🎧 Nghe chương này

QUYỂN VII

SỰ ĐÓN TIẾP ULYSSES TẠI CUNG ĐIỆN CỦA VUA ALCINOUS.

Thế là, Ulysses đợi chờ và cất lời cầu nguyện, còn nàng công chúa gò cương đánh xe thẳng tiến về thị trấn. Khi cỗ xe dừng lại trước cổng dinh thự của vua cha, các vương tử-những người anh trai mang vẻ đẹp tựa thần linh của nàng-đã ùa ra vây quanh. Họ mau mắn tháo bầy la khỏi ách, cẩn thận mang những y phục đã giặt sạch vào nhà. Trong lúc đó, Nausicaa bước về khuê phòng, nơi nhũ mẫu Eurymedusa già nua xứ Apeira đã ân cần nhóm sẵn ngọn lửa sưởi ấm. Bà lão này năm xưa bị đưa vượt ngàn trùng khơi từ Apeira đến đây, trở thành chiến lợi phẩm dâng lên vua Alcinous, bởi ngài là bậc quân vương cai trị thần dân Phaeacia và được bách tính tôn kính hệt như một vị thần. Bà từng một tay ẵm bồng chăm bẵm Nausicaa thuở ấu thơ, giờ đây đã nhóm lửa rực hồng và tự tay mang bữa tối vào tận phòng cho nàng.

Một lúc sau, Ulysses cũng rời khỏi chỗ ẩn nấp để tiến vào thị trấn. Nữ thần Minerva liền tung xuống một lớp sương mù dày đặc bao phủ quanh chàng. Màn sương huyền ảo ấy sẽ che giấu tông tích chàng, phòng khi những kẻ Phaeacia vốn bản tính kiêu ngạo vô tình chạm trán lại buông lời mạo phạm hoặc gắt gỏng tra hỏi xem chàng là ai. Vừa đặt chân đến ngưỡng cửa thị trấn, vị nữ thần đã hiện ra đón chàng trong hình hài một cô bé đang xách chiếc bình nước. Cô bé đứng ngay lối đi, và Ulysses liền khẩn khoản cất lời:

“Cháu gái nhỏ này, cháu có thể làm phúc chỉ đường cho ta đến dinh thự của đức vua Alcinous được chăng? Ta vốn là một kẻ tha hương chịu nhiều cay đắng, bước đường cùng mới lạc đến nơi đây, nên chẳng hề quen biết bất kỳ ai trong cõi đất và thành trì của cháu.”

Nghe vậy, Minerva nhẹ nhàng đáp lời: “Vâng, thưa ông khách lạ, cháu sẽ dẫn ông đến tận nơi dinh thự ông tìm, vì đức vua Alcinous ngụ ở rất gần nhà cha cháu. Cháu sẽ cất bước đi trước dẫn đường, nhưng xin ông dọc đường chớ cất lời, cũng đừng đưa mắt nhìn hay hỏi han bất kỳ người đàn ông nào. Dân chúng xứ này vốn chẳng mấy dung thứ cho người lạ mặt, lại càng chẳng ưa gì những kẻ từ phương xa tìm đến. Họ là những con người của biển khơi, cậy nhờ hồng ân của thần Neptune mà cưỡi sóng giong buồm khắp các đại dương. Những con tàu của họ lướt đi nhanh tựa ý nghĩ, thoắt cái đã như cánh chim lao vút giữa lưng chừng trời.”

Nói đoạn, nữ thần dẫn bước đi trước, còn Ulysses cất bước theo sát gót chân nàng. Thế nhưng, chẳng một cư dân Phaeacia nào có thể mường tượng ra sự hiện diện của chàng khi chàng ung dung băng qua thành phố ngay giữa đám đông bọn họ. Bởi lẽ nữ thần Minerva vĩ đại, vì muôn vàn ưu ái dành cho người anh hùng, đã khéo léo giấu chàng vào một màn mây mù huyễn hoặc. Suốt chặng đường, chàng mải mê chiêm ngưỡng những bến cảng sầm uất, những chiến thuyền tấp nập, những khoảng sân hội họp rộng thênh thang và những bức tường thành sừng sững cao vút điểm tô bằng hàng rào gỗ oai nghiêm. Chàng cứ thế đắm chìm trong vẻ đẹp choáng ngợp ấy cho đến khi dừng chân trước dinh thự của nhà vua. Lúc này, Minerva mới cất tiếng:

“Đây chính là dinh thự mà ông cần tìm, thưa ông khách lạ. Ông sẽ thấy bên trong có biết bao bậc vương tôn công tử đang say sưa tiệc tùng, nhưng xin ông chớ e sợ. Hãy hiên ngang sải bước vào trong, bởi con người ta càng mang dạ can trường thì càng dễ bề đạt được mục đích, dù cho người ấy có là một kẻ vô danh xa lạ. Khi vào tới nơi, trước tiên ông hãy tìm gặp đức vương hậu. Tên của nàng là Arete, mang chung một dòng máu tôn quý với phu quân là nhà vua Alcinous. Cội nguồn của cả hai vị đều là hậu duệ của thần Neptune, đấng đã sinh hạ Nausithous cùng người thiếu nữ Periboea có nhan sắc tuyệt trần. Periboea vốn là con gái út của Eurymedon, kẻ từng một thời xưng vương cai trị loài khổng lồ, nhưng rồi hắn lại đem đến sự diệt vong cho thần dân bạc mệnh của mình và mất luôn cả mạng sống.

“Sau đó, thần Neptune đã đem lòng sủng ái con gái của hắn, để rồi nàng sinh hạ cho vị chúa tể biển khơi một người con trai dũng mãnh là Nausithous, người đã thống lĩnh bách tính Phaeacia. Nausithous có hai người con trai là Rhexenor và Alcinous. Thần Apollo uy quyền đã cướp đi sinh mạng người con cả ngay lúc chàng hãy còn là một tân lang chưa kịp có con trai nối dõi. Tuy vậy, chàng vẫn để lại một giọt máu là cô con gái Arete. Về sau, vua Alcinous đã rước nàng về làm vương hậu. Nàng được ngài trân trọng và sủng ái hơn bất kỳ người phụ nữ nào khác đang cùng chồng kề vai gánh vác gia đình.

“Chính vì lẽ đó, nàng luôn được các con của mình, đức vua Alcinous và toàn thể muôn dân muôn mực tôn kính. Họ ngước nhìn nàng tựa một vị nữ thần tôn nghiêm, và mỗi bận nàng dạo gót qua các dãy phố phường, dân chúng đều hân hoan chào đón. Chẳng những sở hữu trái tim bao dung, nàng còn là một người phụ nữ vẹn toàn trí tuệ. Hễ người phụ nữ nào được nàng coi là bằng hữu, nàng luôn đứng ra giúp phu quân của họ dàn xếp êm đẹp mọi nỗi bất hòa. Nếu ông có thể lấy được lòng thương cảm của nàng, thì ông hoàn toàn có thể nuôi giữ niềm hi vọng được ngày sum vầy cùng bằng hữu và bình an trở về cố hương.”

Sau đó, nữ thần Minerva rời cõi Scheria, bay vút qua mặt đại dương bao la. Nàng tìm đến Marathon cùng những đại lộ thênh thang của thành Athens, rồi bước vào dinh thự của Erechtheus. Trong khi ấy, Ulysses tiếp tục cất bước về phía cung điện của vua Alcinous. Đứng trước ngưỡng cửa đúc bằng đồng, chàng bồi hồi nán lại, ngắm nhìn vẻ tráng lệ của tòa lâu đài đang tỏa ánh hào quang rực rỡ tựa nhật nguyệt. Những bức tường vươn dài hai bên đều được đúc bằng đồng nguyên khối, tô điểm thêm phần diềm mái nạm men xanh biếc. Những cánh cửa bằng vàng ròng kiêu hãnh khép mở, gắn trên những hàng cột bạc dựng lên từ mặt sàn lát đồng; ngay cả xà ngang cũng đúc bằng bạc và tay nắm cửa thì điểm xuyết ánh vàng.

