QUYỂN XIII
ULYSSES RỜI SCHERIA VÀ TRỞ VỀ ITHACA.
Chàng vừa dứt lời, cả không gian bao la chìm vào tịch liêu. Khắp dãy hành lang râm mát, ai nấy đều lặng đi, say sưa đắm chìm trong ma lực từ câu chuyện của người anh hùng, cho đến khi đích thân nhà vua Alcinous lên tiếng phá vỡ sự tĩnh lặng.
"Ulysses," ngài nói, "bây giờ ngài đã đặt chân đến mái ấm của ta. Dẫu quá khứ có đọa đày ngài nhường nào, ta tin chắc ngài sẽ bình an hồi hương mà chẳng còn vướng phải tai ương nào nữa. Thế nhưng, với tất cả các vị đang tề tựu nơi đây - những người đêm lại đêm vẫn chung vui uống thứ hảo tửu của ta và lắng nghe người hát rong cất tiếng - ta có đôi điều muốn nhấn mạnh. Vị khách quý của chúng ta đã sửa soạn xong xuôi y phục, những món đồ vàng chạm trổ tinh xảo, cùng vô vàn báu vật mà các vị đã mang đến làm quà. Bởi vậy, lúc này mỗi chúng ta hãy biếu ngài ấy thêm một chiếc vạc đồng và một chiếc kiềng ba chân cỡ lớn. Chúng ta sẽ cùng nhau san sẻ chi phí ấy bằng cách thu một khoản thuế chung của vương quốc, bởi chẳng thể đòi hỏi một cá nhân nào tự mình gánh vác nổi món quà hậu hĩnh đến dường này."
Cả khán phòng thảy đều tán đồng ý nguyện ấy, rồi ai nấy nối gót trở về tư dinh chìm vào giấc ngủ. Khi Rạng Đông, đứa con của buổi sớm mai với những ngón tay ửng hồng, vừa ló dạng, họ liền hối hả xuống tàu, cẩn thận mang theo những chiếc vạc. Vua Alcinous cũng thân chinh bước lên boong, tận mắt kiểm tra xem mọi thứ đã được xếp đặt khéo léo, an toàn dưới những băng ghế hay chưa, phòng khi có thứ gì tuột ra gây thương tích cho các tay chèo. Hoàn tất công việc, họ quay lại hoàng cung của Alcinous để dự tiệc. Đích thân nhà vua đã làm lễ hiến tế một con bò đực dâng lên thần Jove vĩ đại, chúa tể muôn loài. Đám đông thui những tảng thịt bò béo ngậy, thỏa thuê tận hưởng một bữa đại tiệc mỹ vị. Sau đó, người hát rong được thần linh ban cho suối nguồn cảm hứng - Demodocus, bậc thầy thi ca được mọi người mến mộ - lại cất cao tiếng hát. Nhưng Ulysses thì bồn chồn chẳng yên. Đôi mắt chàng cứ đau đáu hướng về phía mặt trời, chỉ chực chờ hối thúc vầng thái dương lặn thật mau, bởi lẽ tâm can chàng đang khắc khoải mong mỏi giờ phút nhổ neo. Giống như một lão nông phải vật lộn cày xới mảnh ruộng hoang vu suốt ngày dài cùng đôi bò đực, tâm trí lúc nào cũng thèm thuồng một bữa tối no nê và hân hoan khi màn đêm sập xuống để đôi chân đã rã rời chực ngã quỵ được nghỉ ngơi, Ulysses cũng vỡ òa niềm vui sướng lúc ánh tà dương buông xuống. Tức thì, chàng cất lời với những người Phaeacia, đặc biệt hướng ánh nhìn về phía vua Alcinous:
"Thưa ngài, và tất thảy các vị, xin nói lời tạm biệt. Hãy dâng chén rượu tế và tiễn tôi lên đường trong niềm hoan hỉ, vì các vị đã thỏa mãn tột cùng ước nguyện trong trái tim tôi. Các vị không chỉ ban cho tôi một đội hộ tống, mà còn tặng vô số món quà trân quý. Xin thần linh chứng giám cho tôi sử dụng chúng sao cho thật xứng đáng. Cầu mong cho tôi sớm được thấy người vợ hiền thục của mình đang sống bình an giữa vòng tay bằng hữu, và cũng cầu mong các vị ở lại sẽ luôn đem tới niềm hạnh phúc viên mãn cho vợ con mình; cầu trời ban cho các vị mọi ân sủng tốt lành nhất, và nguyện cho tai ương mãi mãi tránh xa dân tộc Phaeacia."
Chàng dứt lời, và tất cả những ai có mặt đều gật đầu tán thưởng. Họ đồng lòng rằng chàng xứng đáng có một đội hộ tống uy nghi, bởi những lời lẽ chàng thốt ra quá đỗi thấu tình đạt lý. Thấy vậy, Alcinous liền quay sang truyền lệnh cho hầu cận: "Pontonous, hãy pha chút rượu ngon và rót cho tất cả mọi người. Chúng ta sẽ dâng lời khẩn cầu lên cha Jove, trước khi tiễn vị khách quý lên đường."
Pontonous tuân lệnh, cẩn trọng pha rượu rồi lần lượt dâng lên từng người. Những người khác, mỗi người từ chỗ ngồi của mình, trang nghiêm dâng chén rượu tế lên các vị thần bất tử ngự trị trên đỉnh thiêng. Riêng Ulysses, chàng đứng thẳng dậy, trịnh trọng đặt chiếc cốc đôi vào tay nữ hoàng Arete.
"Xin kính chào tạm biệt, thưa nữ hoàng," chàng nói, "mong người mãi mãi bình an, cho đến khi tuổi già và cái chết - định mệnh chung của toàn nhân loại - gõ cửa. Giờ đây tôi xin cáo từ. Nguyện cho nữ hoàng luôn ngập tràn hạnh phúc trong hoàng cung này, quây quần bên bầy con thơ, bên thần dân của người, và bên đức vua Alcinous uy dũng."
Vừa dứt lời, chàng sải bước qua ngưỡng cửa. Vua Alcinous lập tức sai một người hầu cận dẫn đường cho chàng ra bến tàu. Nữ hoàng Arete cũng cử ba thị nữ đi theo phụ giúp-người thứ nhất ôm theo những chiếc áo sơ mi sạch sẽ và áo choàng, người thứ hai khệ nệ khiêng chiếc rương đóng mộc chắc chắn, và người thứ ba mang theo lương thực cùng rượu vang. Khi đoàn người đến mép nước, các thủy thủ nhanh nhẹn đón lấy mọi thứ, xếp gọn khoang tàu cùng toàn bộ thức ăn thức uống. Riêng đối với Ulysses, họ ân cần trải một tấm thảm êm ái cùng một manh vải lanh trắng muốt trên boong để chàng có thể an giấc nơi đuôi tàu. Sau đó, chàng lặng lẽ bước lên, ngả lưng xuống mà không buông thêm một lời nào. Trong khi ấy, đội thủy thủ đồng loạt vào vị trí, tháo tung dây bện khỏi tảng đá đục lỗ. Vừa lúc những mái chèo vung lên rẽ sóng ra khơi, Ulysses liền chìm vào một giấc ngủ sâu thẳm, êm đềm - một giấc ngủ say sưa tựa như cõi vĩnh hằng.
