Mỗi thành phố vĩ đại thường mang một nhân dạng và linh hồn riêng biệt, đôi khi kiêu kỳ, bọc thép và vô tình.
QUÁ TRÌNH TRỞ THÀNH MỘT NGƯỜI NEW YORK
Raggles là một nhà thơ, cùng với hàng tá những thứ khác. Thiên hạ thường gọi ông là một kẻ lang bạt; nhưng đó chỉ là cách nói vắn tắt để chỉ rằng ông là một triết gia, một nghệ sĩ, một lữ khách, một nhà tự nhiên học và một người ham mê khám phá. Nhưng trên hết, ông vẫn là một nhà thơ. Dù cả đời chưa từng viết một dòng thơ nào, ông lại sống trọn với những vần thơ của mình. Khúc sử thi Odyssey1 của ông hẳn sẽ mang âm hưởng của một bài thơ hài hước châm biếm, giá như ông có chịu viết ra. Nhưng tóm lại, quay về với khẳng định ban đầu, Raggles là một nhà thơ.
Sở trường của Raggles, nếu ông có hứng cầm bút lên, hẳn sẽ là những bài thơ sonnet2 viết về các thành phố. Ông mân mê nghiên cứu các thành phố như cách một người phụ nữ săm soi bóng mình trong gương; như cách một đứa trẻ săm soi đám mùn cưa và keo dán của con búp bê bị đứt lìa tay chân; như cách những nhà văn chuyên viết về động vật hoang dã quan sát những chiếc lồng trong sở thú. Đối với Raggles, một thành phố chẳng đơn thuần chỉ là một đống gạch vữa, nơi có những cư dân sinh sống; nó là một thực thể mang linh hồn sống động và khác biệt; một tập hợp sự sống rộn ràng, mang đậm cá tính, hương vị và cảm xúc riêng biệt. Rong ruổi hai ngàn dặm về đủ các hướng bắc nam đông tây, Raggles lang bạt trong niềm say mê đầy chất thơ, dang tay ôm trọn các thành phố vào lòng. Ông lếch thếch cuốc bộ trên những con đường bụi bặm mờ mịt, hoặc chễm chệ lướt đi trên những toa xe lửa chở hàng, coi thời gian chẳng là cái đinh gì. Và khi đã chạm đến trái tim của một thành phố và lắng nghe những lời tự tình thầm kín của nó, ông lại tiếp tục lên đường, không ngơi nghỉ, nhắm thẳng đến một thành phố khác. Raggles vốn tính cả thèm chóng chán! -nhưng có lẽ là do ông chưa va phải một đô thị nào đủ sức thu hút và trói buộc cái trí tưởng tượng siêu việt, đầy bắt bẻ của mình.
Theo lời các nhà thơ cổ đại, chúng ta biết rằng các thành phố thường mang tính nữ. Với nhà thơ Raggles cũng vậy; tâm trí ông luôn có một khái niệm rành rọt, cụ thể về hình bóng tượng trưng cho từng thành phố mà ông từng buông lời tán tỉnh.
Chicago dường như sà xuống ông với một vẻ sôi nổi gợi nhớ đến phu nhân Partington3, sực nức mùi nước hoa hoắc hương và rợp bóng lông chim trang trí. Nàng phá vỡ giấc ngủ của ông bằng một khúc ca du dương, tuyệt mĩ về những lời hứa hẹn tương lai. Thế nhưng Raggles lại choàng tỉnh trong cơn ớn lạnh và bị ám ảnh bởi những lý tưởng đã vụn vỡ trong cái không khí ảm đạm ngập mùi cá và salad khoai tây.
Chicago đã tác động đến ông như thế đấy. Sự miêu tả này nghe có vẻ hơi lờ mờ và thiếu chính xác; nhưng lỗi tại Raggles cả. Đáng lẽ ông nên tỉ mẩn ghi lại những cảm giác của mình thành thơ để đăng báo mới phải.