Hai bên cửa chính là hai bức tượng chó ngao bằng vàng và bạc do đích thân thần Vulcan đẽo gọt bằng kỹ nghệ tuyệt luân. Chúng được tạo ra để canh gác cung điện Alcinous, mang linh hồn bất tử và vĩnh viễn không vương dấu thời gian. Dọc theo các bức tường trải dài từ đầu này đến đầu kia là những dãy ghế ngay ngắn, phủ lên trên muôn vàn tấm thảm dệt tay tinh xảo do chính các phụ nữ trong nhà tỉ mẩn làm nên. Đây là nơi các thủ lĩnh Phaeacia thường tề tựu yến tiệc, bởi quanh năm chốn này lúc nào cũng ê hề của ngon vật lạ. Quanh điện còn đặt những bức tượng vàng tạc hình các thiếu niên tay dâng đuốc sáng trên bệ cao, soi tỏ đêm thâu cho khách dự tiệc. Trong cung cấm có năm mươi thị nữ. Kẻ thì mải mê xoay cối đá nghiền những hạt lúa mì vàng ươm, người thì mải miết bên khung cửi hay ngồi kéo sợi. Thoi đưa thoăn thoắt rung rinh như rặng liễu đu đưa trước gió, dệt nên những thước vải lanh khít khao đến độ dầu cũng chẳng thể thấm qua. Hệt như việc những người đàn ông Phaeacia là những tay lái buồm cừ khôi nhất thế gian, thì phụ nữ xứ này cũng vượt xa mọi dân tộc khác về tài dệt vải. Ấy là nhờ nữ thần Minerva đã truyền thụ cho họ bao kỹ nghệ vi diệu, cùng một trí tuệ sắc sảo vô song.

Bên ngoài cổng lớn là một khu vườn rộng chừng bốn mẫu Anh, bao bọc bởi những bức tường đá vững chãi. Chốn ấy ngập tràn những thức cây tuyệt mỹ-lê, lựu, và những giống táo thơm ngon bậc nhất. Điểm xuyết trong đó là những chùm vả ngọt lịm cùng hàng ô liu đang độ thanh xuân mơn mởn. Bốn mùa trôi qua, dẫu là đông giá hay hè oi, trái ngọt nơi đây chẳng bao giờ hư hao hay cạn kiệt. Khí hậu dung hòa đến mức trái lứa mới đã chín ươm trước cả khi lứa cũ kịp lìa cành. Hết tầng lê này đến tầng lê khác, hết lớp táo này đến lớp táo kia, vả nối tiếp vả, và nho cũng chẳng đứt đoạn. Ở đó hiện diện một vườn nho trù phú: trên khoảng sân bằng phẳng, người ta phơi nho dưới ánh nắng mặt trời; một góc khác, nho rộn ràng mùa thu hoạch; nơi thì nho đang được giẫm nát trong những thùng ủ rượu sóng sánh. Gần đó, có chùm vừa mới rụng hoa kết trái non, có chùm lại vừa chớm khoác lên mình màu áo mới. Nơi góc xa nhất của khu vườn là những luống hoa được cắt tỉa đầy tính nghệ thuật, quanh năm đua nhau khoe sắc thắm. Xuyên suốt khu vườn là hai dòng suối trong vắt: một dòng róc rách len lỏi qua từng rãnh nhỏ tưới tắm cho cỏ cây, dòng kia lại lặng lẽ chảy ngầm dưới lòng đất từ sân ngoài thẳng vào tận trong cung điện, nơi người dân thị trấn thường lấy nước dùng. Quả thật, tất thảy những kiệt tác lộng lẫy ấy chính là ân sủng mà chư thần đã dốc lòng ban tặng cho vương triều Alcinous.