Con thuyền xé gió lao vút đi, hệt như một cỗ xe tứ mã phi nước đại trên đường đua khi bầy chiến mã cảm nhận được những nhát roi quất mạnh. Mũi tàu cong vút lên kiêu hãnh như cổ của một con tuấn mã bứt tốc, bỏ lại phía sau một luồng sóng lớn cuộn trào bọt trắng xóa trên nền nước biển xanh thẳm. Chiếc thuyền lướt đi vững chãi trên hải trình của mình, đến mức ngay cả loài chim ưng dũng mãnh nhất trần gian cũng chẳng thể đuổi kịp tốc độ ấy. Cứ như thế, con tàu hiên ngang rẽ sóng vươn lên, mang theo một người anh hùng mưu trí tựa thần linh, đang say ngủ bình yên lạ thường. Mọi đau đớn, xót xa mà chàng từng nếm trải trên chiến trường đẫm máu hay trước những cơn sóng gầm gào của đại dương, lúc này thảy đều trôi vào dĩ vãng.
Khi ngôi sao mai rực rỡ nhất vừa ló rạng báo hiệu bình minh, con tàu bắt đầu tiến sát đất liền. Giờ đây, ở vương quốc Ithaca, có một bến cảng thuộc về vị thần biển già nua Phorcys. Nơi đó ngự trị giữa hai mũi đất hùng vĩ vươn ra phá vỡ đường bờ biển, ôm trọn lấy bến cảng vào lòng. Nhờ những vách đá này che chở, bến cảng luôn bình yên vô sự trước những cơn cuồng phong hay biển động dữ dội bên ngoài. Một khi đã lọt vào trong, tàu bè có thể an tâm thả mình tĩnh lặng mà chẳng cần buông neo. Nằm ở tận cùng bến cảng là một thân cây ô liu cổ thụ, và cách đó không xa, vươn lên một hang động hình vòm tráng lệ dành riêng để thờ phụng các tiên nữ Naiad1. Bên trong hang động bày biện những chiếc bát pha rượu và hũ rượu bằng đá tạc nguyên khối, nơi bầy ong chăm chỉ vo ve xây tổ. Hơn thế nữa, còn có những khung cửi khổng lồ bằng đá, nơi các tiên nữ đêm ngày dệt nên những tấm áo choàng màu tím của biển khơi - một cảnh tượng kỳ ảo đến khó tin - và những dòng suối trong vắt luôn tuôn chảy không ngừng. Hang động có hai lối vào: một lối hướng về phương Bắc để người trần mắt thịt có thể bước xuống, và lối kia hướng về phương Nam mang đậm vẻ huyền bí; người trần tuyệt đối không thể đi vào bằng ngả ấy, bởi đó là con đường linh thiêng chỉ dành cho các chư thần.
Thế là họ nhắm thẳng con tàu vào bến cảng quen thuộc này. Con tàu mang theo đà lao mạnh mẽ đến mức vút lên bờ đến tận nửa chiều dài thân tàu; tuy vậy, ngay khi vừa chạm đất, việc đầu tiên họ làm là cẩn thận nâng Ulysses cùng tấm thảm và tấm vải lanh ra khỏi khoang, nhẹ nhàng đặt chàng nằm xuống bãi cát mềm trong khi chàng vẫn đang say sưa mộng mị. Sau đó, họ lấy ra tất cả những món quà báu vật mà nữ thần Minerva đã thuyết phục người Phaeacia ban tặng chàng trước chuyến hồi hương. Họ xếp đặt mọi thứ một cách cẩn trọng gần gốc rễ cây ô liu, khuất xa con đường mòn, phòng khi có kẻ bộ hành nào đó đi ngang qua nổi lòng tham lấy trộm trước khi Ulysses tỉnh giấc; và rồi, họ thanh thản lên đường trở về quê nhà.
Nhưng Neptune nào đã vội lãng quên những lời đe dọa ngài từng giáng xuống đầu Ulysses. Ngài bèn đến bàn bạc cùng Jove: "Thưa cha Jove," ngài cất lời, "con sẽ chẳng còn giữ được vẻ tôn nghiêm giữa các vị thần muôn thuở nữa, nếu đám người trần mắt thịt như bọn Phaeacia - những kẻ mang chung dòng máu với con - lại cả gan coi thường con đến vậy. Con từng nói sẽ để mặc Ulysses hồi hương khi hắn đã nếm đủ khổ đau. Con chưa từng thề sẽ tước đoạt đường về của hắn, bởi con biết cha đã gật đầu ưng thuận và hứa rằng hắn sẽ được trở lại quê nhà. Ấy vậy mà giờ đây, lũ người kia dám khiêng hắn lên tàu giữa lúc say giấc nồng, rồi thả xuống Ithaca với biết bao báu vật rực rỡ từ đồng, vàng và những bộ xiêm y lộng lẫy. Khối tài sản ấy dẫu hắn có mang trọn vẹn phần chiến lợi phẩm rời khỏi thành Troy, không sứt mẻ mảy may trên vạn dặm đường về, thì cũng khó lòng sánh kịp!"
Chúa tể muôn loài Jove từ tốn đáp lời: "Ngài đang nói gì vậy, hỡi Chúa tể của Động đất uy quyền? Nào có vị thần nào trên đỉnh Olympus dám thiếu tôn kính với ngài. Sẽ thật kinh khủng biết bao nếu họ xúc phạm một đấng tối cao, lớn tuổi và đáng bậc tôn kính như ngài. Còn đối với giống loài trần tục, kẻ nào dám để thói ngông cuồng làm mờ mắt mà vô lễ với ngài, quyền sinh sát hắn luôn nằm trong tay ngài. Ngài cứ tùy ý trừng phạt theo cách mình muốn."
"Đáng lẽ con đã giáng đòn trừng phạt ngay tức khắc," Neptune đáp lời, "nếu con không e ngại làm phật lòng cha. Do đó, giờ đây con muốn giáng cơn cuồng nộ đánh nát con tàu Phaeacia giữa biển khơi, ngay lúc nó đang quay về sau nhiệm vụ hộ tống. Án phạt này sẽ vĩnh viễn tước đi thói quen đưa đường dẫn lối cho những kẻ lạ mặt của bọn chúng. Đồng thời, con sẽ giáng xuống một ngọn núi khổng lồ, chôn vùi toàn bộ thành phố kiêu hãnh kia."
"Bạn tốt của ta," Jove ôn tồn khuyên nhủ, "ta thiết nghĩ, ngay khoảnh khắc đám đông từ thành bang đang dõi mắt theo con tàu vút đi trên mặt nước, ngài hãy biến nó thành một khối đá khổng lồ mang hình hài chiến thuyền ngay sát đất liền. Phép màu này sẽ khiến muôn người kinh hãi tột độ. Rồi sau đó, ngài có thể phủ ngọn núi vĩ đại để chôn vùi thành phố của chúng."
Nghe những lời ấy, vị thần ôm trọn trái đất Neptune lập tức khởi hành đến Scheria, vương quốc của người Phaeacia. Ngài kiên nhẫn ẩn mình chờ đợi. Đến khi con tàu rẽ sóng lướt nhanh tới gần bờ, ngài mới sải bước tiến đến, dùng một cái vung tay mạnh mẽ hóa nó thành khối đá vô hồn, rồi ấn chặt lòng bàn tay uy quyền xuống để nó bám sâu vào đáy biển vĩnh hằng. Xong xuôi mọi việc, ngài liền quay gót rời đi.
Đám người Phaeacia bàng hoàng nhìn nhau xì xào bàn tán. Một người quay sang người đứng cạnh, hoảng hốt kêu lên: "Ôi hỡi các vị thần, kẻ nào quyền phép đến mức đóng đinh con tàu giữa biển khơi ngay lúc nó đang lao vào bến cảng thế kia? Mới chớp mắt đây thôi, chúng ta vẫn còn nhìn thấy rõ mồn một hình dáng của nó cơ mà!"