Pittsburg lại mang đến cho ông một ấn tượng hệt như vở "Othello"4 được diễn bằng tiếng Nga trong một nhà ga xe lửa, bởi gánh hát rong Dockstader5. Dù vậy, nàng Pittsburg vẫn là một quý cô cao sang và rộng lượng -giản dị, nồng hậu, khuôn mặt hây hây đỏ. Nàng rửa bát đĩa trong bộ váy lụa và đôi giày da dê màu trắng, rồi mời Raggles ngồi sưởi ấm trước lò lửa, nhâm nhi sâm panh cùng món chân giò lợn và khoai tây chiên của ông.
New Orleans thì chỉ đơn thuần đứng từ ban công nhìn rọi xuống chỗ ông. Ông chỉ có thể lờ mờ thấy đôi mắt đăm chiêu, sáng trong như sao của nàng và bắt gặp nhịp rung rinh từ chiếc quạt trên tay nàng, chỉ thế thôi. Chỉ một lần duy nhất ông được giáp mặt nàng. Đó là vào lúc rạng sáng, khi nàng đang xối một xô nước ào xuống những viên gạch đỏ au trên vỉa hè. Nàng cười lanh lảnh, ngân nga một điệu hát tiếng Pháp và làm ngập đôi giày của Raggles trong dòng nước lạnh buốt. Đi nào!
Boston lại tự thể hiện bản thân với gã thi sĩ Raggles theo cái cách kỳ quặc và độc đáo nhất. Đối với ông, cứ như thể ông đã uống cạn trà lạnh, và thành phố này lại là một miếng vải trắng buốt, lạnh ngắt quấn chặt quanh trán để hối thúc ông vươn tới một nỗ lực trí óc to tát nhưng lại vô định nào đó. Để rồi, rốt cuộc, ông lại phải đi xúc tuyết để kiếm cơm qua ngày; và miếng vải ướt sũng kia lại càng thắt chặt những nút buộc, chẳng tài nào gỡ ra nổi.
Bạn có thể chép miệng bảo rằng đó là những ý tưởng lơ mơ và khó hiểu; nhưng sự chê bai đó nên được xoa dịu bằng sự biết ơn, vì đây là trí tưởng tượng bay bổng của các nhà thơ cơ mà -và thử tưởng tượng xem bạn sẽ còn đau đầu đến mức nào nếu tình cờ đọc được chúng trong những vần thơ!
Một ngày nọ, Raggles đặt chân đến và quyết tâm chinh phục trái tim của thành phố Manhattan vĩ đại. Nàng là vĩ đại nhất trong số tất cả; ông khao khát được thấu hiểu nốt nhạc của nàng trong thang âm; muốn nếm thử, đánh giá, phân loại, giải mã, dán nhãn và xếp nàng chung với những đô thị từng phơi bày cho ông bí mật về bản sắc của chúng. Và đến đây, chúng tôi xin phép ngừng làm người phiên dịch của Raggles để chuyển sang vai trò người chép sử cho câu chuyện của ông.
Vào một buổi sáng, Raggles bước xuống từ chiếc phà và thong dong tiến vào trung tâm phố thị với phong thái dửng dưng của một công dân toàn cầu. Ông chủ ý ăn vận cốt để hóa thân thành một "kẻ vô danh". Chẳng một quốc gia, chủng tộc, tầng lớp, băng đảng, liên đoàn, bè phái hay hội chơi bowling nào có thể nhận vơ ông là người của mình. Những mảnh y phục trên người ông-vốn là từng món đồ được quyên góp từ những công dân mang đủ loại chiều cao khác biệt, nhưng lại có chung một số đo vòng quanh trái tim-tuy chắp vá nhưng vẫn còn vừa vặn với vóc dáng ông vạn lần so với mấy bộ đồ may sẵn mà bọn thợ may xuyên lục địa cứ nằng nặc dúi vào tay bạn, hòng đính kèm thêm vali, dây đeo quần, khăn tay lụa và khuy áo ngọc trai làm quà khuyến mãi. Dù chẳng bói ra nổi một xu dính túi-đúng chuẩn một gã nhà thơ thứ thiệt-nhưng với niềm say mê của một nhà thiên văn học vừa bắt được một vì sao lạ giữa dải ngân hà, hay sự ngỡ ngàng của một gã vừa thấy mực tuôn trào từ cây bút máy cạn khô, Raggles miệt mài rảo bước vào chốn phồn hoa đô hội.