Ulysses nán lại một chốc, đưa mắt thu trọn khung cảnh xung quanh. Khi đã thỏa nhãn quan, chàng sải bước qua ngưỡng cửa, tiến sâu vào khuôn viên bên trong tòa dinh thự. Tại đây, chàng bắt gặp toàn bộ những bậc quyền cao chức trọng của xứ Phaeacia đang thành kính dâng rượu tế thần Mercury-nghi thức cuối cùng họ luôn thực hiện trước khi cáo lui về an giấc. Vẫn được lớp sương đêm nhiệm màu của Minerva che chở, chàng vững bước băng qua khoảng sân rộng, tiến thẳng đến chỗ Arete và nhà vua Alcinous. Chàng phủ phục xuống, hai tay ôm lấy đầu gối nữ hoàng. Ngay khoảnh khắc ấy, màn sương huyền bí tan biến, để lộ nguyên hình vóc dáng người anh hùng. Cả sảnh đường bỗng chốc chìm vào im lặng. Mọi ánh mắt kinh ngạc đổ dồn vào người đàn ông lạ mặt vừa hiện ra, nhưng Ulysses đã cất lời khẩn cầu ngay tức khắc:

“Nữ hoàng Arete,” giọng chàng vang lên, “ái nữ của Rhexenor vĩ đại, giữa cơn khốn cùng bĩ cực, tôi hạ mình van xin nữ hoàng, cũng như phu quân của nữ hoàng và toàn thể các vị khách quý nơi đây-cầu xin chư thần ban phước cho các vị trọn đời trường thọ, hạnh phúc; cầu mong các vị truyền lại được báu vật gia truyền cho muôn đời con cháu, cùng mọi vinh quang mà vương quốc đã ban tặng-hãy giúp tôi sớm ngày hồi hương. Đã quá lâu rồi, tôi phải gánh chịu muôn vàn thống khổ và biền biệt xa cách những người bằng hữu thân yêu.”

Nói đoạn, chàng lặng lẽ lui về bên bếp lửa, ngồi xuống giữa đống tro tàn. Bầu không khí vẫn nín lặng, cho đến khi Echeneus-vị trưởng lão Phaeacia dày dạn sương gió, nổi danh với tài hùng biện xuất chúng-bước ra cất lời chân thành và thẳng thắn:

“Bệ hạ Alcinous,” ông nói, “thật không đáng mặt bệ hạ chút nào khi để một vị khách lạ phải lùi bước ngồi lẫn giữa đống tro tàn bên bếp lửa. Ai nấy đều đang nín thở chờ nghe quyết định của bệ hạ. Vậy thần xin bệ hạ hãy truyền lệnh đỡ người khách ấy dậy, mời ngài ấy an tọa trên chiếc ghế đẩu nạm bạc. Sau đó, xin bệ hạ sai hầu cận pha rượu với nước, để chúng ta dâng lễ tế thần Jove, đấng tể trị sấm sét và cũng là đấng bảo hộ cho những kẻ khẩn cầu lương thiện. Đồng thời, xin bệ hạ lệnh cho quản gia dọn lên một bữa thịnh soạn, lấy từ bất kỳ thức ngon vật lạ nào sẵn có trong nhà.”

Nghe vậy, nhà vua Alcinous bèn tiến đến nắm lấy tay Ulysses, đích thân đỡ chàng dậy khỏi đống tro tàn và mời ngồi vào vị trí của Laodamas. Đó vốn là chỗ của người con trai mà vua nhất mực yêu thương, ngay sát bên cạnh ngài. Kế đó, một nữ tì bưng tới chiếc bình vàng tuyệt mỹ, rót dòng nước mát lành xuống chiếc chậu bạc để chàng rửa tay, rồi kê một chiếc bàn tươm tất ngay trước mặt. Một hầu gái trưởng kính cẩn mang bánh mì và dâng lên biết bao sơn hào hải vị có sẵn trong dinh thự. Ulysses bắt đầu dùng bữa. Alcinous quay sang hạ lệnh cho hầu cận:

“Pontonous, ngươi hãy pha một bình rượu ngon rồi rót mời khắp lượt, để chúng ta cùng dâng lễ tế thần Jove chúa tể sấm sét, đấng bảo hộ chở che mọi kẻ khẩn cầu lương thiện.”