Họ cứ thế bàn tán xôn xao, hoàn toàn mù mờ trước thảm họa vừa giáng xuống. Bấy giờ, nhà vua Alcinous mới lên tiếng: "Giờ đây ta mới sực nhớ lại lời sấm truyền năm xưa của vua cha ta. Người từng cảnh báo rằng thần Neptune rồi sẽ ôm mối hận với chúng ta vì cái thói quen hộ tống mọi người vượt biển an toàn. Rằng sẽ có một ngày, ngài đánh nát một con tàu Phaeacia khi nó đang trên đường trở về từ chuyến hộ tống, rồi trùm một ngọn núi cao ngất để chôn vùi thành phố của chúng ta. Đó chính là những lời người cha già của ta từng răn dạy, và nay tất cả đang ứng nghiệm thành sự thật. Vậy nên, hỡi tất cả các vị, hãy nhất nhất làm theo những gì ta phán truyền. Trước tiên, chúng ta phải vĩnh viễn chấm dứt tục lệ cung cấp tàu hộ tống cho bất kỳ vị khách nào dạt đến nơi đây. Tiếp đó, hãy chọn ra mười hai con bò đực béo tốt nhất để làm lễ hiến tế dâng lên thần Neptune. May ra, ngài sẽ dủ lòng thương xót mà không chôn vùi thành phố của chúng ta dưới ngọn núi khổng lồ." Dân chúng nghe vậy đều run sợ, vội vã tản đi chuẩn bị những con bò đực dâng tế linh thiêng.
Trong lúc các thủ lĩnh và những vị cai trị xứ Phaeacia còn đang đứng quanh bàn thờ dâng lời cầu nguyện lên vua Neptune, thì cùng lúc đó, Ulysses bừng tỉnh giấc trên chính mảnh đất quê hương. Đã đằng đẵng bao năm xa cách, cảnh vật giờ đây bỗng trở nên vô cùng xa lạ trong mắt chàng. Hơn thế nữa, nữ thần Minerva, con gái của Jove, còn cố tình giăng một màn sương mù dày đặc bao trùm khắp chốn. Người làm vậy để che giấu tung tích của chàng, đồng thời muốn báo trước mọi chuyện, ngăn không cho người vợ, đồng bào hay bằng hữu nhận ra chàng trước khi chàng kịp trút cơn thịnh nộ lên đầu đám cầu hôn độc ác. Chính vì lẽ đó, vạn vật quanh chàng dường như thay hình đổi dạng-từ những nẻo đường thẳng tắp, những bến cảng êm đềm, cho đến những vách đá cheo leo và cả những rặng cây xinh đẹp. Vừa giật mình tỉnh giấc, đưa mắt nhìn quê cha đất tổ mà ngỡ như xa lạ, chàng tuyệt vọng vỗ mạnh hai tay vào đùi và bật khóc nức nở.
"Than ôi," chàng cất lời than vãn, "tôi lại lạc bước vào xứ sở của những kẻ nào đây? Liệu họ là đám người dã man, vô đạo, hay là những bậc hiếu khách, nhân từ? Giờ tôi phải cất giấu bao nhiêu kho báu này ở đâu, và thân tôi sẽ trôi dạt phương nào? Giá như tôi cứ nán lại chốn cũ cùng người Phaeacia; hoặc giả tôi tìm đến cầu cạnh một vị thủ lĩnh quyền uy nào đó, biết đâu họ sẽ rủ lòng thương và ban cho tôi một toán quân hộ tống. Còn hiện tại, tôi chẳng biết phải gửi gắm đống của cải này nơi nao, nhưng cũng chẳng dám bỏ mặc chúng phơi bày ở đây kẻo bị kẻ gian nẫng mất. Thật lòng mà nói, các thủ lĩnh và những nhà cai trị xứ Phaeacia đã đối xử tệ bạc khi vứt bỏ tôi nơi đất khách quê người. Họ từng hứa đưa tôi về tận Ithaca, nhưng rồi lại nuốt lời. Nguyện cầu thần Jove, đấng bảo hộ của những kẻ yếu thế, sẽ giáng đòn trừng phạt lên đầu chúng, bởi ngài thấu thị vạn vật và chẳng bao giờ dung túng cho những kẻ làm càn. Tuy vậy, có lẽ tôi vẫn nên kiểm lại hành trang để xem đám thủy thủ có lén nẫng đi món nào không."
Nghĩ vậy, chàng bèn lôi hết những đồng tiền đồng, chiếc vạc chế tác tinh xảo, số vàng thỏi cùng toàn bộ áo quần ra đếm, và chẳng thấy thiếu hụt thứ gì. Thế nhưng, nỗi sầu muộn vì phải chịu cảnh xa quê vẫn không ngừng cào xé tâm can. Chàng thẫn thờ sải bước dọc theo bờ biển ầm ào sóng vỗ, nức nở than trách cho số phận hẩm hiu. Đúng lúc ấy, nữ thần Minerva tiến lại gần chàng trong bộ dạng của một cậu mục đồng mang vẻ đẹp thanh tao cùng phong thái kiêu hãnh của một bậc vương giả. Cậu khoác hờ chiếc áo choàng gấp đôi loại thượng hạng trên vai, xỏ đôi dép xăng-đan ôm gọn đôi bàn chân thanh tú, tay cầm hờ một ngọn lao. Vừa thấy cậu, Ulysses mừng rỡ bước ngay tới.
"Này cậu," chàng nói, "cậu chính là người đầu tiên tôi may mắn được tao ngộ ở xứ này. Tôi xin gửi lời chào và khẩn khoản mong cậu rủ lòng thương xót. Xin hãy dang tay bảo vệ chút tài sản này cùng với thân xác bọt bèo của tôi, bởi tôi đang ôm gối cậu và thành kính cầu xin cậu tựa như một vị thần. Vậy xin cậu hãy nói thật cho tôi hay, đây là vùng đất nào và thuộc về quốc gia nao? Những người dân sinh sống ở đây là ai? Tôi đang đứng trên một hòn đảo mịt mùng, hay đây là bờ biển của một dải lục địa bao la nào đó?"
Minerva đáp lời: "Người lạ mặt, hẳn ông phải là một người vô cùng ngây ngô, hoặc giả ông từ một xứ sở xa xôi diệu vợi nào đó lưu lạc tới đây nên mới không biết tên gọi của vùng đất này. Nó vốn vang danh thiên hạ, nức tiếng gần xa từ Đông sang Tây. Dù địa thế có phần hiểm trở, gập ghềnh, chẳng mấy thuận lợi cho xe ngựa lại qua, nhưng xét về mọi mặt, đây tuyệt nhiên không phải là một hòn đảo nghèo nàn. Đất đai nơi đây ươm mầm được mọi loại ngũ cốc và những giàn nho trĩu quả, bởi quanh năm luôn được tưới mát nhờ mưa thuận gió hòa và sương đêm thấm đẫm. Đồng cỏ thì dồi dào, mặc sức cho từng đàn dê bò thong dong gặm cỏ. Cây cối bạt ngàn với đủ mọi loại gỗ quý, xen lẫn những mạch nước ngầm tuôn chảy không ngừng. Vì lẽ đó, thưa ông, danh xưng Ithaca đã vang xa đến tận thành Troy, một nơi mà ta nghe đồn là nằm cách xứ Achaea này một khoảng cách thăm thẳm."
Nghe những lời Minerva vừa thốt ra, Ulysses mừng rỡ khôn xiết khi biết mình đã thực sự đặt chân lên mảnh đất quê hương. Chàng toan cất lời đáp, nhưng bản tính cẩn trọng đầy mưu lược cố hữu lại trỗi dậy, khiến chàng giấu nhẹm sự thật và buông lời bịa đặt một câu chuyện dối trá.
