Truyền thuyết xứ Baghdad kể về những đêm vi hành của một vị vua vĩ đại, người dùng những yến tiệc xa hoa để đổi lấy sự thật từ miệng thế gian.
MỘT ĐÊM Ả RẬP Ở QUẢNG TRƯỜNG MADISON
Phillips mang chuyến thư chiều vào căn hộ của Carson Chalmers nằm gần quảng trường. Lẫn giữa mớ thư từ nhạt nhẽo thường nhật là hai bưu phẩm cùng đóng dấu bưu điện nước ngoài.
Một gói chứa bức chân dung của một người phụ nữ. Gói kia chứa một bức thư dài thườn thượt mà Chalmers đã ngồi dán mắt vào hồi lâu. Bức thư ấy do một người phụ nữ khác viết; từng dòng chữ chất chứa những mũi tên tẩm độc được bọc mật ngọt ngào, điểm xuyết bằng những lời ám chỉ sắc lẹm nhắm vào người phụ nữ trong bức ảnh.
Chalmers xé vụn bức thư thành hàng ngàn mảnh rồi bắt đầu đi tới đi lui, bước chân nôn nóng liên tục chà xát lên tấm thảm đắt tiền. Đó là điệu bộ bứt rứt của một con thú hoang bị giam trong cũi sắt, và cũng là dáng vẻ của một gã đàn ông đang mắc kẹt giữa khu rừng rậm rạp của sự hoài nghi.
Sự bồn chồn rồi cũng dần lắng xuống. Tấm thảm dưới chân anh đâu phải thảm thần. Anh chỉ có thể đi luẩn quẩn mười sáu feet trên đó; còn khoảng cách ba ngàn dặm thì vượt quá khả năng cứu giúp của nó.
Phillips xuất hiện. Anh ta chẳng bao giờ bước vào một cách bình thường; anh ta luôn luôn "hiện ra", trơn tru chẳng khác nào một vị thần đèn.
"Ngài sẽ dùng bữa ở nhà, thưa ngài, hay ra ngoài?" anh ta lễ phép hỏi.
"Ở đây," Chalmers đáp, "dọn lên trong nửa tiếng nữa." Anh rầu rĩ lắng tai nghe những luồng gió giật tháng Giêng càn quét đang biến con phố vắng ngắt thành chiếc kèn trombone của thần gió.
"Đợi đã," anh gọi giật vị thần đèn đang tan dần vào bóng tối. "Lúc nãy đi ngang qua cuối quảng trường để về nhà, tôi thấy một đám đàn ông rồng rắn xếp hàng ở đó. Có một người còn đứng hẳn lên bục thao thao bất tuyệt. Tại sao đám người đó lại xếp hàng, và họ chầu chực ở đấy làm gì?"
"Họ là những kẻ vô gia cư, thưa ngài," Phillips điềm đạm đáp. "Người đàn ông đứng trên thùng gỗ đang cố xin cho họ một chỗ ngủ qua đêm. Người đi đường đứng lại nghe và bố thí tiền cho ông ta. Gom được bao nhiêu tiền, ông ta sẽ đưa số người tương ứng đến một nhà trọ nào đó. Đó là lý do họ phải xếp hàng; ai đến trước thì được đi ngủ trước."
"Lúc dọn bữa tối," Chalmers ra lệnh, "anh hãy gọi một gã trong đám đó lên đây. Cậu ta sẽ dùng bữa với tôi."
"Ng-ng-người nào cơ thưa ngài-" Phillips ấp úng, lần đầu tiên trong suốt quãng đời làm phục vụ anh ta bị líu lưỡi.
"Cứ chọn đại một người," Chalmers xua tay. "Anh xem gã nào trông có vẻ tỉnh táo-và sạch sẽ một chút thì càng tốt. Chỉ thế thôi."
Việc Carson Chalmers nổi hứng đóng vai vị Caliph1 quả là chuyện lạ đời. Nhưng đêm nay, anh cảm thấy mọi phương thuốc xua đuổi nỗi u sầu thường ngày đều vô hiệu. Anh cần một thứ gì đó điên rồ và khác thường, một thứ gì đó nồng nàn hương vị và đậm chất Ả Rập, để xoa dịu tâm trí mình.
Đúng nửa giờ sau, Phillips đã hoàn tất nhiệm vụ, ngoan ngoãn hệt như một vị thần bước ra từ cây đèn ma thuật. Các phục vụ từ nhà hàng tầng dưới nhanh nhẹn dọn lên một bữa tối thịnh soạn. Chiếc bàn ăn dành cho hai người lung linh rực rỡ dưới ánh nến lồng chao hồng.