Đến cuối chiều, ông lui khỏi chốn ồn ào náo nhiệt với vẻ kinh hoàng câm lặng hằn rõ trên nét mặt. Ông hoàn toàn bị đánh gục, bối rối, hụt hẫng và sợ hãi. Những thành phố khác đối với ông dễ đọc như những trang sách in khổ lớn; dễ đoán như những cô thiếu nữ miệt vườn; dễ giải mã như mấy trò đố chữ có kèm phí đăng ký; dễ nuốt trôi như ly cocktail hàu. Nhưng thành phố này lại quá đỗi lạnh lẽo, lấp lánh, tĩnh lặng và xa vời vợi, hệt như một viên kim cương bốn carat nằm chễm chệ trong tủ kính trước con mắt thèm thuồng của một kẻ si tình đứng bên ngoài, tay cứ vân vê mãi những đồng lương còm cõi ướt đẫm mồ hôi trong túi áo.
Những lời chào đón từ các thành phố ông từng đi qua-sự tử tế mộc mạc của chúng, lòng thương người thô ráp, những câu chửi thề suồng sã, sự tò mò bép xép và cả nét cả tin hay vẻ thờ ơ dễ dàng đoán định. Ngược lại, Manhattan chẳng ban phát cho ông lấy nửa điểm tựa; nó dựng lên bức tường thành kiên cố chặn đứng mọi ngả đường. Tựa như một dòng sông kim cương nguyên khối, nó hững hờ trôi tuột qua ông trên những con phố. Không một ánh mắt nào thèm đoái hoài ngoái lại; chẳng một giọng nói nào buồn cất lên đáp lời. Trái tim ông khao khát một cú vỗ vai từ bàn tay lấm lem bồ hóng của gã thợ thuyền Pittsburg; khao khát tiếng gầm gừ đe dọa mà mang tính xã giao của dân Chicago rít bên tai; khao khát ánh nhìn bợt bạt, bề trên qua lăng kính của gã trí thức Boston-thậm chí, ông khao khát cả cú đá vội vàng, vô hại từ mũi giày của tay du côn Louisville hay St. Louis.
Trên đại lộ Broadway, Raggles, kẻ từng chinh phục thành công bao nhiêu đô thị, giờ đây đứng đó, co rúm và rụt rè như gã trai quê mới lên tỉnh. Lần đầu tiên trong đời, ông nếm trải sự sỉ nhục chua xót khi bị coi như kẻ vô hình. Và khi cố công thu gọn cái thành phố rực rỡ, quay cuồng và lạnh lẽo như băng giá này vào một công thức rập khuôn, ông đã chuốc lấy thất bại thảm hại. Dù mang tâm hồn của một nhà thơ, chốn này chẳng ban cho ông bất kỳ phép so sánh sắc màu nào, không một điểm đối chiếu, chẳng bói ra nổi một tì vết trên những góc cạnh được mài giũa trơn tru bóng loáng. Nó nhẵn thín đến mức ông chẳng tìm đâu ra một chỗ bám để nâng nó lên mà soi xét hình hài, cấu trúc, như cái cách ông vẫn thường làm một cách sành sỏi và ngạo nghễ với vô số thị trấn khác. Những dãy nhà nơi đây như những thành lũy dài miên man, chi chít những lỗ châu mai phòng thủ; còn con người thì tựa những bóng ma rực rỡ nhưng vô hồn, lướt qua nhau trong một đội hình gở lạnh và rặt thói vị kỷ.
Điều đè nặng nhất lên tâm hồn Raggles, cản trở trí tưởng tượng thơ ca trong ông, chính là tinh thần vị kỷ tuyệt đối dường như đã thấm đẫm vào từng con người, hệt như món đồ chơi được thấm đẫm nước sơn. Mỗi kẻ ông quan sát đều hiện lên như một loài quái vật kiêu ngạo, xấc xược và đáng ghét. Tính người trong họ đã hoàn toàn tiêu biến; họ chỉ là những bức tượng thần bằng đá được sơn phết bóng bẩy đang chập chững bước đi, mải mê tự huyễn hoặc bản thân và tham lam đòi hỏi sự sùng bái từ những pho tượng đồng loại, bất chấp việc chẳng ai màng bận tâm đến ai. Băng giá, tàn nhẫn, không thể lay chuyển, trơ lỳ, tất thảy được đúc ra từ cùng một khuôn mẫu vô hồn, họ hối hả sải bước như những pho tượng bất ngờ được phù phép ban cho khả năng cử động, trong khi linh hồn và cảm xúc thì vẫn mãi ngủ vùi trong khối cẩm thạch vô tri vô giác.