"Tôi từng nghe danh Ithaca," chàng thủng thẳng kể, "khi còn đang nán lại đảo Crete bên kia bờ đại dương, và có vẻ như số phận đã xui khiến tôi cập bến nơi đây cùng tất thảy đống châu báu này. Tôi đã để lại một lượng của cải tương đương cho các con ở quê nhà, rồi vội vã tháo chạy chỉ vì lỡ tay hạ sát Orsilochus, con trai của Idomeneus, kẻ có đôi chân lẹ làng bậc nhất xứ Crete. Nguyên do là hắn toan nẫng tay trên những chiến lợi phẩm mà tôi đã bất chấp hiểm nguy, vào sinh ra tử trên chiến trường thành Troy và vượt muôn trùng sóng dữ mới giành được. Hắn vu oan rằng tôi đã không làm tròn bổn phận chư hầu phụng sự cha hắn, mà lại tự huyễn hoặc bản thân thành một lãnh chúa độc lập. Nuốt không trôi cục tức, tôi cùng một tên thuộc hạ đã mai phục bên vệ đường và phóng giáo kết liễu hắn khi hắn đang trên đường từ vùng ngoại ô vào thành. Đêm đó trời tối đen như mực, chẳng ai mảy may phát hiện ra tung tích của chúng tôi. Kẻ giết người vẫn là một ẩn số. Ngay sau khi ra tay, tôi tức tốc tìm đến một con tàu của người Phoenicia, nài nỉ những người chủ tàu cho quá giang và thả tôi xuống Pylos hoặc Elis-vùng đất do người Epean cai quản, đổi lại tôi sẵn sàng dâng cho họ lượng chiến lợi phẩm đủ để họ hài lòng. Họ vốn chẳng mang ác tâm gì, nhưng những cơn gió ngược đã đẩy tàu chệch hướng, buộc chúng tôi phải gồng mình chèo chống đến tận đêm khuya mới dạt vào đây. Cả bọn đã phải nỗ lực tột độ mới đưa được con tàu vào bến cảng. Lúc bấy giờ, ai nấy đều rã rời, bụng đói meo nhưng chẳng ai buồn đả động đến bữa tối. Chúng tôi cứ thế lê bước lên bờ và gục xuống ngủ say như chết. Quá mệt mỏi, tôi chìm vào giấc ngủ ngay tắp lự. Thế là họ lẳng lặng khiêng đống đồ đạc của tôi xuống tàu, đặt ngay ngắn bên cạnh chỗ tôi đang say giấc trên bãi cát. Xong xuôi, họ nhổ neo trực chỉ Sidonia, bỏ mặc tôi trơ trọi giữa nỗi tuyệt vọng cùng cực."
Đó là câu chuyện chàng thêu dệt, thế nhưng Minerva chỉ mỉm cười và khẽ khàng vươn tay vỗ về chàng đầy trìu mến. Ngay sau đó, Minerva rũ bỏ lốt mục đồng, hiện thân thành một người phụ nữ kiều diễm, uy nghi và thông tuệ. "Nhà ngươi quả là một tên bịp bợm lọc lõi," người cất lời, "liệu có kẻ nào đủ sức qua mặt nhà ngươi trong mọi ngón nghề xảo quyệt, kể cả khi kẻ đối đầu có là một vị thần đi chăng nữa? Cái đồ liều lĩnh, đầy mưu mô, không bao giờ biết mỏi mệt với những trò dối trá! Lẽ nào ngay cả khi đã đặt chân lên chính quê cha đất tổ, nhà ngươi vẫn không chịu gột bỏ những mánh khóe và bản tính gian ngoan ăn sâu vào máu thịt ấy sao? Thôi được, ta sẽ chẳng chấp nhặt làm gì, bởi suy cho cùng, cả hai ta đều biết dùng mưu mẹo đúng lúc đúng chỗ. Trong cõi nhân sinh, nhà ngươi là một quân sư xuất chúng và một nhà hùng biện tài ba bậc nhất; còn giữa chốn thiên đình, tài ngoại giao và sự tinh tế của ta cũng xếp vào hàng vô đối. Thế nhà ngươi không nhận ra ta là Minerva, con gái của Jove sao? Chính ta là người đã luôn kề vai sát cánh, dõi theo nhà ngươi qua bao cơn hoạn nạn, và cũng chính ta đã khiến thần dân Phaeacia đem lòng yêu mến nhà ngươi sâu sắc. Còn bây giờ, ta hiện diện ở đây để cùng nhà ngươi tính toán mọi bề, giúp nhà ngươi cất giấu cẩn thận số châu báu mà ta đã khiến người Phaeacia ban tặng. Ta cũng muốn hé lộ cho nhà ngươi hay về những giông bão đang rình rập ngay trong chính ngôi nhà của mình. Nhà ngươi buộc phải đối mặt với chúng, nhưng tuyệt đối không được để lộ tung tích cho bất kỳ ai, dù là nam hay nữ, biết rằng nhà ngươi đã hồi hương. Hãy cắn răng chịu đựng tất cả, nhẫn nhục trước sự xấc xược của đám người kia mà không buông lấy nửa lời oán thán."
Ulysses bèn đáp lời: "Thưa nữ thần, dẫu một người phàm có tỏ tường đến đâu, thì trước muôn vàn hình tướng thiên biến vạn hóa của Người, họ cũng đành bất lực, chẳng thể phân biệt nổi đó có phải là Người hay không. Song, có một điều con ghi khắc sâu tận tâm can: Người đã chở che con hết mực trong suốt quãng thời gian đội quân Achaea chúng con phơi thây chiến đấu trước thành Troy. Nhưng kể từ cái ngày chúng con nhổ neo rời khỏi thành phố điêu tàn của vua Priam, để rồi bị cơn thịnh nộ của thiên đình chia cắt tung tóe-từ dạo ấy, hỡi Minerva, con chẳng còn được diện kiến bóng hình Người. Con cũng chẳng thấy Người hiển linh trên boong tàu để ra tay tương trợ trong cơn bĩ cực; bỏ mặc con bơ vơ lang bạt, nếm trải đủ mọi đắng cay sầu muộn, cho đến tận khi các vị thần rủ lòng thương cứu vớt con khỏi kiếp nạn và đẩy con trôi dạt vào thành bang Phaeacia. Chính tại nơi đó, Người đã thầm cổ vũ và dẫn lối con vào thành. Giờ đây, nhân danh người cha vĩ đại của Người, con khẩn thiết cầu xin Người hãy ban cho con một lời nói thật, bởi thâm tâm con vẫn chưa dám tin mình đã thực sự hồi hương về Ithaca. Phải chăng con đang lưu lạc ở một xứ sở xa lạ nào đó, và những lời Người vừa nói chỉ là những lời bông đùa, lừa gạt? Xin Người hãy nói thật cho con hay, liệu con đã thực sự trở về đất nước của mình chưa?"