Và giờ đây, mang điệu bộ của kẻ đang tháp tùng một vị hồng y-hay đang áp giải một tên trộm-Phillips cẩn trọng dẫn người khách đang run lẩy bẩy bước vào. Đó chính là gã vô gia cư vừa được lôi ra khỏi hàng ngũ những kẻ bần hàn đang rồng rắn chờ thuê trọ.
Người ta thường ví những kẻ như gã là những đống đổ nát; nhưng nếu phải so sánh, gã giống hệt một con tàu đắm tàn tạ sau cơn hỏa hoạn. Dẫu vậy, trên thân tàu trôi dạt ấy vẫn còn le lói chút ánh lửa. Mặt mũi và tay chân gã vừa được cọ rửa sạch sẽ-đó là một nghi thức mà Phillips khăng khăng ép buộc, như để vớt vát chút thể diện cho những phép tắc lịch sự vốn đã nát bươm. Đứng dưới ánh nến, gã tựa như một vết xước thô kệch giữa chốn trang nhã của căn hộ. Khuôn mặt ốm nhom, trắng bệch của gã bị che lấp bởi lớp râu lởm chởm, rậm rạp mọc đến tận mắt, mang màu đỏ hung của loài chó săn Ireland. Chiếc lược của Phillips hoàn toàn bất lực trước mái tóc nâu nhạt của gã, bởi nó đã bết lại từ lâu và in hằn hình dáng của chiếc mũ mà gã thường đội. Đôi mắt gã ánh lên vẻ tinh ranh nhưng tuyệt vọng, hệt như đôi mắt của con chó hoang bị đám người độc ác dồn vào đường cùng. Chiếc áo khoác tồi tàn được cài cúc cao kín cổ, song vẫn để lộ ra chút mép cổ áo như cố gỡ gạc lại vài phần tư cách. Dù thế, dáng vẻ của gã lại vô cùng tự nhiên, chẳng chút luống cuống khi Chalmers đứng lên từ phía bên kia chiếc bàn tròn.
"Nếu anh không phiền," người chủ nhà lên tiếng, "tôi rất hân hạnh được mời anh dùng bữa tối."
"Tên tôi là Plumer," vị khách qua đường đáp lại bằng giọng gay gắt, đầy hằn học. "Nếu ở vào vị trí của tôi, hẳn ngài cũng muốn biết tên cái gã đang ngồi ăn cùng mình."
"Tôi cũng định nói thế," Chalmers vội vã đáp. "Tên tôi là Chalmers. Anh ngồi đối diện tôi nhé?"
Plumer, với bộ dạng xù xì, từ từ hạ người xuống để Phillips kéo ghế cho mình. Phong thái của gã cho thấy gã không hề lạ lẫm với những bàn tiệc có người hầu kẻ hạ. Phillips bắt đầu dọn món cá mòi và trái ô liu.
"Tốt lắm!" Plumer gắt lên. "Ăn theo từng món phải không? Được thôi, vị vua vui tính xứ Bagdad của tôi ơi. Tôi sẽ làm nàng Scheherezade2 của ngài cho đến tận lúc xỉa răng. Ngài là vị Caliph đầu tiên mang đúng hương vị phương Đông mà tôi từng đụng độ kể từ hồi trời bắt đầu trở rét. Thật là may mắn! Tôi vốn đứng thứ bốn mươi ba trong hàng. Vừa mới đếm xong thì vị sứ giả của ngài xuất hiện và mời tôi đến dự tiệc. Cơ hội để tôi kiếm được một cái giường đêm nay vốn dĩ mỏng manh như thể cơ hội làm Tổng thống nhiệm kỳ tới vậy. Thế ngài muốn nghe câu chuyện đời buồn bã của tôi như thế nào đây, thưa ngài Al Raschid3-mỗi món ăn một chương hay kể tuốt luột một lèo lúc dùng xì gà và cà phê?"
"Có vẻ như chuyện này chẳng có gì mới mẻ với anh thì phải," Chalmers mỉm cười đáp.