Dần dà, Raggles cũng phân loại được vài kiểu người. Điển hình là một quý ông lớn tuổi với bộ râu ngắn trắng như cước, khuôn mặt hồng hào không một nếp nhăn và đôi mắt xanh sắc sảo, lạnh lùng như đá tảng. Lão ăn vận chải chuốt theo phong cách của đám thanh niên quyền quý, trông như hiện thân sống của sự giàu sang, từng trải và vẻ thờ ơ lạnh nhạt đặc trưng của phố thị. Một kiểu khác là bóng dáng người phụ nữ cao ráo, xinh đẹp, với những đường nét thanh tú như tranh khắc thép. Nàng tựa như một vị nữ thần, điềm nhiên, khoác lên mình bộ cánh của những nàng công chúa thời xưa, với đôi mắt xanh lạnh lẽo hệt như ánh mặt trời hắt lên từ dòng sông băng. Và một kiểu nữa, được xem là "sản phẩm phụ" của cái thị trấn ngập tràn rập khuôn này-một gã to con, vênh váo, dữ tợn nhưng lại toát ra vẻ điềm đạm đến gai người. Gã sở hữu phần hàm bạnh ra to cỡ bãi lúa mì vừa gặt xong, làn da nhẵn nhụi của một đứa trẻ mới được rửa tội và những khớp ngón tay sần sùi của một tay đấm bốc. Loại người này thường thích dựa lưng vào mấy tấm biển quảng cáo xì gà, ném vào đời cái nhìn xấc xược và ráo hoảnh.
Vốn là một sinh vật nhạy cảm, nhà thơ Raggles nhanh chóng héo hon gầy mòn trong vòng tay ảm đạm của cái chốn không sao giải mã nổi này. Vẻ ngoài lạnh lẽo, bí hiểm như tượng nhân sư6, đầy mỉa mai, khó dò, giả tạo và tàn nhẫn của thành phố khiến ông vừa chán nản vừa hoang mang cực độ. Phải chăng nó thực sự không có trái tim? Ông thà quay về với đống củi khô, vểnh tai nghe những lời càm ràm của mấy bà nội trợ mặt mày cau có ngoài cửa sau, hay chịu đựng sự bực dọc đáng yêu của mấy gã pha chế rượu sau quầy đồ ăn trưa miễn phí ở chốn tỉnh lẻ, vẻ hung hăng dễ mến của gã cảnh sát thôn quê, những cú đá, những vụ bắt bớ và cả những cơ hội phó mặc cho số phận ở các đô thị thô tục, ồn ào và cục cằn khác, còn hơn là phải nếm trải sự vô tâm lạnh lẽo đến thấu xương nơi này.
Raggles thu hết can đảm, bước ra xin bố thí từ đám đông qua lại. Đổi lại, họ phớt lờ, bất chấp sự tồn tại của ông, cứ thế lướt qua mà chẳng buồn chớp mắt lấy một cái để chứng tỏ họ biết có một con người đang đứng đó. Và rồi, ông tự nhủ với lòng mình rằng cái thành phố Manhattan hoa lệ nhưng vô tình này vốn dĩ chẳng có linh hồn; rằng cư dân của nó chỉ là đám ma-nơ-canh được giật dây bằng những chiếc lò xo vô hình, và rằng, ông đang trơ trọi một mình giữa một bãi hoang mạc mênh mông, rộng lớn.
Raggles vừa mới bước xuống để băng qua đường. Bỗng một tiếng nổ, tiếng gầm rú, tiếng rít lanh lảnh và một cú va chạm loảng xoảng vang lên. Một thứ gì đó tông sầm vào ông, hất tung ông lộn nhào văng xa tận sáu thước so với chỗ đang đứng. Khi ông rơi phịch xuống đất tựa như xác tàn của một quả pháo thăng thiên, trái đất cùng mọi thành phố trên đó bỗng chốc vỡ vụn thành một giấc chiêm bao đứt đoạn.