"Trong đầu nhà ngươi lúc nào cũng chứa đầy những hoài nghi mưu toan như thế," Minerva ôn tồn đáp, "và đó cũng chính là lý do khiến ta chẳng nỡ bỏ mặc nhà ngươi giữa biển khổ trầm luân. Nhà ngươi quá đỗi khôn ngoan, sắc sảo và lõi đời. Phàm là kẻ khác, sau một chuyến hành trình dài đằng đẵng như vậy, ắt hẳn sẽ lao ngay về nhà để đoàn tụ vợ con. Thế nhưng, nhà ngươi dường như chẳng hề bận tâm hỏi han hay ngóng trông tin tức của họ, cho đến khi tự mình thử thách lòng chung thủy của người vợ tảo tần-người vẫn ngày đêm héo hon sầu thảm mỏi mắt ngóng chờ nhà ngươi, người đã đánh mất sự bình yên bất kể ngày đêm bởi những giọt lệ tuôn rơi vì nhà ngươi. Còn về việc ta không kề cận nhà ngươi, thực tình ta chưa bao giờ mảy may lo lắng cho an nguy của nhà ngươi. Ta tin chắc rằng dù có mất đi toàn bộ binh lính, nhà ngươi vẫn sẽ bình an vô sự trở về. Hơn nữa, ta chẳng muốn chuốc oán với người bác Neptune của ta, kẻ vốn dĩ chưa bao giờ nguôi ngoai cơn thịnh nộ kể từ khi nhà ngươi chọc mù mắt con trai ngài. Thôi được, giờ ta sẽ phơi bày địa hình của vùng đất này cho nhà ngươi chiêm ngưỡng, may ra lúc đó nhà ngươi mới chịu tin ta. Trông kìa, đây chính là bến cảng của vị thần biển già Phorcys, còn đây là cây ô liu sừng sững mọc ngay đầu bến; gần đó là hang động linh thiêng từng được dùng làm nơi thờ phụng các tiên nữ Naiad; và đây, chẳng phải là cái hang động hình vòm nơi nhà ngươi vẫn thường thành tâm dâng lên muôn vàn lễ vật hecatomb2 để tạ ơn các tiên nữ hay sao? Rồi kia nữa, chính là ngọn núi Neritum bạt ngàn cây lá."
Vừa dứt lời, nữ thần khẽ vung tay xua tan lớp sương mù dày đặc, để lộ ra cảnh sắc quê hương quen thuộc. Nhìn quê hương rành rành trước mắt, niềm hân hoan tột độ dâng trào trong lồng ngực Ulysses. Chàng gục xuống, đặt nụ hôn thành kính lên mảnh đất màu mỡ thấm đẫm ân tình. Rồi chàng chắp tay hướng lên trời cao, thành tâm dâng lời cầu nguyện: "Hỡi các tiên nữ Naiad, những người con gái cao quý của Jove, con đã từng tuyệt vọng đinh ninh rằng đời này kiếp này chẳng còn cơ hội được chiêm ngưỡng dung nhan các vị nữa. Vậy nên giờ đây, con xin dâng lên các vị lời chào đón với trọn vẹn niềm thương kính vô bờ, và con nguyện sẽ tiếp tục dâng lên các vị những món lễ vật hậu hĩnh như thuở nào, miễn là người con gái uy nghi của Jove rủ lòng thương ban cho con sự sống, và chở che cho con trai con khôn lớn trưởng thành."
"Hãy can đảm lên và đừng bận tâm về chuyện ấy nữa," nữ thần Minerva đáp lời. "Thay vào đó, chúng ta hãy bắt tay vào việc cất giấu đồ đạc của nhà ngươi vào trong hang động ngay lập tức, nơi chúng sẽ được an toàn tuyệt đối. Hãy cùng xem chúng ta có thể xoay xở ra sao cho vẹn toàn nhất."
Dứt lời, nữ thần bước xuống hang sâu để tìm kiếm những chốn ẩn náu an toàn nhất. Trong khi đó, Ulysses tự tay khuân vác tất cả kho báu bằng vàng, đồng cùng những bộ y phục thượng hạng mà người dân Phaeacia đã gửi tặng. Họ cẩn thận cất giữ mọi thứ đâu ra đấy. Xong xuôi, Minerva dịch chuyển một tảng đá lớn chặn kín cửa hang. Sau đó, hai người cùng ngồi xuống bên bộ rễ gốc ô liu khổng lồ, bàn bạc mưu kế để tiêu diệt đám cầu hôn tàn ác.
"Ulysses," Minerva cất lời, "người con trai cao quý của Laertes! Hãy vắt óc nghĩ xem nhà ngươi có thể ra tay thế nào với những kẻ khốn nạn đã lộng hành trong chính ngôi nhà của nhà ngươi suốt ba năm ròng rã. Chúng trơ tráo tán tỉnh vợ nhà ngươi, dâng tặng những món quà cưới đắt giá. Trong khi đó, nàng chẳng làm gì khác ngoài việc khóc than cho sự vắng mặt của nhà ngươi. Nàng gieo hy vọng và khéo léo gửi đi những thông điệp khích lệ đến từng tên trong bọn chúng, tuy trong thâm tâm nàng lại mang một ý định hoàn toàn trái ngược với những lời đường mật ấy."
Ulysses trầm ngâm đáp lời: "Quả thật, thưa nữ thần, nếu Người không cảnh báo cho con kịp thời, có lẽ con cũng đã phải chịu một kết cục bi thảm ngay trong chính ngôi nhà của mình, tựa như số phận nghiệt ngã của Agamemnon. Cúi xin Người hãy chỉ lối cho con cách báo thù vẹn toàn nhất. Xin Người hãy kề vai sát cánh, truyền ngọn lửa can đảm vào trái tim con, hệt như cái ngày chúng con gỡ bỏ chiếc vương miện tuyệt mỹ khỏi đầu thành Troy kiêu hãnh. Chỉ cần Người giúp con bây giờ như đã từng làm thuở ấy, con nguyện chiến đấu với ba trăm kẻ thù, miễn là Người, thưa nữ thần, luôn ở bên con."
"Cứ tin vào ta," nữ thần quả quyết. "Một khi chúng ta đã bắt tay vào hành động, ta sẽ không rời mắt khỏi nhà ngươi lấy nửa bước. Ta có thể hình dung ra cảnh tượng một số kẻ đang trơ trẽn bòn rút tài sản của nhà ngươi sẽ phải bỏ mạng, nhuốm máu và óc của chúng lên khắp nền sân gạch. Ta sẽ khởi đầu bằng cách cải trang cho nhà ngươi, sao cho không một phàm nhân nào có thể nhận ra. Ta sẽ hằn lên cơ thể nhà ngươi những nếp nhăn già cỗi, tước đi mái tóc vàng óng ả. Ta sẽ khoác lên người nhà ngươi một bộ dạng rách rưới khiến ai nhìn thấy cũng phải kinh tởm. Ta sẽ làm lu mờ đi đôi mắt tinh anh của nhà ngươi, biến nhà ngươi thành một gã ăn mày gớm ghiếc trong mắt đám cầu hôn, vợ nhà ngươi, và cả đứa con trai mà nhà ngươi đã để lại thuở nhỏ. Sau khi cải trang, hãy lập tức tìm đến chỗ gã chăn lợn đang trông nom bầy gia súc của nhà ngươi. Gã luôn một lòng trung thành với nhà ngươi, tận tụy với Penelope và con trai nhà ngươi. Nhà ngươi sẽ thấy gã đang chăn bầy lợn gần tảng đá có tên là Raven, bên dòng suối Arethusa. Bầy lợn ngày ngày vỗ béo bằng hạt dẻ gai và uống nước suối trong lành theo thói quen của chúng. Hãy ở lại với gã, dò hỏi xem mọi sự đang diễn ra như thế nào. Trong lúc đó, ta sẽ thân chinh đến Sparta để tìm con trai nhà ngươi. Thằng bé hiện đang ở cùng Menelaus tại Lacedaemon, nơi nó lặn lội tìm đến hòng mong dò la xem nhà ngươi còn sống hay đã thác."
"Nhưng tại sao," Ulysses cất tiếng hỏi, "Người không cho thằng bé biết ngay từ đầu, bởi Người vốn đã thấu tỏ mọi chuyện? Lẽ nào Người cũng muốn nó phải lênh đênh chèo thuyền, nếm trải đủ mọi nỗi gian truân, trong khi bọn người kia vẫn nhởn nhơ ăn bám vào cơ ngơi của nó?"