"Nhờ bộ râu của nhà tiên tri-có mới mẻ gì đâu chứ!" vị khách vặc lại. "New York nhan nhản những gã Haroun al Raschid rẻ tiền y như Bagdad đầy rẫy bọ chét vậy. Phải đến hai mươi lần tôi bị người ta chĩa một bữa ăn thịnh soạn vào đầu chỉ để ép kể chuyện rồi đấy. Ở cái đất New York này, đừng hòng có ai cho không ai cái gì! Bọn họ toàn lấy sự tò mò và lòng từ thiện ra để làm trò tiêu khiển. Khối kẻ sẽ ném cho ngài một đồng hào cùng mấy món ăn tạp nham; vài kẻ thì thích đóng vai Caliph đãi ngài món bò thăn thượng hạng; nhưng chung quy lại, tất cả bọn họ sẽ chầu chực bên cạnh cho đến khi moi bằng được cuốn tự truyện của ngài ra, đầy đủ từ phần chú thích, phụ lục cho đến những chương mục chưa từng được công bố. Ồ, tôi thừa biết phải làm gì khi thấy thức ăn dọn ra trước mặt ở cái chốn Bagdad-trên-tàu-điện-ngầm4 nhỏ bé và cũ kỹ này. Tôi sẽ dập đầu ba cái xuống đường nhựa rồi xắn tay áo lên mà bịa chuyện để đổi lấy bữa tối. Tôi tự nhận mình là hậu duệ của Tommy Tucker5 quá cố, kẻ từng bị ép phải xướng lên những giai điệu du dương chỉ để đổi lấy chút cháo loãng với ba đồ ăn thừa thãi."
"Tôi đâu có đòi hỏi anh kể lể gì," Chalmers ôn tồn nói. "Nói thật với anh, tôi gọi một người lạ đến dùng bữa chỉ vì một phút cao hứng ngẫu nhiên mà thôi. Tôi cam đoan anh sẽ không phải chịu đựng bất kỳ sự tò mò nào từ tôi cả."
"Ồ, vô lý thật!" vị khách kêu lên, trong khi vẫn đang xì xụp húp món súp. "Tôi có bận tâm chút nào đâu. Khi Caliph dạo bước ra ngoài, tôi sẵn sàng hóa thân thành một cuốn tạp chí phương Đông bìa đỏ chót với các trang sách đã được cắt xén gọn gàng. Thật ra, cái đám đứng xếp hàng chực chờ chỗ ngủ như chúng tôi đều có bảng giá chung cho mấy vụ kiểu này. Lúc nào chẳng có kẻ đi ngang qua, dừng lại hỏi han xem cớ sự gì đã đẩy chúng tôi xuống tận đáy xã hội. Nếu họ cho một cái bánh sandwich và một ly bia, tôi sẽ bảo rằng chính rượu chè đã hủy hoại tôi. Nếu đổi lấy một phần bò muối bắp cải và một tách cà phê, tôi sẽ kể bài ca về ông chủ nhà máu lạnh-sáu tháng nằm viện-và chuỗi ngày thất nghiệp. Còn một miếng bít tết thăn ngoại kèm hai mươi lăm xu ngủ qua đêm thì sẽ đổi được một vở bi kịch Phố Wall6, kể về khối tài sản tan thành mây khói và chuỗi ngày trượt dài trong tủi nhục. Đây là bữa tiệc thịnh soạn đầu tiên kiểu này mà tôi có diễm phúc được thụ lộc. Kẹt nỗi, tôi lại chẳng có câu chuyện nào đủ tầm để xứng với nó. Thế này đi, ngài Chalmers, nếu ngài chịu lắng nghe, tôi sẽ kể cho ngài nghe sự thật để đáp lễ bữa ăn này. Nó thậm chí còn khó tin hơn bất kỳ câu chuyện bịa đặt nào ngài từng nghe đấy."
Một giờ sau, vị khách Ả Rập ngả người ra sau lưng ghế, buông một tiếng thở dài đầy mãn nguyện. Cùng lúc ấy, Phillips mang xì gà, cà phê tới và lặng lẽ dọn dẹp bàn ăn.
"Ngài đã bao giờ nghe nói đến cái tên Sherrard Plumer chưa?" anh ta cất lời, môi nở một nụ cười kỳ lạ.
"Tôi có nhớ mang máng," Chalmers đáp. "Hình như anh ta là một họa sĩ khá nổi danh cách đây vài năm thì phải."
"Chính xác là năm năm trước," vị khách tiếp lời. "Sau thời hoàng kim đó, tôi chìm nghỉm như một cục chì ném xuống nước. Tôi đây, chính là Sherrard Plumer! Bức chân dung cuối cùng tôi vẽ bán được những hai nghìn đô la. Thế mà kể từ bận ấy, bói cũng chẳng ra một người chịu ngồi yên cho tôi vẽ, dù là vẽ miễn phí."
"Đã có chuyện gì xảy ra vậy?" Chalmers tò mò, không nén nổi câu hỏi.
