Kính tặng Giáo sư,
Hiệp sĩ Biagio Ingroia,
Người cộng sự trân quý,
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn.

LỜI TỰA CHO ẤN BẢN ĐẦU TIÊN

Bản dịch này ra đời nhằm tiếp nối và bổ khuyết cho tác phẩm “Nữ tác giả của sử thi Odyssey” (“The Authoress of the Odyssey”) mà tôi từng ra mắt độc giả vào năm 1897. Thuở ấy, vì e ngại việc đưa toàn bộ bản hùng ca “Odyssey” vào sách sẽ khiến dung lượng trở nên quá đỗi đồ sộ, tôi đành mạn phép đúc kết bản dịch của mình thành những bản tóm lược. Nay, khi mọi tâm huyết đã hoàn mãn, tôi xin được trân trọng gửi tới quý vị ấn bản trọn vẹn này.

Tại đây, tôi mạn phép không đào sâu trở lại hai luận điểm cốt lõi từng được mổ xẻ trong tác phẩm tiền nhiệm, bởi lẽ mọi điều cần nói đã được tỏ bày, tôi chẳng mong thêm bớt hay thu hồi nửa lời. Ấy là hai luận điểm sau:

    - Toàn bộ thi phẩm “Odyssey” đã được chắp bút và lấy cảm hứng bối cảnh từ chính vùng đất mà ngày nay chúng ta gọi là Trapani, tọa lạc bên bờ Tây xứ Sicily. Bối cảnh ấy chính là hiện thân chung cho cả vương quốc Phaeacia lẫn xứ sở Ithaca. Và như vậy, chuyến hải trình sóng gió của người anh hùng Ulysses-khi chàng dấn thân vào vùng biển bao quanh đảo Sicily-thực chất là một vòng chu du quanh hòn đảo này. Đó là một hải trình chủ yếu xuất phát từ Trapani và xoay vần trở lại chính Trapani, băng qua quần đảo Lipari, vượt eo biển Messina và lướt qua đảo Pantellaria.

    - Bản thiên tình sử oai hùng này, một cách trọn vẹn, lại là đứa con tinh thần của một thiếu nữ độ tuổi thanh xuân, từng sinh sống tại vùng đất Trapani ngày nay. Nàng đã khéo léo họa lại chân dung chính mình qua hình bóng của nàng công chúa Nausicaa kiều diễm.

Những lập luận nền tảng nhằm bảo vệ cho luận điểm đầu tiên-dẫu thoạt nghe có phần kinh ngạc-đã liên tục hiện diện nổi bật và thu hút sự chú ý của giới mộ điệu tại Anh lẫn Ý. Kể từ khi những phân tích ấy được đăng tải trên tờ “Athenaeum” vào ngày 30 tháng 1 và 20 tháng 2 năm 1892, chưa từng có một lời phản bác nào được đưa ra. Thêm nữa, cả hai luận điểm này tiếp tục được diễn giải (và cũng không hề vấp phải sự phản đối) trên tờ “Eagle” của hội Johnian1 suốt học kỳ Mùa Chay2 cùng tháng 10 năm ấy. Cho tới tận bây giờ, tôi vẫn chưa nhận được bất cứ phản hồi trái chiều nào cần phải lên tiếng. Bản thân tôi luôn đau đáu tự vấn, khắc khoải kiếm tìm những lỗ hổng trong chính những lập luận của mình. Vì vậy, tôi dần có thêm niềm tin rằng: nếu thực sự tồn tại những sai sót yếu vị, hẳn tôi đã phải nghe đến ít nhất một vài lời chất vấn từ lâu. Do đó, tôi chẳng cần mảy may giả định rằng giới học giả đã hoàn toàn đồng thuận với mình; tôi chỉ đơn giản bước tiếp với ý nghĩ rằng: họ khó có khả năng phủ nhận tôi bằng những lý lẽ đủ sức buộc tôi phải hồi đáp. Giờ đây, tôi xin trao trọn tâm trí cho việc chuyển ngữ “Odyssey” tới độc giả tiếng Anh, điểm xuyết thêm những dòng chú giải mà tôi tin là hữu ích. Trong số đó, tôi đặc biệt muốn mời quý vị lưu tâm đến lời cước chú tại quyển xxii, dòng 465-473, mà Lãnh chúa Grimthorpe đã rộng lượng ân chuẩn cho tôi quyền công bố.