Nữ thần Minerva ôn tồn đáp: "Nhà ngươi chớ bận tâm về thằng bé. Chính ta đã phái nó đi, cốt để nó có thể gặt hái được vinh quang từ chuyến hành trình này. Thằng bé chẳng phải chịu đựng một chút cực nhọc nào. Nó đang sống rất thoải mái cùng Menelaus, giữa những tiện nghi và của cải sung túc bậc nhất. Đám cầu hôn kia đã căng buồm ra khơi, xảo quyệt nằm phục kích hòng hạ sát thằng bé trước khi nó kịp đặt chân về nhà. Nhưng ta không tin chúng sẽ đạt được mưu đồ đê hèn ấy. Trái lại, chính một số kẻ đang phung phí tài sản của nhà ngươi sẽ tự rước lấy kết cục chôn vùi dưới nấm mồ sâu."
Vừa dứt lời, Minerva nhẹ nhàng chạm cây đũa phép vào chàng. Tức thì, những nếp nhăn già nua hằn sâu lên cơ thể chàng, mái tóc vàng óng ả rụng sạch, da thịt trên khắp người trở nên héo úa, tàn tạ. Nữ thần làm lu mờ đi đôi mắt đẹp rạng ngời của chàng, rồi thay y phục cho chàng. Người ném cho chàng một mảnh giẻ cũ nát để quấn quanh thân, cùng một chiếc áo chẽn rách bươm, cáu bẩn và ám đầy khói bụi nhơ nhuốc. Người đưa thêm cho chàng một tấm da hươu thô ráp, chưa được thuộc để khoác ngoài, rồi trang bị cho chàng một cây gậy tồi tàn cùng chiếc túi xách thủng lỗ chỗ, lủng lẳng trên vai bằng một sợi dây thừng bện xoắn.
Sau khi đã cẩn thận vạch ra mưu kế chu toàn, hai người họ tạm nói lời chia tay. Nữ thần Minerva lập tức khởi hành đi thẳng đến Lacedaemon để tìm đón Telemachus.
BOOK XIII
ULYSSES LEAVES SCHERIA AND RETURNS TO ITHACA.
Thus did he speak, and they all held their peace throughout the covered cloister, enthralled by the charm of his story, till presently Alcinous began to speak.
“Ulysses,” said he, “now that you have reached my house I doubt not you will get home without further misadventure no matter how much you have suffered in the past. To you others, however, who come here night after night to drink my choicest wine and listen to my bard, I would insist as follows. Our guest has already packed up the clothes, wrought gold,1 and other valuables which you have brought for his acceptance; let us now, therefore, present him further, each one of us, with a large tripod and a cauldron. We will recoup ourselves by the levy of a general rate; for private individuals cannot be expected to bear the burden of such a handsome present.”
Every one approved of this, and then they went home to bed each in his own abode. When the child of morning, rosy-fingered Dawn, appeared they hurried down to the ship and brought their cauldrons with them. Alcinous went on board and saw everything so securely stowed under the ship’s benches that nothing could break adrift and injure the rowers. Then they went to the house of Alcinous to get dinner, and he sacrificed a bull for them in honour of Jove who is the lord of all. They set the steaks to grill and made an excellent dinner, after which the inspired bard, Demodocus, who was a favourite with every one, sang to them; but Ulysses kept on turning his eyes towards the sun, as though to hasten his setting, for he was longing to be on his way. As one who has been all day ploughing a fallow field with a couple of oxen keeps thinking about his supper and is glad when night comes that he may go and get it, for it is all his legs can do to carry him, even so did Ulysses rejoice when the sun went down, and he at once said to the Phaeacians, addressing himself more particularly to King Alcinous:
“Sir, and all of you, farewell. Make your drink-offerings and send me on my way rejoicing, for you have fulfilled my heart’s desire by giving me an escort, and making me presents, which heaven grant that I may turn to good account; may I find my admirable wife living in peace among friends,2 and may you whom I leave behind me give satisfaction to your wives and children;3 may heaven vouchsafe you every good grace, and may no evil thing come among your people.”
Thus did he speak. His hearers all of them approved his saying and agreed that he should have his escort inasmuch as he had spoken reasonably. Alcinous therefore said to his servant, “Pontonous, mix some wine and hand it round to everybody, that we may offer a prayer to father Jove, and speed our guest upon his way.”
Pontonous mixed the wine and handed it to every one in turn; the others each from his own seat made a drink-offering to the blessed gods that live in heaven, but Ulysses rose and placed the double cup in the hands of queen Arete.
“Farewell, queen,” said he, “henceforward and for ever, till age and death, the common lot of mankind, lay their hands upon you. I now take my leave; be happy in this house with your children, your people, and with king Alcinous.”
As he spoke he crossed the threshold, and Alcinous sent a man to conduct him to his ship and to the sea shore. Arete also sent some maidservants with him-one with a clean shirt and cloak, another to carry his strong box, and a third with corn and wine. When they got to the water side the crew took these things and put them on board, with all the meat and drink; but for Ulysses they spread a rug and a linen sheet on deck that he might sleep soundly in the stern of the ship. Then he too went on board and lay down without a word, but the crew took every man his place and loosed the hawser from the pierced stone to which it had been bound. Thereon, when they began rowing out to sea, Ulysses fell into a deep, sweet, and almost deathlike slumber.4
The ship bounded forward on her way as a four in hand chariot flies over the course when the horses feel the whip. Her prow curvetted as it were the neck of a stallion, and a great wave of dark blue water seethed in her wake. She held steadily on her course, and even a falcon, swiftest of all birds, could not have kept pace with her. Thus, then, she cut her way through the water, carrying one who was as cunning as the gods, but who was now sleeping peacefully, forgetful of all that he had suffered both on the field of battle and by the waves of the weary sea.
When the bright star that heralds the approach of dawn began to show, the ship drew near to land.5 Now there is in Ithaca a haven of the old merman Phorcys, which lies between two points that break the line of the sea and shut the harbour in. These shelter it from the storms of wind and sea that rage outside, so that, when once within it, a ship may lie without being even moored. At the head of this harbour there is a large olive tree, and at no great distance a fine overarching cavern sacred to the nymphs who are called Naiads.6 There are mixing bowls within it and wine-jars of stone, and the bees hive there. Moreover, there are great looms of stone on which the nymphs weave their robes of sea purple-very curious to see-and at all times there is water within it. It has two entrances, one facing North by which mortals can go down into the cave, while the other comes from the South and is more mysterious; mortals cannot possibly get in by it, it is the way taken by the gods.
Into this harbour, then, they took their ship, for they knew the place.7 She had so much way upon her that she ran half her own length on to the shore;8 when, however, they had landed, the first thing they did was to lift Ulysses with his rug and linen sheet out of the ship, and lay him down upon the sand still fast asleep. Then they took out the presents which Minerva had persuaded the Phaeacians to give him when he was setting out on his voyage homewards. They put these all together by the root of the olive tree, away from the road, for fear some passer by9 might come and steal them before Ulysses awoke; and then they made the best of their way home again.
But Neptune did not forget the threats with which he had already threatened Ulysses, so he took counsel with Jove. “Father Jove,” said he, “I shall no longer be held in any sort of respect among you gods, if mortals like the Phaeacians, who are my own flesh and blood, show such small regard for me. I said I would let Ulysses get home when he had suffered sufficiently. I did not say that he should never get home at all, for I knew you had already nodded your head about it, and promised that he should do so; but now they have brought him in a ship fast asleep and have landed him in Ithaca after loading him with more magnificent presents of bronze, gold, and raiment than he would ever have brought back from Troy, if he had had his share of the spoil and got home without misadventure.”
And Jove answered, “What, O Lord of the Earthquake, are you talking about? The gods are by no means wanting in respect for you. It would be monstrous were they to insult one so old and honoured as you are. As regards mortals, however, if any of them is indulging in insolence and treating you disrespectfully, it will always rest with yourself to deal with him as you may think proper, so do just as you please.”