Pontonous vâng lệnh, cẩn trọng pha rượu với nước rồi rót tràn các ly, sau khi đã san sớt phần rượu cúng cho từng người. Khi nghi thức hiến tế hoàn tất và ai nấy đều đã uống thỏa thuê, Alcinous dõng dạc cất lời:

“Hỡi các ủy viên hội đồng và quan chức thị trấn của xứ Phaeacia, mong các vị hãy lắng nghe. Bữa tiệc nay đã mãn, xin mời các vị hãy cáo lui về tư dinh nghỉ ngơi. Rạng sáng ngày mai, ta sẽ triệu tập đông đảo hơn các thành viên hội đồng, đồng thời tổ chức một buổi yến tiệc hiến tế quy mô để trọng thể chào mừng vị khách quý của chúng ta. Sau đó, chúng ta sẽ bàn bạc phương án hộ tống, tìm cách đưa ngài ấy bình an hồi hương trong niềm hân hoan ngay lập tức, tuyệt đối không để ngài ấy phải chịu thêm bất cứ muộn phiền hay trắc trở nào, dẫu quê hương ngài ấy có xa xôi đến đâu. Chúng ta phải bảo đảm rằng ngài ấy sẽ không gặp hiểm nguy trên suốt chặng đường; thế nhưng, một khi đã đặt chân về đến quê nhà, ngài ấy sẽ phải đón nhận sự an bài của số phận, dù phúc hay họa, hệt như số kiếp của mọi con người từ lúc lọt lòng. Tuy nhiên, cũng không loại trừ khả năng vị khách lạ này chính là một trong các đấng bất tử từ trên trời cao giáng hạ để viếng thăm chúng ta. Nếu quả là vậy, thì chư thần đang hành xử khác hẳn lệ thường. Bởi từ trước đến nay, mỗi khi chúng ta dâng lên những lễ tế trăm con bò, các ngài luôn hiển linh vô cùng quang minh chính đại. Các ngài vẫn thường giáng lâm, cùng chung mâm dự tiệc với chúng ta như những người thân thuộc. Thậm chí, nếu một lữ khách đơn độc nào đó tình cờ chạm trán một hay vài vị thần, các ngài cũng chẳng màng che giấu thân phận, bởi lẽ chúng ta vốn có dòng máu bà con gần gũi với chư thần, chẳng khác nào tộc Cyclopes hay lũ khổng lồ man rợ.”

Nghe những lời ấy, Ulysses vội lên tiếng: “Cầu xin ngài, Alcinous, xin đừng bận tâm với suy nghĩ ấy. Tôi làm gì có chút cốt cách thần tiên nào của một đấng bất tử, cả về thể xác lẫn trí tuệ. Tôi chỉ là một kẻ gánh chịu nhiều cay đắng nhất trong số các ngài. Quả thực, nếu tôi kể cho ngài nghe tất thảy những tai ương mà ý trời đã giáng xuống đầu tôi, ngài sẽ phải xót xa thừa nhận rằng số phận tôi còn thê thảm hơn họ gấp bội. Song, xin hãy để tôi được dùng bữa, mặc cho cõi lòng nát tan. Bởi lẽ một dạ dày trống rỗng là thứ vô cùng nhũng nhiễu, nó ép con người ta phải chú tâm đến nó bất chấp nỗi thống khổ đang giày vò có kinh khủng đến đâu. Rắc rối bủa vây tôi trăm bề, thế nhưng cái bụng đói này vẫn khăng khăng ép tôi phải ăn uống, bắt tôi gạt phắt mọi ký ức muộn phiền chỉ để lấp đầy khoảng trống của chính nó. Về phần các ngài, xin hãy làm đúng như những gì vừa đề xuất. Ngay khi bình minh ló rạng, cúi xin các ngài hãy ra tay giúp tôi được trở về cố hương. Chỉ cần được ngắm nhìn cơ ngơi của mình thêm một lần nữa, gặp lại những người hầu hạ và toàn bộ gia sản bề thế của mình, tôi có nhắm mắt xuôi tay cũng đành lòng.”