Tôi cũng xin mạn phép sử dụng lại một vài bức bích họa minh họa từ cuốn “Nữ tác giả của sử thi Odyssey”, đồng thời điểm xuyết thêm hai khung hình mới. Mong mỏi của tôi là những hình ảnh này sẽ gợi lên trong tâm trí độc giả một không gian sống động về khoảng sân ngoài bao quanh dinh thự của Ulysses. Tôi cũng xin bộc bạch rằng sự xuất hiện của bóng dáng một người đàn ông và một chú chó trong một bức hình là hoàn toàn vô tình; chính tôi cũng chẳng hề hay biết cho tới tận lúc cuộn phim được tráng rửa. Tại phần phụ lục, tôi đã cho in lại những diễn giải tường tận về sơ đồ cấu trúc dinh thự Ulysses, đi kèm với chính bản vẽ sơ đồ ấy. Kính mong quý độc giả hãy dành đôi chút thời gian để chiêm nghiệm bản vẽ đầy thú vị này.

Trong lời tựa cho bản dịch “Iliad3”, tôi từng trình bày quan điểm về những nguyên tắc then chốt mà một dịch giả nên theo đuổi. Thiết nghĩ chẳng cần nhắc lại nơi đây, chỉ xin rào trước rằng quyền tự do chuyển ngữ từ thơ sang văn xuôi đòi hỏi sự linh hoạt không ngừng xuyên suốt tác phẩm. Bởi lẽ, lắm điều vốn dĩ tuyệt hay trong thơ lại trở nên kệch cỡm khi vào văn xuôi, và tiêu chí hàng đầu của một bản dịch loại này phải là sự trôi chảy, dễ đọc. Tuy nhiên, để quý độc giả thấy rõ tôi đã bước xa khỏi việc bám sát câu chữ nhường nào, tôi xin trích dẫn bản dịch khoảng sáu mươi dòng đầu “Odyssey” do ngài Butcher và ngài Lang thực hiện. Bản dịch ấy như sau:

Hãy kể tôi nghe, hỡi Nữ thần Thi ca, về người anh hùng can trường, bậc kỳ tài thao lược đã phiêu bạt khắp chốn cùng nơi sau ngày san bằng thành Troy thiêng liêng. Bước chân ông từng in dấu nơi thành luỹ của muôn người, thấu hiểu tận cùng tâm trí họ. Giữa biển khơi muôn trùng, trái tim ông cũng phải nếm trải bao nỗi đoạn trường trong tuyệt vọng vẫy vùng, cốt chỉ để giữ lấy mạng sống và tìm đường về cho đoàn tùy tùng. Nhưng than ôi, dẫu khao khát đến cháy lòng, ông vẫn chẳng thể chở che cho những người đồng đội. Trái tim mù quáng đã đẩy họ vào chỗ chết. Đám người xuẩn ngốc ấy đã mạo phạm ăn thịt đàn bò của thần Mặt trời Helios Hyperion, để rồi bị ngài tước đoạt vĩnh viễn ngày hồi hương. Hỡi Nữ thần, hỡi người con gái của Zeus, dẫu nhặt nhạnh từ bất cứ đâu trong dòng ký ức, xin hãy kể lại những câu chuyện ấy cho chúng tôi.

Bấy giờ, tất thảy những chiến binh may mắn thoát khỏi họa diệt vong đều đã bình yên nơi quê nhà, rũ bỏ lại sau lưng cả khói lửa chiến chinh lẫn cơn cuồng nộ của biển cả. Riêng chỉ có Odysseus, người đàn ông ngày đêm khắc khoải nhớ vợ thương quê, lại bị tiên nữ xinh đẹp Calypso giam cầm trong thẳm sâu hang động. Nàng khao khát khôn nguôi được giữ ông lại làm phu quân. Rồi khi tháng năm luân chuyển theo nhịp điệu của các mùa, khoảnh khắc định mệnh cũng điểm. Các vị thần đã phán quyết ông phải trở về quê nhà Ithaca. Thế nhưng, ngay cả khi đặt chân lên mảnh đất ấy, giữa những người thân thuộc, vòng oan khiên vẫn chưa buông tha ông. Mọi vị thần đều xót thương Odysseus thánh thần, duy chỉ có Poseidon là không ngừng giáng cơn thịnh nộ xuống đầu ông, mãi cho tới ngày ông thực sự trở về quê hương. Dẫu vậy, lúc bấy giờ Poseidon đang đi vắng. Ngài chu du đến vùng đất xa xôi của những người Ethiopia - tộc người sống ở tận cùng thế giới và bị chia cắt làm đôi, một nửa cư ngụ nơi Hyperion buông mình lặn xuống, nửa kia ngự chốn ngài vươn mình mọc lên. Nơi ấy, Poseidon hân hoan ngồi dự tiệc, chờ đón lễ hiến tế hàng trăm con bò và cừu đực. Trong khi đó, các vị thần khác đang tụ họp đông đủ tại đại điện của Zeus trên đỉnh Olympus. Giữa chư thần, đấng tối cao của thần linh và nhân loại bắt đầu cất lời. Trái tim ngài bỗng nhớ đến Aegisthus cao quý, kẻ vừa bị Orestes - cậu con trai lừng danh của Agamemnon - kết liễu. Nghĩ về gã, ngài cất tiếng giữa chư thần Bất tử:

‘Chao ôi, hãy nhìn xem lũ người phàm trần mới oán trách thần linh vô cớ làm sao! Chúng cứ khăng khăng rằng mọi tai ương đều do ta giáng xuống. Nào có phải! Chính trái tim mù quáng của chúng đã chuốc lấy những bi kịch vượt xa cả số mệnh an bài. Điển hình như Aegisthus dạo nọ. Bất chấp số phận, gã ngang nhiên chiếm đoạt thê tử của con trai Atreus, rồi tàn nhẫn sát hại ông ngay trong ngày hồi hương. Gã hành động khi cái chết đã phơi bày trước mắt, bởi chính chúng ta đã phái Hermes tinh anh - người kết liễu Argos4 - mang lời răn đe đến tận nơi. Hermes từng cảnh báo gã tuyệt đối không được hạ sát người đàn ông đó, cũng đừng tơ tưởng đến vợ ông ta. Vì sớm muộn gì Orestes cũng sẽ thay cha phục hận ngay khi cậu khôn lớn và khát khao đòi lại quê hương. Hermes đã nói rõ ràng như thế, nhưng lòng tốt ấy chẳng thể xoay chuyển được tâm can Aegisthus. Giờ đây, gã đã phải trả một cái giá chung cho tất thảy tội lỗi của mình.’

Nghe vậy, nữ thần Athene mắt xám lên tiếng đáp lời: ‘Hỡi cha, cha Cronides5 của chúng ta, đấng ngự trên ngôi báu tối cao! Gã đàn ông kia quả thực đã nhận lấy cái chết vô cùng xứng đáng. Mong sao tất thảy những kẻ mưu toan điều ác đều phải diệt vong như thế! Thế nhưng, trái tim con đang bị xé nát vì Odysseus khôn ngoan mà bất hạnh. Ông đã bơ vơ xa cách bằng hữu từ lâu, đang phải gặm nhấm nỗi thống khổ trên một hòn đảo hoang vu giữa trùng khơi, nơi được mệnh danh là rốn của biển cả. Hòn đảo ấy cây cối um tùm, và là nơi cư ngụ của một nữ thần - con gái của phù thủy Atlas, kẻ am tường mọi vùng nước sâu và tự tay chống đỡ những cột trụ khổng lồ chia tách đất trời. Chính cô con gái của ông ta đang giam cầm người đàn ông đáng thương trong nỗi sầu bi tột độ. Nàng không ngừng tuôn ra những lời lẽ dối trá ngọt ngào để ru ngủ ông, hòng khiến ông quên đi Ithaca. Nhưng Odysseus chỉ khao khát được nhìn thấy dù chỉ là một vệt khói bếp bay lên từ quê hương mình, đến mức ông thà chọn cái chết. Còn người, hỡi đấng Olympian, sao trái tim người lại vô tâm đến thế! Cớ làm sao? Chẳng phải Odysseus đã từng dâng lên người biết bao lễ vật hiến tế bên những chiến thuyền của người Argive6 trên vùng đất Troy rộng lớn sao? Vậy thì cớ sao người lại trút giận lên ông ấy hỡi Zeus?’

Như độc giả đều biết, sử thi “Odyssey” chứa đựng vô số đoạn mượn từ “Iliad”. Tôi từng định in những đoạn vay mượn này bằng một kiểu chữ hơi khác, kèm theo phần chú thích ở lề để đối chiếu với “Iliad”. Thậm chí, tôi đã tỉ mẩn đánh dấu sẵn trên bản thảo của mình cho mục đích ấy. Thế nhưng, tôi sớm nhận ra rằng làm vậy sẽ khiến bản dịch trở nên khô khan, nặng nề tính học thuật một cách vô vọng, nên đành gác lại ý định đó. Dẫu vậy, tôi vẫn thiết tha mong mỏi những người điều hành các nhà xuất bản thuộc trường đại học hãy cân nhắc việc ấn hành một văn bản tiếng Hy Lạp của “Odyssey”, trong đó những đoạn trích từ “Iliad” được in bằng kiểu chữ riêng, kèm theo dẫn chiếu rõ ràng bên lề. Việc làm này chắc chắn sẽ mang lại lợi ích to lớn cho giới sinh viên. Cá nhân tôi đã gửi tặng Bảo tàng Anh một bản “Odyssey” trong đó các đoạn trích “Iliad” đều được gạch chân và ghi chú cẩn thận; tôi cũng gửi tặng một bản “Iliad” được đánh dấu tương tự với các đoạn mang âm hưởng Odyssean cùng phần đối chiếu chi tiết. Thiết nghĩ, những bản sao của “Iliad” và “Odyssey” được dày công chú giải như thế cần phải nằm trong tầm tay của tất cả sinh viên.