Raggles mở bừng mắt. Điều đầu tiên đánh thức ông là một mùi hương thoang thoảng-như hương thơm của những đóa hoa xuân nở sớm nhất nơi chốn Thiên đường. Rồi, một bàn tay mềm tựa cánh hoa rơi khe khẽ chạm lên trán ông. Cúi xuống nhìn ông là một người phụ nữ ăn vận lộng lẫy như một nàng công chúa thuở xưa. Đôi mắt xanh biếc của nàng lúc này đong đầy sự dịu dàng và ngấn lệ cảm thương. Kê dưới đầu ông, ngay trên nền vỉa hè là lớp lụa là và lông thú êm ái. Đứng cạnh đó, tay cầm chiếc mũ của Raggles, là vị quý ông lớn tuổi-hiện thân cho sự giàu sang và điềm đạm của chốn thị thành, khuôn mặt đỏ gay vì vừa tuôn một tràng đả kích kịch liệt lũ lái xe ẩu tả. Từ quán cà phê gần đó, gã hộ pháp với quai hàm bạnh và nước da nhẵn nhụi vội vã chạy ùa ra, mang theo một ly chất lỏng màu đỏ thẫm hứa hẹn những điều tuyệt diệu.
"Uống đi, anh bạn," gã hộ pháp nói, cẩn thận kề chiếc ly lên môi Raggles.
Chỉ trong chớp mắt, hàng trăm người đã xúm lại, trên khuôn mặt ai nấy đều hằn rõ nét âu lo. Hai viên cảnh sát lịch lãm trong bộ đồng phục bóng loáng len lỏi vào vòng vây, nhẹ nhàng đẩy lùi bớt những người hảo tâm nhiệt tình quá đỗi. Một bà lão quấn khăn choàng đen cất cao giọng bàn về dầu long não; một cậu bé bán báo nhanh tay luồn tờ báo của mình xuống dưới cùi chỏ của Raggles để ông khỏi chạm tay xuống mặt vỉa hè lấm lem bùn đất. Một cậu thanh niên lanh lẹ cầm cuốn sổ tay chực chờ hỏi han tên tuổi.
Một hồi chuông dõng dạc vang lên, chiếc xe cứu thương rẽ đám đông mở lối tiến vào. Một vị bác sĩ điềm tĩnh lách qua mớ hỗn độn ồn ào.
"Anh thấy thế nào rồi?" vị bác sĩ cất tiếng hỏi, cúi người xuống thực hiện phận sự một cách thuần thục. Nàng công chúa trong bộ váy lụa satin dùng một chiếc khăn mỏng tựa mạng nhện tỏa hương ngào ngạt khẽ khàng lau đi vài vệt máu đỏ trên trán Raggles.
"Tôi á?" Raggles khẽ thốt lên, khóe môi nở một nụ cười rạng rỡ tựa thiên thần. "Tôi thấy rất ổn, thưa bác sĩ."
Ông đã tìm thấy trái tim của thành phố mới của đời mình.
Ba ngày sau, ông được phép rời khỏi chiếc giường bệnh để chuyển sang khu tĩnh dưỡng. Thế nhưng, ông mới vào đó được chừng một giờ đồng hồ thì các hộ lý đã nghe thấy tiếng ẩu đả ầm ĩ. Chạy vội tới kiểm tra, họ phát hiện ra Raggles vừa tẩn cho một gã bệnh nhân cùng phòng một trận tơi bời - đó là một tay khách vãng lai cáu bẳn, xui xẻo bị tàu chở hàng tông trúng nên phải dạt vào đây băng bó.
"Chuyện này là sao đây?" cô y tá trưởng lên tiếng hỏi.
"Hắn dám chê bai thành phố của tôi, thưa cô," Raggles đáp.
"Thành phố nào cơ?" cô y tá hỏi lại.
"New York," Raggles nói.