"Nực cười lắm," Plumer cay đắng đáp. "Đến tận bây giờ tôi vẫn chẳng thể hiểu nổi. Đã có một thời, tên tuổi tôi nổi như cồn. Tôi chen chân vào giới thượng lưu, đơn đặt hàng từ khắp nơi cứ thế bay đến tấp nập. Báo chí còn tung hô tôi là vị họa sĩ của thời đại. Thế rồi, những chuyện quái gở bắt đầu xảy ra. Hễ tôi cứ vẽ xong một bức tranh, người ta lại kéo đến xem, rồi thì thầm to nhỏ và ném cho nhau những ánh nhìn kỳ dị."
"Chẳng bao lâu sau, tôi đã lờ mờ đoán ra ngọn nguồn cớ sự. Có vẻ như, tôi có biệt tài làm bộc lộ tính cách ẩn giấu của người mẫu lên chính khuôn mặt họ trên toan vẽ. Tôi cũng chẳng hiểu mình làm thế bằng cách nào-tôi chỉ đơn thuần vẽ lại những gì mình thấy-nhưng tôi biết chắc cái tài mọn ấy đã hại đời tôi. Một vài người mẫu tỏ ra vô cùng phẫn nộ, thậm chí cự tuyệt việc nhận tranh. Nhớ có lần, tôi vẽ chân dung cho một phu nhân xinh đẹp, tiếng tăm lẫy lừng trong giới thượng lưu. Lúc bức tranh hoàn thiện, chồng cô ta trân trân nhìn nó với một nét mặt kỳ quặc, và ngay tuần sau đó, gã đệ đơn ly hôn."
"Lại có trường hợp một tay chủ ngân hàng cộm cán đến làm mẫu cho tôi. Khi bức chân dung của ông ta đang được trưng bày giữa xưởng vẽ, một người quen ghé vào xem. 'Lạy Chúa tôi,' ông ta thốt lên, 'đây thực sự là diện mạo của ông ấy sao?' Tôi bèn giải thích rằng đó được xem là một bức chân dung phản ánh rất trung thực. 'Từ trước tới nay, tôi chưa từng để ý đến nét mặt quanh đôi mắt ông ấy,' ông ta đáp; 'Tôi nghĩ mình sẽ tạt xuống khu thương mại để rút sạch tiền khỏi ngân hàng.' Và ông ta làm vậy thật, nhưng khốn thay, chẳng còn khoản tiền nào sất, và Quý ngài Chủ ngân hàng kia cũng đã cao chạy xa bay.
"Sau chừng ấy chuyện, bọn họ đã đạp đổ nồi cơm của tôi. Đời nào có kẻ muốn những thói hư tật xấu bí mật của mình bị lột trần trên những bức tranh. Họ có thể gượng cười, có thể nhăn nhó uốn éo cơ mặt để lừa gạt ngài, nhưng bức tranh của tôi thì không. Chẳng còn ai đoái hoài, tôi đành rửa tay gác cọ. Tôi chuyển sang làm họa sĩ minh họa cho một tòa soạn báo được một thời gian, rồi qua chỗ một thợ in thạch bản, nhưng những rắc rối cũ vẫn cứ bám riết lấy tôi. Dù chỉ vẽ lại từ một tấm ảnh, nét cọ của tôi vẫn hằn lên những đặc điểm và sắc thái mà ngài chẳng thể nào tìm thấy ở bản chụp, nhưng tôi tin chắc chắn chúng hiện hữu nơi bản gốc, đúng là thế đấy. Khách hàng, đặc biệt là các quý bà, bắt đầu làm mình làm mẩy, và tôi chẳng bao giờ giữ nổi việc được lâu. Thế là tôi bắt đầu ngả cái đầu mệt mỏi của mình vào bầu ngực của Nàng Tiên Rượu để tìm chút hơi ấm an ủi. Chẳng mấy chốc, tôi đã xếp hàng rồng rắn cùng đám vô gia cư chờ một chỗ ngả lưng miễn phí, bịa ra đủ thứ chuyện xạo sự để xin xỏ mấy đồng bố thí giữa những khu chợ nhộn nhịp. Những lời thật lòng vừa rồi có làm ngài chán ngấy không, hỡi ngài Caliph đáng kính? Tôi có thể bật công tắc và bịa ra một thảm họa bi đát trên Phố Wall nếu ngài muốn, nhưng vở kịch ấy lại cần đến những giọt nước mắt, mà tôi e rằng mình đã cạn khô nước mắt sau bữa tối thịnh soạn này rồi."