Ngày nay, khi bàn luận về những uẩn khúc xoay quanh “Iliad” kể từ thời Wolf, nếu người viết không thể khắc sâu vào tâm trí độc giả rằng “Odyssey” hoàn toàn có thể chứng minh là xuất phát từ một khu vực lân cận duy nhất, và do đó rất có thể chỉ do một tác giả duy nhất chắp bút (thậm chí dẫu không có bằng chứng nào khác minh chứng cho điều này); rằng kiệt tác ấy chắc chắn ra đời trước năm 750, và rất có khả năng trước năm 1000 TCN; và rằng vị tác giả của bản sử thi sơ khai này hiển nhiên am tường “Iliad” như cách chúng ta biết đến hiện nay, tự do vay mượn từ những quyển bị hoài nghi nhiều nhất về tính nguyên bản cho đến những quyển được công nhận là của Homer - bất kỳ ai không thể phơi bày những luận điểm này trước mắt độc giả, thì khó lòng đối đãi công bằng với họ. Ngược lại, nếu ai đó tự tay đánh dấu đối chiếu hai bản “Iliad” và “Odyssey” dựa trên những bản sao tại Bảo tàng Anh kể trên, và tự rút ra kết luận duy nhất hợp lẽ thường về sự trùng lặp dày đặc giữa hai bài thơ, tôi tin rằng, họ sẽ không gặp mấy khó khăn khi gán đúng giá trị thực sự cho vô vàn sách vở đang nổi đình nổi đám ở nước ta cũng như trên Lục địa. Hơn thế nữa - và đây có lẽ là một lợi ích đáng giá hơn - họ sẽ nhận ra rằng, nhiều câu đố của “Odyssey” vốn từng làm ta bối rối nay bỗng chốc sáng tỏ, khi ta khám phá ra nguyên nhân sâu xa: tác phẩm này đã ngấm quá sâu dòng chảy của “Iliad”.

Những khúc mắc khác rồi cũng sẽ tan biến ngay khi ta thấu tỏ quá trình thi phẩm này hoài thai trong tâm trí tác giả. Vấn đề này đã được tôi luận bàn cặn kẽ từ trang 251 đến 261 trong cuốn “Nữ Tác Giả của Odyssey”. Tóm lược lại, “Odyssey” thực chất bao gồm hai thi phẩm biệt lập: (1) Hành Trình Trở Về của Ulysses. Đây cũng là nội dung duy nhất mà Nữ thần Thi ca được thỉnh cầu cất lời ca trong những vần thơ mở đầu. Thi phẩm này bao trùm giai thoại ở Phaeacia, cùng lời tự thuật của Ulysses về những chuyến phiêu lưu kỳ thú trong các Quyển ix.-xii. Mạch thơ trải dài từ khoảng dòng 1-79 của Quyển i., tiếp nối từ dòng 28 của Quyển v., rồi tuôn chảy không gián đoạn cho đến giữa dòng 187 của Quyển xiii. Tại chính điểm này, cấu trúc nguyên thủy của tác phẩm đã bị gác lại.

(2) Câu chuyện về nàng Penelope cùng những kẻ cầu hôn, đan xen với chuyến hành trình của Telemachus đến Pylos. Mạch thơ này khởi đầu từ khoảng dòng 80 của Quyển i., tiếp diễn cho đến cuối Quyển iv. Sau đó, mạch truyện bị bỏ ngỏ và chỉ được nối lại khi Ulysses choàng tỉnh giấc ở giữa dòng 187, Quyển xiii. Từ thời khắc đó, cốt truyện tiếp tục trải dài cho đến phần cuối của Quyển xxiv.