“I should have done so at once,” replied Neptune, “if I were not anxious to avoid anything that might displease you; now, therefore, I should like to wreck the Phaeacian ship as it is returning from its escort. This will stop them from escorting people in future; and I should also like to bury their city under a huge mountain.”
“My good friend,” answered Jove, “I should recommend you at the very moment when the people from the city are watching the ship on her way, to turn it into a rock near the land and looking like a ship. This will astonish everybody, and you can then bury their city under the mountain.”
When earth-encircling Neptune heard this he went to Scheria where the Phaeacians live, and stayed there till the ship, which was making rapid way, had got close in. Then he went up to it, turned it into stone, and drove it down with the flat of his hand so as to root it in the ground. After this he went away.
The Phaeacians then began talking among themselves, and one would turn towards his neighbour, saying, “Bless my heart, who is it that can have rooted the ship in the sea just as she was getting into port? We could see the whole of her only a moment ago.”
This was how they talked, but they knew nothing about it; and Alcinous said, “I remember now the old prophecy of my father. He said that Neptune would be angry with us for taking every one so safely over the sea, and would one day wreck a Phaeacian ship as it was returning from an escort, and bury our city under a high mountain. This was what my old father used to say, and now it is all coming true.10 Now therefore let us all do as I say; in the first place we must leave off giving people escorts when they come here, and in the next let us sacrifice twelve picked bulls to Neptune that he may have mercy upon us, and not bury our city under the high mountain.” When the people heard this they were afraid and got ready the bulls.
Thus did the chiefs and rulers of the Phaeacians pray to king Neptune, standing round his altar; and at the same time11 Ulysses woke up once more upon his own soil. He had been so long away that he did not know it again; moreover, Jove’s daughter Minerva had made it a foggy day, so that people might not know of his having come, and that she might tell him everything without either his wife or his fellow citizens and friends recognising him12 until he had taken his revenge upon the wicked suitors. Everything, therefore, seemed quite different to him-the long straight tracks, the harbours, the precipices, and the goodly trees, appeared all changed as he started up and looked upon his native land. So he smote his thighs with the flat of his hands and cried aloud despairingly.
“Alas,” he exclaimed, “among what manner of people am I fallen? Are they savage and uncivilised or hospitable and humane? Where shall I put all this treasure, and which way shall I go? I wish I had staid over there with the Phaeacians; or I could have gone to some other great chief who would have been good to me and given me an escort. As it is I do not know where to put my treasure, and I cannot leave it here for fear somebody else should get hold of it. In good truth the chiefs and rulers of the Phaeacians have not been dealing fairly by me, and have left me in the wrong country; they said they would take me back to Ithaca and they have not done so: may Jove the protector of suppliants chastise them, for he watches over everybody and punishes those who do wrong. Still, I suppose I must count my goods and see if the crew have gone off with any of them.”
He counted his goodly coppers and cauldrons, his gold and all his clothes, but there was nothing missing; still he kept grieving about not being in his own country, and wandered up and down by the shore of the sounding sea bewailing his hard fate. Then Minerva came up to him disguised as a young shepherd of delicate and princely mien, with a good cloak folded double about her shoulders; she had sandals on her comely feet and held a javelin in her hand. Ulysses was glad when he saw her, and went straight up to her.
“My friend,” said he, “you are the first person whom I have met with in this country; I salute you, therefore, and beg you to be well disposed towards me. Protect these my goods, and myself too, for I embrace your knees and pray to you as though you were a god. Tell me, then, and tell me truly, what land and country is this? Who are its inhabitants? Am I on an island, or is this the sea board of some continent?”
Minerva answered, “Stranger, you must be very simple, or must have come from somewhere a long way off, not to know what country this is. It is a very celebrated place, and everybody knows it East and West. It is rugged and not a good driving country, but it is by no means a bad island for what there is of it. It grows any quantity of corn and also wine, for it is watered both by rain and dew; it breeds cattle also and goats; all kinds of timber grow here, and there are watering places where the water never runs dry; so, sir, the name of Ithaca is known even as far as Troy, which I understand to be a long way off from this Achaean country.”
Ulysses was glad at finding himself, as Minerva told him, in his own country, and he began to answer, but he did not speak the truth, and made up a lying story in the instinctive wiliness of his heart.
“I heard of Ithaca,” said he, “when I was in Crete beyond the seas, and now it seems I have reached it with all these treasures. I have left as much more behind me for my children, but am flying because I killed Orsilochus son of Idomeneus, the fleetest runner in Crete. I killed him because he wanted to rob me of the spoils I had got from Troy with so much trouble and danger both on the field of battle and by the waves of the weary sea; he said I had not served his father loyally at Troy as vassal, but had set myself up as an independent ruler, so I lay in wait for him with one of my followers by the road side, and speared him as he was coming into town from the country. It was a very dark night and nobody saw us; it was not known, therefore, that I had killed him, but as soon as I had done so I went to a ship and besought the owners, who were Phoenicians, to take me on board and set me in Pylos or in Elis where the Epeans rule, giving them as much spoil as satisfied them. They meant no guile, but the wind drove them off their course, and we sailed on till we came hither by night. It was all we could do to get inside the harbour, and none of us said a word about supper though we wanted it badly, but we all went on shore and lay down just as we were. I was very tired and fell asleep directly, so they took my goods out of the ship, and placed them beside me where I was lying upon the sand. Then they sailed away to Sidonia, and I was left here in great distress of mind.”
Such was his story, but Minerva smiled and caressed him with her hand. Then she took the form of a woman, fair, stately, and wise, “He must be indeed a shifty lying fellow,” said she, “who could surpass you in all manner of craft even though you had a god for your antagonist. Dare devil that you are, full of guile, unwearying in deceit, can you not drop your tricks and your instinctive falsehood, even now that you are in your own country again? We will say no more, however, about this, for we can both of us deceive upon occasion-you are the most accomplished counsellor and orator among all mankind, while I for diplomacy and subtlety have no equal among the gods. Did you not know Jove’s daughter Minerva-me, who have been ever with you, who kept watch over you in all your troubles, and who made the Phaeacians take so great a liking to you? And now, again, I am come here to talk things over with you, and help you to hide the treasure I made the Phaeacians give you; I want to tell you about the troubles that await you in your own house; you have got to face them, but tell no one, neither man nor woman, that you have come home again. Bear everything, and put up with every man’s insolence, without a word.”
And Ulysses answered, “A man, goddess, may know a great deal, but you are so constantly changing your appearance that when he meets you it is a hard matter for him to know whether it is you or not. This much, however, I know exceedingly well; you were very kind to me as long as we Achaeans were fighting before Troy, but from the day on which we went on board ship after having sacked the city of Priam, and heaven dispersed us-from that day, Minerva, I saw no more of you, and cannot ever remember your coming to my ship to help me in a difficulty; I had to wander on sick and sorry till the gods delivered me from evil and I reached the city of the Phaeacians, where you encouraged me and took me into the town.13 And now, I beseech you in your father’s name, tell me the truth, for I do not believe I am really back in Ithaca. I am in some other country and you are mocking me and deceiving me in all you have been saying. Tell me then truly, have I really got back to my own country?”