-
Tác phẩm sử thi nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại do nhà thơ Homer sáng tác, kể về hành trình lưu lạc đầy gian truân của người anh hùng Odysseus. ↩
-
Thể loại thơ trữ tình gồm 14 dòng, bắt nguồn từ châu Âu, thường được dùng để diễn tả những cung bậc cảm xúc sâu sắc và mãnh liệt. ↩
-
Một nhân vật hài hước nổi tiếng trong văn học đại chúng Mỹ thế kỷ 19, thường được khắc họa là một bà lão nhiệt tình, hay nói nhịu nhưng vô cùng sốt sắng. ↩
-
Một trong những vở bi kịch kinh điển nhất của đại văn hào William Shakespeare. ↩
-
Một đoàn kịch lưu diễn rất nổi tiếng ở Mỹ vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, chuyên biểu diễn tạp kỹ và hài kịch bình dân. ↩
-
Sinh vật thần thoại Ai Cập với đầu người, mình sư tử, nổi tiếng là biểu tượng cho sự tĩnh lặng, bí ẩn và những điều khó giải mã. ↩
THE MAKING OF A NEW YORKER
Besides many other things, Raggles was a poet. He was called a tramp; but that was only an elliptical way of saying that he was a philosopher, an artist, a traveller, a naturalist and a discoverer. But most of all he was a poet. In all his life he never wrote a line of verse; he lived his poetry. His Odyssey would have been a Limerick, had it been written. But, to linger with the primary proposition, Raggles was a poet.
Raggles’s specialty, had he been driven to ink and paper, would have been sonnets to the cities. He studied cities as women study their reflections in mirrors; as children study the glue and sawdust of a dislocated doll; as the men who write about wild animals study the cages in the zoo. A city to Raggles was not merely a pile of bricks and mortar, peopled by a certain number of inhabitants; it was a thing with a soul characteristic and distinct; an individual conglomeration of life, with its own peculiar essence, flavor and feeling. Two thousand miles to the north and south, east and west, Raggles wandered in poetic fervor, taking the cities to his breast. He footed it on dusty roads, or sped magnificently in freight cars, counting time as of no account. And when he had found the heart of a city and listened to its secret confession, he strayed on, restless, to another. Fickle Raggles!-but perhaps he had not met the civic corporation that could engage and hold his critical fancy.
Through the ancient poets we have learned that the cities are feminine. So they were to poet Raggles; and his mind carried a concrete and clear conception of the figure that symbolized and typified each one that he had wooed.
Chicago seemed to swoop down upon him with a breezy suggestion of Mrs. Partington, plumes and patchouli, and to disturb his rest with a soaring and beautiful song of future promise. But Raggles would awake to a sense of shivering cold and a haunting impression of ideals lost in a depressing aura of potato salad and fish.
Thus Chicago affected him. Perhaps there is a vagueness and inaccuracy in the description; but that is Raggles’s fault. He should have recorded his sensations in magazine poems.
Pittsburg impressed him as the play of “Othello” performed in the Russian language in a railroad station by Dockstader’s minstrels. A royal and generous lady this Pittsburg, though-homely, hearty, with flushed face, washing the dishes in a silk dress and white kid slippers, and bidding Raggles sit before the roaring fireplace and drink champagne with his pigs’ feet and fried potatoes.
New Orleans had simply gazed down upon him from a balcony. He could see her pensive, starry eyes and catch the flutter of her fan, and that was all. Only once he came face to face with her. It was at dawn, when she was flushing the red bricks of the banquette with a pail of water. She laughed and hummed a chansonette and filled Raggles’s shoes with ice-cold water. Allons!
Boston construed herself to the poetic Raggles in an erratic and singular way. It seemed to him that he had drunk cold tea and that the city was a white, cold cloth that had been bound tightly around his brow to spur him to some unknown but tremendous mental effort. And, after all, he came to shovel snow for a livelihood; and the cloth, becoming wet, tightened its knots and could not be removed.
Indefinite and unintelligible ideas, you will say; but your disapprobation should be tempered with gratitude, for these are poets’ fancies-and suppose you had come upon them in verse!
One day Raggles came and laid siege to the heart of the great city of Manhattan. She was the greatest of all; and he wanted to learn her note in the scale; to taste and appraise and classify and solve and label her and arrange her with the other cities that had given him up the secret of their individuality. And here we cease to be Raggles’s translator and become his chronicler.