Trong “Nữ Tác Giả của Odyssey”, tôi từng viết:

sự hiện diện của các dòng xi., 115-137 và dòng ix., 535, cùng với việc sáng tạo thêm một hội đồng chư thần mới ở ngay đầu Quyển v.-nhằm thế chỗ cho hội đồng đã bị dời sang Quyển i., 1-79-là những nỗ lực duy nhất nhằm khoác lên tác phẩm một vỏ bọc thống nhất giữa cấu trúc cũ và mới. Những chi tiết này được tạo ra cốt để che đậy một sự thật rằng: Nữ thần Thi ca, dẫu được thỉnh cầu cất cao giọng hát về một chủ đề, lại dành đến hai phần ba thời lượng để ngâm nga về một điều hoàn toàn khác biệt, dẫn tới một cao trào mà chẳng ai màng đòi hỏi. Bởi lẽ, nhìn một cách bao quát, Hành Trình Trở Về chỉ chiếm vỏn vẹn tám Quyển, trong khi câu chuyện về Penelope cùng những Kẻ cầu hôn lại kéo dài tới tận mười sáu Quyển.

Tôi tin tưởng rằng nhận định này về cơ bản là hoàn toàn chuẩn xác.

Cuối cùng, để khép lại một tiểu tiết dẫu chẳng mấy quan trọng, tôi nhận thấy ấn bản Teubner do Leipsic phát hành7 năm 894 đã kết thúc các Quyển ii. và iii. bằng một dấu phẩy. Hệ thống dấu câu vốn dĩ ra đời muộn hơn rất nhiều so với thời đại của “Odyssey”, tới mức dường như chẳng có mấy ích lợi khi cứ khăng khăng bám chấp vào văn bản trong một vấn đề nhỏ nhặt đến vậy. Thế nhưng, chỉ đơn thuần xuất phát từ tinh thần bảo thủ, tôi vẫn ưu tiên giữ nguyên cách chấm câu này. Tại sao từ [Greek] ở đầu các Quyển ii., viii. và từ [Greek] ở đầu Quyển vii. lại được viết hoa chữ cái đầu tiên-trong một ấn bản vốn được biên soạn cẩn trọng tới mức không thể đổ lỗi cho sự lơ đễnh? Trong khi đó, từ [Greek] ở đầu các Quyển vi., xiii., và từ [Greek] ở đầu Quyển xvii. lại hoàn toàn không được viết hoa chữ cái đầu? Tôi thật sự không thể nào lý giải nổi. Tuyệt nhiên không còn bất kỳ Quyển nào khác trong “Odyssey” có chữ cái đầu tiên được viết hoa ngoại trừ ba Quyển vừa nêu, trừ phi từ mở đầu của Quyển ấy là một danh từ riêng.

S. BUTLER.

Ngày 25 tháng 7 năm 1900.



  1. Cộng đồng những thành viên và cựu sinh viên của trường St John's College thuộc Đại học Cambridge (Anh). Tạp chí "The Eagle" được nhắc đến là ấn phẩm nội bộ lâu đời của ngôi trường này. 

  2. Tên gọi một trong ba học kỳ học thuật truyền thống (thường kéo dài từ tháng 1 đến tháng 3, trùng với khoảng thời gian Mùa Chay của Công giáo) tại một số trường đại học lâu đời ở Anh như Cambridge và Oxford. 

  3. Một bản sử thi Hy Lạp cổ đại nổi tiếng khác cũng được cho là của Homer, kể về những sự kiện đẫm máu trong năm thứ mười của cuộc chiến tranh thành Troy. Tác phẩm Odyssey thường được xem là phần hậu truyện của kiệt tác này. 

  4. Argos (hay Argus Panoptes) là con quái vật khổng lồ có một trăm con mắt trong thần thoại Hy Lạp. Thần Hermes được phong tước hiệu "người kết liễu Argos" (Argeiphontes) sau khi dùng mưu kế giết chết con quái vật này. 

  5. Danh xưng mang ý nghĩa "con trai của Cronus". Trong thần thoại Hy Lạp, đây là cách gọi tôn kính dành cho thần Zeus, vị thần tối cao trị vì trên đỉnh Olympus. 

  6. Một trong những tên gọi chung (cùng với Achaean và Danaan) được Homer sử dụng trong các bản sử thi để chỉ những người Hy Lạp cổ đại tham gia vào cuộc chiến tranh thành Troy. 

  7. Bibliotheca Teubneriana (ấn bản Teubner) là một trong những tùng thư uy tín và nổi tiếng nhất thế giới chuyên xuất bản các tác phẩm văn học cổ điển Hy Lạp và La Mã, ra đời tại thành phố Leipzig (Leipsic), nước Đức.