Chàng vừa dứt lời, cả sảnh đường đều lên tiếng đồng tình. Họ nhất trí rằng vị khách lạ xứng đáng được cấp thuyền hộ tống, bởi những điều chàng bộc bạch quả thực thấu tình đạt lý. Sau khi nghi thức rót rượu tế thần hoàn tất và mỗi người đều đã uống thỏa thích, họ lần lượt rời đi, trở về chốn nghỉ ngơi của riêng mình. Trong đại sảnh giờ đây chỉ còn lại Ulysses cùng đức vua Alcinous và hoàng hậu Arete, trong khi đám nữ tì lẳng lặng dọn dẹp yến tiệc. Hoàng hậu Arete là người lên tiếng trước tiên. Đôi mắt tinh tường của bà đã nhận ra chiếc áo choàng, chiếc áo khoác và những bộ xiêm y hoa mỹ mà vị khách đang mặc trên người chính là thành quả thêu dệt từ đôi bàn tay của bà cùng các nữ tì. Bà liền cất lời:

“Ngài khách lạ, trước khi chúng ta trò chuyện xa hơn, có một điều ta buộc lòng phải hỏi ngài. Ngài là ai? Ngài từ đâu đến? Và ai đã trao cho ngài những bộ y phục này? Chẳng phải ngài đã nói rằng mình vừa vượt muôn trùng sóng dữ từ bên kia đại dương để tới đây sao?”

Ulysses chậm rãi đáp lời:

“Thưa nữ hoàng, đó sẽ là một câu chuyện dài vô tận nếu tôi phải kể lại tường tận muôn nỗi truân chuyên của mình, bởi bàn tay chư thần đã giáng xuống đời tôi quá nhiều đòn roi nghiệt ngã. Nhưng để trả lời câu hỏi của nữ hoàng, tôi xin thưa: có một hòn đảo nằm xa tít tắp giữa biển khơi hoang vắng mang tên Ogygian. Đó là nơi ngự trị của nữ thần mưu mô và đầy quyền uy Calypso, ái nữ của thần Atlas. Nàng sống cô độc, cách biệt hoàn toàn với cả thế giới con người lẫn cõi thần linh. Dẫu vậy, số phận trớ trêu đã xô đẩy tôi đến bên cạnh bếp lửa của nàng trong một tình cảnh hoàn toàn tuyệt vọng và đơn độc. Trước đó, thần Jove tối cao đã phóng những tia sét phẫn nộ xuống con tàu của tôi, xé nát nó giữa đại dương bao la. Toàn bộ những người đồng đội quả cảm của tôi đều bỏ mạng dưới lòng biển sâu, không một ai sống sót. Chỉ còn lại mình tôi, ôm chặt lấy mảnh vỡ của sống tàu, lênh đênh trôi dạt khắp chốn suốt chín ngày ròng rã. Cuối cùng, vào màn đêm u tối của ngày thứ mười, các vị thần đã xui rủi đưa tôi tấp vào bờ biển Ogygian, nơi nữ thần vĩ đại Calypso sinh sống. Nàng cưu mang tôi và thiết đãi tôi bằng một lòng thương xót tột bậc. Thậm chí, nàng còn ngỏ ý muốn biến tôi thành một vị thần bất tử, thoát khỏi sự tàn phá của tuổi già. Thế nhưng, trái tim tôi vẫn kiên định, không để nàng toại nguyện.