"Không, không hề," Chalmers chân thành nói, "anh làm tôi rất thích thú. Nhưng liệu có phải mọi bức chân dung anh vẽ đều phơi bày một nét tính cách khó ưa nào đó không, hay vẫn có những bức thoát khỏi sự soi xét từ chiếc cọ vẽ ma thuật của anh?"
"Một vài bức ư? Đương nhiên là có chứ," Plumer đáp. "Thường là chân dung trẻ em, kha khá phụ nữ và một lượng vừa đủ đàn ông. Không phải ai cũng xấu xa cặn bã cả đâu ngài ạ. Khi tâm hồn họ tốt đẹp, bức tranh tự khắc sẽ tốt đẹp. Như tôi đã nói đấy, tôi chẳng thể giải thích được hiện tượng đó, nhưng những gì tôi đang kể với ngài hoàn toàn là sự thật."
Trên bàn viết của Chalmers vẫn còn bức ảnh anh nhận được qua chuyến bưu phẩm nước ngoài ban sáng. Chừng mười phút sau, anh nhờ Plumer dựa vào đó họa một bức phác thảo bằng phấn màu. Rốt cuộc, ngót nghét một tiếng đồng hồ trôi qua, gã họa sĩ mới chịu đứng dậy, vươn vai rã rời.
"Xong rồi," gã ngáp dài. "Ngài thứ lỗi vì tôi ngốn nhiều thời gian quá. Tự dưng tôi thấy khoái món này. Lạy Chúa! Nhưng tôi mệt đứt hơi rồi. Đêm qua tôi đâu có chốn ngả lưng, ngài biết mà. Giờ chắc phải chúc ngài ngủ ngon thôi, hỡi Vị Chỉ Huy của những Tín Đồ Trung Thành7!"
Chalmers tiễn gã ra tận cửa, thuận tay dúi mấy tờ tiền giấy vào tay gã.
"Ồ! Tôi xin nhận," Plumer nhún vai. "Giờ thì sĩ diện hão gì nữa. Cảm ơn ngài. Và cũng cảm ơn vì bữa tối quá tuyệt. Đêm nay tôi sẽ cuộn tròn trên nệm lông vũ và mộng du về xứ Bagdad. Mong sao sáng mai tỉnh dậy mọi thứ không tan thành mây khói. Cáo từ, vị Caliph vĩ đại nhất!"
Chalmers lại bồn chồn rảo bước trên tấm thảm. Tuy nhiên, anh cứ luẩn quẩn ở tít góc phòng, giữ một khoảng cách xa nhất có thể với chiếc bàn đang đặt bức phác thảo màu phấn. Đã hai, ba bận anh lấy hết can đảm định bước tới, nhưng rồi lại chùn chân. Dù chỉ loáng thoáng thấy những vệt màu nâu xám, vàng và nâu sẫm, anh vẫn có cảm giác như một bức tường vô hình, dựng lên từ chính nỗi sợ hãi của bản thân, đang kìm chân anh lại ở một khoảng cách an toàn. Anh thả mình xuống ghế, cố gắng trấn tĩnh lại tâm trí đang xáo trộn. Rồi anh bật dậy, giật chuông gọi Phillips.
"Trong tòa nhà này có một họa sĩ trẻ," anh hỏi. "-tên là Reineman-anh có biết cậu ta ở căn hộ nào không?"
"Tầng trên cùng, căn phía trước, thưa ngài," Phillips đáp.
"Anh hãy lên đó và phiền cậu ấy bỏ chút thời gian xuống đây một lát."
Reineman có mặt ngay sau đó. Chalmers chủ động giới thiệu bản thân.
"Cậu Reineman," anh nói, "trên chiếc bàn đằng kia có một bức phác thảo màu phấn nhỏ. Tôi sẽ rất cảm kích nếu cậu có thể xem qua và đưa ra nhận xét về nó dưới góc độ nghệ thuật."
Người họa sĩ trẻ tiến đến bàn và nâng bức vẽ lên. Chalmers quay nửa người, nặng nề tựa lưng vào ghế.
"Cậu-thấy-thế nào?" anh cất tiếng, từng chữ buông ra thật chậm rãi.
"Nếu xét thuần túy như một bức vẽ," người họa sĩ trầm trồ, "tôi quả thực không tìm được mỹ từ nào xứng đáng để khen ngợi. Đây đích thị là tuyệt tác của một bậc thầy-vừa táo bạo, vừa tinh tế lại vô cùng chân thực. Nó làm tôi phải ngỡ ngàng; bao năm nay, chưa từng có bức tranh màu phấn nào tôi từng xem lại xuất sắc đến nhường này."