“You are always taking something of that sort in your head,” replied Minerva, “and that is why I cannot desert you in your afflictions; you are so plausible, shrewd and shifty. Any one but yourself on returning from so long a voyage would at once have gone home to see his wife and children, but you do not seem to care about asking after them or hearing any news about them till you have exploited your wife, who remains at home vainly grieving for you, and having no peace night or day for the tears she sheds on your behalf. As for my not coming near you, I was never uneasy about you, for I was certain you would get back safely though you would lose all your men, and I did not wish to quarrel with my uncle Neptune, who never forgave you for having blinded his son.14 I will now, however, point out to you the lie of the land, and you will then perhaps believe me. This is the haven of the old merman Phorcys, and here is the olive tree that grows at the head of it; [near it is the cave sacred to the Naiads;15 here too is the overarching cavern in which you have offered many an acceptable hecatomb to the nymphs, and this is the wooded mountain Neritum.”
As she spoke the goddess dispersed the mist and the land appeared. Then Ulysses rejoiced at finding himself again in his own land, and kissed the bounteous soil; he lifted up his hands and prayed to the nymphs, saying, “Naiad nymphs, daughters of Jove, I made sure that I was never again to see you, now therefore I greet you with all loving salutations, and I will bring you offerings as in the old days, if Jove’s redoubtable daughter will grant me life, and bring my son to manhood.”
“Take heart, and do not trouble yourself about that,” rejoined Minerva, “let us rather set about stowing your things at once in the cave, where they will be quite safe. Let us see how we can best manage it all.”
Therewith she went down into the cave to look for the safest hiding places, while Ulysses brought up all the treasure of gold, bronze, and good clothing which the Phaeacians had given him. They stowed everything carefully away, and Minerva set a stone against the door of the cave. Then the two sat down by the root of the great olive, and consulted how to compass the destruction of the wicked suitors.
“Ulysses,” said Minerva, “noble son of Laertes, think how you can lay hands on these disreputable people who have been lording it in your house these three years, courting your wife and making wedding presents to her, while she does nothing but lament your absence, giving hope and sending encouraging messages16 to every one of them, but meaning the very opposite of all she says.”
And Ulysses answered, “In good truth, goddess, it seems I should have come to much the same bad end in my own house as Agamemnon did, if you had not given me such timely information. Advise me how I shall best avenge myself. Stand by my side and put your courage into my heart as on the day when we loosed Troy’s fair diadem from her brow. Help me now as you did then, and I will fight three hundred men, if you, goddess, will be with me.”
“Trust me for that,” said she, “I will not lose sight of you when once we set about it, and I imagine that some of those who are devouring your substance will then bespatter the pavement with their blood and brains. I will begin by disguising you so that no human being shall know you; I will cover your body with wrinkles; you shall lose all your yellow hair; I will clothe you in a garment that shall fill all who see it with loathing; I will blear your fine eyes for you, and make you an unseemly object in the sight of the suitors, of your wife, and of the son whom you left behind you. Then go at once to the swineherd who is in charge of your pigs; he has been always well affected towards you, and is devoted to Penelope and your son; you will find him feeding his pigs near the rock that is called Raven17 by the fountain Arethusa, where they are fattening on beechmast and spring water after their manner. Stay with him and find out how things are going, while I proceed to Sparta and see your son, who is with Menelaus at Lacedaemon, where he has gone to try and find out whether you are still alive.”18
“But why,” said Ulysses, “did you not tell him, for you knew all about it? Did you want him too to go sailing about amid all kinds of hardship while others are eating up his estate?”
Minerva answered, “Never mind about him, I sent him that he might be well spoken of for having gone. He is in no sort of difficulty, but is staying quite comfortably with Menelaus, and is surrounded with abundance of every kind. The suitors have put out to sea and are lying in wait for him, for they mean to kill him before he can get home. I do not much think they will succeed, but rather that some of those who are now eating up your estate will first find a grave themselves.”
As she spoke Minerva touched him with her wand and covered him with wrinkles, took away all his yellow hair, and withered the flesh over his whole body; she bleared his eyes, which were naturally very fine ones; she changed his clothes and threw an old rag of a wrap about him, and a tunic, tattered, filthy, and begrimed with smoke; she also gave him an undressed deer skin as an outer garment, and furnished him with a staff and a wallet all in holes, with a twisted thong for him to sling it over his shoulder.
When the pair had thus laid their plans they parted, and the goddess went straight to Lacedaemon to fetch Telemachus.
-
Gr. πολυδαίδαλος. This puts coined money out of the question, but nevertheless implies that the gold had been worked into ornaments of some kind. ↩
-
I suppose Teiresias’ prophecy of bk. xi. 114-120 had made no impression on Ulysses. More probably the prophecy was an afterthought, intercalated, as I have already said, by the authoress when she changed her scheme. ↩
-
A male writer would have made Ulysses say, not “may you give satisfaction to your wives,” but “may your wives give satisfaction to you.” ↩
-
See note [64]. ↩
-
The land was in reality the shallow inlet, now the salt works of S. Cusumano-the neighbourhood of Trapani and Mt. Eryx being made to do double duty, both as Scheria and Ithaca. Hence the necessity for making Ulysses set out after dark, fall instantly into a profound sleep, and wake up on a morning so foggy that he could not see anything till the interviews between Neptune and Jove and between Ulysses and Minerva should have given the audience time to accept the situation. See illustrations and map near the end of bks. v. and vi. respectively. ↩
-
This cave, which is identifiable with singular completeness, is now called the “grotta del toro,” probably a corruption of “tesoro,” for it is held to contain a treasure. See The Authoress of the Odyssey, pp. 167-170. ↩
-
Probably they would. ↩
-
Then it had a shallow shelving bottom. ↩
-
Doubtless the road would pass the harbour in Odyssean times as it passes the salt works now; indeed, if there is to be a road at all there is no other level ground which it could take. See map above referred to. ↩
-
The rock at the end of the Northern harbour of Trapani, to which I suppose the writer of the “Odyssey” to be here referring, still bears the name Malconsiglio-“the rock of evil counsel.” There is a legend that it was a ship of Turkish pirates who were intending to attack Trapani, but the “Madonna di Trapani” crushed them under this rock just as they were coming into port. My friend Cavaliere Giannitrapani of Trapani told me that his father used to tell him when he was a boy that if he would drop exactly three drops of oil on to the water near the rock, he would see the ship still at the bottom. The legend is evidently a Christianised version of the Odyssean story, while the name supplies the additional detail that the disaster happened in consequence of an evil counsel. ↩
-
It would seem then that the ship had got all the way back from Ithaca in about a quarter of an hour. ↩
-
And may we not add “and also to prevent his recognising that he was only in the place where he had met Nausicaa two days earlier.” ↩
-
All this is to excuse the entire absence of Minerva from books ix.-xii., which I suppose had been written already, before the authoress had determined on making Minerva so prominent a character. ↩
-
We have met with this somewhat lame attempt to cover the writer’s change of scheme at the end of bk. vi. ↩
-
I take the following from The Authoress of the Odyssey, p. 167. “It is clear from the text that there were two [caves] not one, but some one has enclosed in brackets the two lines in which the second cave is mentioned, I presume because he found himself puzzled by having a second cave sprung upon him when up to this point he had only been told of one. “I venture to think that if he had known the ground he would not have been puzzled, for there are two caves, distant about 80 or 100 yards from one another.” The cave in which Ulysses hid his treasure is, as I have already said, identifiable with singular completeness. The other cave presents no special features, neither in the poem nor in nature. ↩
-
There is no attempt to disguise the fact that Penelope had long given encouragement to the suitors. The only defence set up is that she did not really mean to encourage them. Would it not have been wiser to have tried a little discouragement? ↩
-
See map near the end of bk. vi. Ruccazzù dei corvi of course means “the rock of the ravens.” Both name and ravens still exist. ↩
-
See The Authoress of the Odyssey, pp. 140, 141. The real reason for sending Telemachus to Pylos and Lacedaemon was that the authoress might get Helen of Troy into her poem. He was sent at the only point in the story at which he could be sent, so he must have gone then or not at all. ↩