“Tôi đã bị cầm chân trên đảo của Calypso suốt bảy năm ròng rã. Trong khoảng thời gian đằng đẵng ấy, những bộ xiêm y tuyệt mĩ mà nàng ban tặng đều đẫm trong những giọt nước mắt sầu muộn của tôi. Nhưng rồi, khi năm thứ tám vừa chớm, nàng bất ngờ đổi ý và tự nguyện để tôi ra đi-có lẽ vì thần Jove tối cao đã ban lệnh, hoặc cũng có thể tự lòng nàng đã chuyển lay. Nàng tiễn tôi rời đảo trên một chiếc bè ghép, chất đầy bánh mì thơm và thứ rượu ngon hảo hạng. Chẳng những thế, nàng còn trao cho tôi những bộ quần áo dày dặn nhất và thổi tới một luồng gió thuận hòa, ấm áp để đẩy bè đi. Tôi giong buồm lênh đênh trên mặt biển suốt mười bảy ngày, và đến ngày thứ mười tám, những đường nét mờ ảo của dãy núi trên bờ biển vương quốc các vị mới hiện ra. Trái tim tôi lúc ấy đã reo vui khôn xiết khi được tận mắt nhìn thấy đất liền. Tuy vậy, giông tố vẫn chưa buông tha tôi. Vị thần của biển cả, Neptune, quyết không để tôi tiến xa hơn. Ngài dấy lên một cơn cuồng phong thịnh nộ, khiến biển cả cuộn trào những con sóng kinh hoàng đến mức tôi không thể bám trụ nổi trên chiếc bè của mình nữa. Nó vỡ tan tành dưới sức mạnh tàn phá của bão táp, buộc tôi phải bơi lặn trong tuyệt vọng để giành giật lấy chút mạng sống mỏng manh. Cứ thế, gió dữ và dòng nước xiết đã xô đẩy tôi dạt vào bờ biển của các vị.

“Đến nơi, tôi cố vươn mình lên bờ, nhưng vô vọng. Nơi đó quá đỗi hiểm trở, và những con sóng điên cuồng liên tục quật ngã tôi vào các mỏm đá sắc nhọn. Thế là tôi đành gieo mình lại xuống biển, tiếp tục bơi đi tìm một nơi có thể đổ bộ. May thay, tôi tìm thấy một cửa sông hiền hòa, không có đá ngầm và được che chắn khỏi những cơn gió gắt. Tại đây, tôi trườn lên bờ biển, thu nhặt lại chút sức tàn lực kiệt của mình. Khi màn đêm buông xuống, tôi rời khỏi dòng sông mát lạnh, lê bước vào một lùm cây rậm rạp. Tôi ủ ấm cơ thể mình bằng lớp lá khô phủ kín, và rồi ơn trời cao đã xoa dịu những đau đớn bằng một giấc ngủ sâu. Mang một thân thể ốm yếu và thảm hại, tôi vùi mình giữa đống lá khô suốt cả một đêm dài, ngủ thiếp đi xuyên qua ngày hôm sau cho tới tận xế chiều. Khi tôi bừng tỉnh, mặt trời đã ngả bóng về tây. Vừa mở mắt, tôi liền nhìn thấy các nữ tì của công chúa đang nô đùa rộn rã trên bãi biển, và giữa họ, con gái của nữ hoàng hiện lên rạng rỡ tựa như một vị nữ thần. Tôi đã cầu xin sự thương xót của nàng, và quả thực, nàng mang trong mình một tấm lòng bao dung tuyệt vời, vượt xa những gì người ta có thể trông đợi ở một người trẻ tuổi-bởi tuổi trẻ thường hay bồng bột và cạn nghĩ. Nàng đã ban cho tôi bánh mì và rượu ngon, và khi nàng bảo tôi xuống sông tắm rửa, nàng cũng hào phóng trao cho tôi những bộ xiêm y mà nữ hoàng đang thấy tôi mặc đây. Giờ thì, dẫu cho việc khơi lại những ký ức này khiến cõi lòng tôi đau thắt, tôi cũng đã phơi bày trước nữ hoàng toàn bộ sự thật.”

Rồi Alcinous cất lời: "Ngài khách lạ, con gái ta quả thực đã hành xử vô cùng thiếu sót khi không đưa ngài về thẳng dinh thự cùng với các nữ tì. Suy cho cùng, nàng chính là người đầu tiên mà ngài cầu xin sự giúp đỡ."