"Thế còn khuôn mặt ấy, cậu bé-về chủ thể-về người mẫu-cậu có cảm nhận gì không?"
"Khuôn mặt ấy," Reineman thảng thốt, "thực sự là dung nhan của một thiên thần thuộc về chính Chúa. Xin mạn phép hỏi ngài, ai là-"
"Vợ tôi!" Chalmers hét lên, quay ngoắt lại, chồm lấy người họa sĩ vẫn còn đang ngơ ngác. Anh siết chặt tay cậu, vỗ bôm bốp vào lưng người thanh niên. "Cô ấy đang đi du lịch ở châu Âu. Hãy mang bức phác thảo đó đi, cậu bé, và vẽ nên tác phẩm để đời của cậu. Còn thù lao, cứ để tôi lo."
-
Caliph là tước hiệu của các nhà lãnh đạo Hồi giáo. Ở đây ám chỉ vua Haroun al-Raschid nổi tiếng trong truyện 'Nghìn lẻ một đêm', người thường cải trang thành thường dân đi vi hành ban đêm. ↩
-
Scheherezade là nàng công chúa trong truyện 'Nghìn lẻ một đêm', người đã khéo léo kể những câu chuyện hấp dẫn mỗi đêm để cứu mạng mình khỏi tay vị vua tàn bạo. ↩
-
Cách gọi tắt của vua Haroun al-Raschid. ↩
-
Cách ví von thú vị của tác giả, ghép thủ đô Bagdad huy hoàng trong cổ tích với hình ảnh thành phố New York có tàu điện ngầm hiện đại, ngụ ý New York cũng đầy ắp những câu chuyện kỳ lạ như xứ Ả Rập. ↩
-
Nhân vật trong bài đồng dao nổi tiếng của Anh 'Little Tommy Tucker', cậu bé phải hát để đổi lấy thức ăn, biểu tượng cho những người phải mua vui để kiếm miếng ăn. ↩
-
Con phố tài chính ở New York, biểu tượng cho giới ngân hàng và thị trường chứng khoán, nơi diễn ra những vụ phá sản trắng tay chỉ sau một đêm. ↩
-
Tước hiệu tôn kính dành cho các nhà cai trị Hồi giáo tối cao (Caliph), trong văn cảnh này tiếp tục dùng để gọi vị vua Haroun al-Raschid. ↩
A MADISON SQUARE ARABIAN NIGHT
To Carson Chalmers, in his apartment near the square, Phillips brought the evening mail. Beside the routine correspondence there were two items bearing the same foreign postmark.
One of the incoming parcels contained a photograph of a woman. The other contained an interminable letter, over which Chalmers hung, absorbed, for a long time. The letter was from another woman; and it contained poisoned barbs, sweetly dipped in honey, and feathered with innuendoes concerning the photographed woman.
Chalmers tore this letter into a thousand bits and began to wear out his expensive rug by striding back and forth upon it. Thus an animal from the jungle acts when it is caged, and thus a caged man acts when he is housed in a jungle of doubt.
By and by the restless mood was overcome. The rug was not an enchanted one. For sixteen feet he could travel along it; three thousand miles was beyond its power to aid.
Phillips appeared. He never entered; he invariably appeared, like a well-oiled genie.
“Will you dine here, sir, or out?” he asked.
“Here,” said Chalmers, “and in half an hour.” He listened glumly to the January blasts making an Aeolian trombone of the empty street.
“Wait,” he said to the disappearing genie. “As I came home across the end of the square I saw many men standing there in rows. There was one mounted upon something, talking. Why do those men stand in rows, and why are they there?”
“They are homeless men, sir,” said Phillips. “The man standing on the box tries to get lodging for them for the night. People come around to listen and give him money. Then he sends as many as the money will pay for to some lodging-house. That is why they stand in rows; they get sent to bed in order as they come.”
“By the time dinner is served,” said Chalmers, “have one of those men here. He will dine with me.”
“W-w-which-,” began Phillips, stammering for the first time during his service.
“Choose one at random,” said Chalmers. “You might see that he is reasonably sober-and a certain amount of cleanliness will not be held against him. That is all.”
It was an unusual thing for Carson Chalmers to play the Caliph. But on that night he felt the inefficacy of conventional antidotes to melancholy. Something wanton and egregious, something high-flavored and Arabian, he must have to lighten his mood.
On the half hour Phillips had finished his duties as slave of the lamp. The waiters from the restaurant below had whisked aloft the delectable dinner. The dining table, laid for two, glowed cheerily in the glow of the pink-shaded candles.
