế sách tuyệt diệu:

"'Hãy giữ yên lặng,' ngài khẽ đáp lời, 'kẻo những người khác lại nghe thấy đấy.' Đoạn, ngài chống cùi chỏ, khẽ ngóc đầu lên.

"'Hỡi những người anh em của ta,' ngài cất tiếng, 'trong lúc thiếp đi, một giấc mộng linh thiêng từ chư thần vừa hiển linh. Chúng ta đang đóng quân ở quá xa những chiến thuyền. Ta mong sao có ai đó hãy mau chóng chạy về bẩm báo với Agamemnon để ngài cử thêm viện binh đến cho chúng ta ngay lập tức.'

"Nghe ngài phán truyền, Thoas, con trai của Andraemon, liền cởi phăng chiếc áo choàng của mình rồi vội vã cắm cổ chạy thẳng về phía những con tàu. Chớp lấy thời cơ, tôi kéo tấm áo choàng ấy đắp lên người và êm đềm say giấc cho đến tận ban mai. Giờ đây, ước gì tôi vẫn giữ được sự cường tráng và thanh xuân như ngày thuở ấy. Nếu vậy, hẳn một người nào đó trong số các anh, những người chăn lợn tốt bụng, đã sẵn lòng trao cho tôi một chiếc áo choàng, vừa vì lòng thương cảm, vừa vì sự kính trọng dành cho một chiến binh dũng cảm. Đáng buồn thay, giờ đây mọi người đều mang lòng khinh khi, chỉ vì thân tôi khoác những mảnh giẻ rách tồi tàn."

Đáp lời, Eumaeus chân thành cất giọng: "Này ông lão, ông vừa kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện thật tuyệt vời. Mọi lời ông nói từ nãy tới giờ đều thấu tình đạt lý cả. Bởi vậy, ngay lúc này, ông sẽ không phải chịu cảnh thiếu thốn áo quần hay bất kỳ điều gì mà một người lữ khách khốn khổ có quyền kỳ vọng. Thế nhưng, sáng ngày mai, ông đành phải khoác lại những mảnh giẻ rách cũ kỹ của mình vậy, bởi lẽ chúng tôi chẳng có dư dả áo choàng hay áo sơ mi để thay đổi, mỗi người cũng chỉ có độc một chiếc mà thôi. Bao giờ con trai của Ulysses hồi hương, cậu ấy nhất định sẽ ban tặng cho ông cả áo choàng lẫn áo sơ mi, và hộ tống ông tới bất kỳ nơi nào ông khao khát."

Dứt lời, anh đứng dậy dọn chỗ ngả lưng cho Ulysses. Anh trải vội vài tấm da dê cùng da cừu xuống nền đất ấm ngay trước đống lửa. Ulysses ngả mình xuống đó, và Eumaeus cẩn thận đắp lên người ông một tấm áo choàng vừa lớn vừa nặng - tấm áo quý giá mà anh luôn cất giữ để thay thế trong những ngày thời tiết vô cùng khắc nghiệt.

Ulysses thiếp đi êm đềm như thế, bên cạnh những chàng trai trẻ đang say sưa giấc nồng. Tuy nhiên, người chăn lợn lại chẳng màng ngả lưng nơi lều ấm, mà muốn ra tận nơi để canh giữ đàn lợn của mình. Ulysses vô cùng hoan hỉ khi chứng kiến tấm lòng tận tụy của anh đối với tài sản trong những ngày chủ nhân vắng bóng. Đầu tiên, anh vắt ngang thanh kiếm sắc bén qua đôi vai lực lưỡng, rồi khoác thêm một chiếc áo choàng dày cộm để cản lại từng đợt gió rít. Anh còn mang theo tấm da của một con dê đực to lớn, béo tốt cùng một ngọn lao đề phòng mọi sự tấn công từ con người hay thú dữ. Với đầy đủ binh khí và trang phục như vậy, anh sải bước tiến về khu trại nghỉ ngơi, nơi đàn lợn đang rúc vào nhau dưới một tảng đá nhô ra để tránh đi những cơn gió Bắc xé thịt.



  1. Vị thần chiến tranh trong thần thoại La Mã, đại diện cho sức mạnh bạo liệt trên chiến trường, tương đương với thần Ares trong thần thoại Hy Lạp. 

  2. Tên gọi cổ đại của sông Nile, con sông dài nhất thế giới chảy qua lãnh thổ Ai Cập. Trong tiếng Hy Lạp cổ, Aegyptus cũng là từ dùng để chỉ cả vùng đất Ai Cập. 

  3. Một nền văn minh cổ đại nằm ở khu vực ven biển phía đông Địa Trung Hải (nay thuộc Lebanon và Syria), nổi tiếng với những thương gia hàng hải xuất chúng nhưng cũng mang tiếng là xảo quyệt trong buôn bán. 

  4. Trong khái niệm địa lý của người Hy Lạp cổ đại, Libya không chỉ là một quốc gia hiện đại mà là từ dùng để chỉ toàn bộ vùng Bắc Phi (nằm ở phía tây Ai Cập).