"Cầu xin ngài đừng trách mắng nàng," Ulysses đáp, "bởi nàng chẳng có lỗi lầm chi. Nàng thực tâm đã bảo tôi đi cùng đám nữ tì, nhưng chính tôi cảm thấy e dè và sợ hãi. Tôi e rằng ngài sẽ phật lòng khi nhìn thấy một kẻ lạ mặt đi cùng con gái mình. Trên cõi đời này, phàm là con người, đôi khi vẫn luôn mang sẵn lòng hoài nghi và dễ sinh giận dữ."

"Ngài khách lạ ơi," Alcinous đáp lời, "ta đâu phải kẻ vô cớ nổi cơn thịnh nộ. Mọi sự ở đời, cứ nói lý lẽ với nhau bao giờ cũng tốt hơn. Nhưng hỡi cha Jove, Minerva, và Apollo! Giờ đây khi đã tỏ tường phong thái của ngài, lại thấy đôi ta có quá nhiều tâm giao đồng điệu, ta thật lòng mong ngài ở lại, cưới con gái ta và trở thành con rể của ta. Nếu ngài thuận tình nán lại, ta sẽ trao cho ngài dinh thự cùng điền trang rộng lớn. Dẫu vậy, sẽ chẳng có bất kỳ ai - nguyền xin thánh thần thấu tỏ - được phép ép ngài lưu lại trái với ý nguyện. Để minh chứng cho lời ta nói, ngay ngày mai, ta sẽ định liệu đội hộ tống cho ngài. Trong suốt chuyến đi, ngài cứ yên giấc ngủ say. Những người thủy thủ của ta sẽ giong buồm đưa ngài vượt qua những vùng biển êm đềm để trở về quê hương, hoặc đến bất cứ nơi nào ngài ước nguyện. Cho dù nơi ấy có xa xôi hơn cả Euboea - miền đất mà thần dân của ta từng tận mắt chứng kiến khi họ đưa Rhadamanthus tóc vàng đến gặp Tityus con trai của Gaia. Họ kể với ta rằng đó là chốn tận cùng của cõi nhân gian. Ấy thế mà họ đã hoàn tất toàn bộ hành trình đi về chỉ trong vỏn vẹn một ngày, chẳng hề mệt mỏi hay hao tổn chút sức lực. Rồi ngài sẽ thấy, chiến thuyền của ta vượt xa mọi con tàu khác nhường nào, và những thủy thủ của ta quả là những tay chèo cừ khôi ra sao."

Nghe những lời ấy, Ulysses trào dâng niềm hân hoan. Chàng lớn tiếng thành tâm khấn nguyện: "Lạy cha Jove, xin người ban phước để nhà vua Alcinous có thể làm trọn những gì ngài vừa hứa. Nhờ đó, vinh quang của ngài sẽ trở nên bất diệt trong lòng nhân loại, và cùng lúc ấy, con sẽ được trở về quê hương của mình."

Họ đã chuyện trò cùng nhau như thế. Sau đó, hoàng hậu Arete truyền lệnh cho các nữ tì kê một chiếc giường trong căn phòng nơi gian gác cổng. Nàng sai họ trải lên đó những tấm thảm đỏ thượng hạng, rồi phủ thêm những tấm ga may bằng áo choàng len để Ulysses ủ ấm. Tuân lệnh, các nữ tì tay cầm đuốc sáng bước ra ngoài. Khi đã sửa soạn xong xuôi chỗ ngả lưng, họ đến bên Ulysses và cung kính thưa: "Xin mời ngài đứng lên, ngài khách lạ. Hãy đi theo chúng tôi, vì giường của ngài đã sẵn sàng." Nghe vậy, chàng vô cùng sung sướng khi sắp được chìm vào giấc ngủ.

Thế rồi, Ulysses vùi mình vào giấc mộng say sưa trên chiếc giường êm ái, trong căn phòng nằm phía trên cổng chào vang vọng. Còn nhà vua Alcinous lui vào nghỉ ngơi ở gian phòng sâu thẳm bên trong dinh thự, với vị nữ hoàng, người vợ hiền của ông, kề bên.