And now Phillips, as though he ushered a cardinal-or held in charge a burglar-wafted in the shivering guest who had been haled from the line of mendicant lodgers.
It is a common thing to call such men wrecks; if the comparison be used here it is the specific one of a derelict come to grief through fire. Even yet some flickering combustion illuminated the drifting hulk. His face and hands had been recently washed-a rite insisted upon by Phillips as a memorial to the slaughtered conventions. In the candle-light he stood, a flaw in the decorous fittings of the apartment. His face was a sickly white, covered almost to the eyes with a stubble the shade of a red Irish setter’s coat. Phillips’s comb had failed to control the pale brown hair, long matted and conformed to the contour of a constantly worn hat. His eyes were full of a hopeless, tricky defiance like that seen in a cur’s that is cornered by his tormentors. His shabby coat was buttoned high, but a quarter inch of redeeming collar showed above it. His manner was singularly free from embarrassment when Chalmers rose from his chair across the round dining table.
“If you will oblige me,” said the host, “I will be glad to have your company at dinner.”
“My name is Plumer,” said the highway guest, in harsh and aggressive tones. “If you’re like me, you like to know the name of the party you’re dining with.”
“I was going on to say,” continued Chalmers somewhat hastily, “that mine is Chalmers. Will you sit opposite?”
Plumer, of the ruffled plumes, bent his knee for Phillips to slide the chair beneath him. He had an air of having sat at attended boards before. Phillips set out the anchovies and olives.
“Good!” barked Plumer; “going to be in courses, is it? All right, my jovial ruler of Bagdad. I’m your Scheherezade all the way to the toothpicks. You’re the first Caliph with a genuine Oriental flavor I’ve struck since frost. What luck! And I was forty-third in line. I finished counting, just as your welcome emissary arrived to bid me to the feast. I had about as much chance of getting a bed to-night as I have of being the next President. How will you have the sad story of my life, Mr. Al Raschid-a chapter with each course or the whole edition with the cigars and coffee?”
“The situation does not seem a novel one to you,” said Chalmers with a smile.
“By the chin whiskers of the prophet-no!” answered the guest. “New York’s as full of cheap Haroun al Raschids as Bagdad is of fleas. I’ve been held up for my story with a loaded meal pointed at my head twenty times. Catch anybody in New York giving you something for nothing! They spell curiosity and charity with the same set of building blocks. Lots of ’em will stake you to a dime and chop-suey; and a few of ’em will play Caliph to the tune of a top sirloin; but every one of ’em will stand over you till they screw your autobiography out of you with foot notes, appendix and unpublished fragments. Oh, I know what to do when I see victuals coming toward me in little old Bagdad-on-the-Subway. I strike the asphalt three times with my forehead and get ready to spiel yarns for my supper. I claim descent from the late Tommy Tucker, who was forced to hand out vocal harmony for his pre-digested wheaterina and spoopju.”
“I do not ask your story,” said Chalmers. “I tell you frankly that it was a sudden whim that prompted me to send for some stranger to dine with me. I assure you you will not suffer through any curiosity of mine.”
“Oh, fudge!” exclaimed the guest, enthusiastically tackling his soup; “I don’t mind it a bit. I’m a regular Oriental magazine with a red cover and the leaves cut when the Caliph walks abroad. In fact, we fellows in the bed line have a sort of union rate for things of this sort. Somebody’s always stopping and wanting to know what brought us down so low in the world. For a sandwich and a glass of beer I tell ’em that drink did it. For corned beef and cabbage and a cup of coffee I give ’em the hard-hearted-landlord-six-months-in-the-hospital-lost-job story. A sirloin steak and a quarter for a bed gets the Wall Street tragedy of the swept-away fortune and the gradual descent. This is the first spread of this kind I’ve stumbled against. I haven’t got a story to fit it. I’ll tell you what, Mr. Chalmers, I’m going to tell you the truth for this, if you’ll listen to it. It’ll be harder for you to believe than the made-up ones.”
An hour later the Arabian guest lay back with a sigh of satisfaction while Phillips brought the coffee and cigars and cleared the table.
“Did you ever hear of Sherrard Plumer?” he asked, with a strange smile.
“I remember the name,” said Chalmers. “He was a painter, I think, of a good deal of prominence a few years ago.”
“Five years,” said the guest. “Then I went down like a chunk of lead. I’m Sherrard Plumer! I sold the last portrait I painted for $2,000. After that I couldn’t have found a sitter for a gratis picture.”
“What was the trouble?” Chalmers could not resist asking.
“Funny thing,” answered Plumer, grimly. “Never quite understood it myself. For a while I swam like a cork. I broke into the swell crowd and got commissions right and left. The newspapers called me a fashionable painter. Then the funny things began to happen. Whenever I finished a picture people would come to see it, and whisper and look queerly at one another.”
“I soon found out what the trouble was. I had a knack of bringing out in the face of a portrait the hidden character of the original. I don’t know how I did it-I painted what I saw-but I know it did me. Some of my sitters were fearfully enraged and refused their pictures. I painted the portrait of a very beautiful and popular society dame. When it was finished her husband looked at it with a peculiar expression on his face, and the next week he sued for divorce.”
“I remember one case of a prominent banker who sat to me. While I had his portrait on exhibition in my studio an acquaintance of his came in to look at it. ‘Bless me,’ says he, ‘does he really look like that?” I told him it was considered a faithful likeness. ‘I never noticed that expression about his eyes before,’ said he; ‘I think I’ll drop downtown and change my bank account.’ He did drop down, but the bank account was gone and so was Mr. Banker.
“It wasn’t long till they put me out of business. People don’t want their secret meannesses shown up in a picture. They can smile and twist their own faces and deceive you, but the picture can’t. I couldn’t get an order for another picture, and I had to give up. I worked as a newspaper artist for a while, and then for a lithographer, but my work with them got me into the same trouble. If I drew from a photograph my drawing showed up characteristics and expressions that you couldn’t find in the photo, but I guess they were in the original, all right. The customers raised lively rows, especially the women, and I never could hold a job long. So I began to rest my weary head upon the breast of Old Booze for comfort. And pretty soon I was in the free-bed line and doing oral fiction for hand-outs among the food bazaars. Does the truthful statement weary thee, O Caliph? I can turn on the Wall Street disaster stop if you prefer, but that requires a tear, and I’m afraid I can’t hustle one up after that good dinner.”
“No, no,” said Chalmers, earnestly, “you interest me very much. Did all of your portraits reveal some unpleasant trait, or were there some that did not suffer from the ordeal of your peculiar brush?”
“Some? Yes,” said Plumer. “Children generally, a good many women and a sufficient number of men. All people aren’t bad, you know. When they were all right the pictures were all right. As I said, I don’t explain it, but I’m telling you facts.”
On Chalmers’s writing-table lay the photograph that he had received that day in the foreign mail. Ten minutes later he had Plumer at work making a sketch from it in pastels. At the end of an hour the artist rose and stretched wearily.
“It’s done,” he yawned. “You’ll excuse me for being so long. I got interested in the job. Lordy! but I’m tired. No bed last night, you know. Guess it’ll have to be good night now, O Commander of the Faithful!”
Chalmers went as far as the door with him and slipped some bills into his hand.
“Oh! I’ll take ’em,” said Plumer. “All that’s included in the fall. Thanks. And for the very good dinner. I shall sleep on feathers to-night and dream of Bagdad. I hope it won’t turn out to be a dream in the morning. Farewell, most excellent Caliph!”
Again Chalmers paced restlessly upon his rug. But his beat lay as far from the table whereon lay the pastel sketch as the room would permit. Twice, thrice, he tried to approach it, but failed. He could see the dun and gold and brown of the colors, but there was a wall about it built by his fears that kept him at a distance. He sat down and tried to calm himself. He sprang up and rang for Phillips.
“There is a young artist in this building,” he said. “-a Mr. Reineman-do you know which is his apartment?”
“Top floor, front, sir,” said Phillips.
“Go up and ask him to favor me with his presence here for a few minutes.”
Reineman came at once. Chalmers introduced himself.
“Mr. Reineman,” said he, “there is a little pastel sketch on yonder table. I would be glad if you will give me your opinion of it as to its artistic merits and as a picture.”
The young artist advanced to the table and took up the sketch. Chalmers half turned away, leaning upon the back of a chair.
“How-do-you find it?” he asked, slowly.
“As a drawing,” said the artist, “I can’t praise it enough. It’s the work of a master-bold and fine and true. It puzzles me a little; I haven’t seen any pastel work near as good in years.”
“The face, man-the subject-the original-what would you say of that?”
“The face,” said Reineman, “is the face of one of God’s own angels. May I ask who-”
“My wife!” shouted Chalmers, wheeling and pouncing upon the astonished artist, gripping his hand and pounding his back. “She is traveling in Europe. Take that sketch, boy, and paint the picture of your life from it and leave the price to me.”