Raggles landed from a ferry-boat one morning and walked into the core of the town with the blasé air of a cosmopolite. He was dressed with care to play the rôle of an “unidentified man.” No country, race, class, clique, union, party clan or bowling association could have claimed him. His clothing, which had been donated to him piece-meal by citizens of different height, but same number of inches around the heart, was not yet as uncomfortable to his figure as those specimens of raiment, self-measured, that are railroaded to you by transcontinental tailors with a suit case, suspenders, silk handkerchief and pearl studs as a bonus. Without money-as a poet should be-but with the ardor of an astronomer discovering a new star in the chorus of the milky way, or a man who has seen ink suddenly flow from his fountain pen, Raggles wandered into the great city.
Late in the afternoon he drew out of the roar and commotion with a look of dumb terror on his countenance. He was defeated, puzzled, discomfited, frightened. Other cities had been to him as long primer to read; as country maidens quickly to fathom; as send-price-of-subscription-with-answer rebuses to solve; as oyster cocktails to swallow; but here was one as cold, glittering, serene, impossible as a four-carat diamond in a window to a lover outside fingering damply in his pocket his ribbon-counter salary.
The greetings of the other cities he had known-their homespun kindliness, their human gamut of rough charity, friendly curses, garrulous curiosity and easily estimated credulity or indifference. This city of Manhattan gave him no clue; it was walled against him. Like a river of adamant it flowed past him in the streets. Never an eye was turned upon him; no voice spoke to him. His heart yearned for the clap of Pittsburg’s sooty hand on his shoulder; for Chicago’s menacing but social yawp in his ear; for the pale and eleemosynary stare through the Bostonian eyeglass-even for the precipitate but unmalicious boot-toe of Louisville or St. Louis.
On Broadway Raggles, successful suitor of many cities, stood, bashful, like any country swain. For the first time he experienced the poignant humiliation of being ignored. And when he tried to reduce this brilliant, swiftly changing, ice-cold city to a formula he failed utterly. Poet though he was, it offered him no color similes, no points of comparison, no flaw in its polished facets, no handle by which he could hold it up and view its shape and structure, as he familiarly and often contemptuously had done with other towns. The houses were interminable ramparts loopholed for defense; the people were bright but bloodless spectres passing in sinister and selfish array.
The thing that weighed heaviest on Raggles’s soul and clogged his poet’s fancy was the spirit of absolute egotism that seemed to saturate the people as toys are saturated with paint. Each one that he considered appeared a monster of abominable and insolent conceit. Humanity was gone from them; they were toddling idols of stone and varnish, worshipping themselves and greedy for though oblivious of worship from their fellow graven images. Frozen, cruel, implacable, impervious, cut to an identical pattern, they hurried on their ways like statues brought by some miracles to motion, while soul and feeling lay unaroused in the reluctant marble.
Gradually Raggles became conscious of certain types. One was an elderly gentleman with a snow-white, short beard, pink, unwrinkled face and stony, sharp blue eyes, attired in the fashion of a gilded youth, who seemed to personify the city’s wealth, ripeness and frigid unconcern. Another type was a woman, tall, beautiful, clear as a steel engraving, goddess-like, calm, clothed like the princesses of old, with eyes as coldly blue as the reflection of sunlight on a glacier. And another was a by-product of this town of marionettes-a broad, swaggering, grim, threateningly sedate fellow, with a jowl as large as a harvested wheat field, the complexion of a baptized infant and the knuckles of a prize-fighter. This type leaned against cigar signs and viewed the world with frappéd contumely.
A poet is a sensitive creature, and Raggles soon shrivelled in the bleak embrace of the undecipherable. The chill, sphinx-like, ironical, illegible, unnatural, ruthless expression of the city left him downcast and bewildered. Had it no heart? Better the woodpile, the scolding of vinegar-faced housewives at back doors, the kindly spleen of bartenders behind provincial free-lunch counters, the amiable truculence of rural constables, the kicks, arrests and happy-go-lucky chances of the other vulgar, loud, crude cities than this freezing heartlessness.
Raggles summoned his courage and sought alms from the populace. Unheeding, regardless, they passed on without the wink of an eyelash to testify that they were conscious of his existence. And then he said to himself that this fair but pitiless city of Manhattan was without a soul; that its inhabitants were manikins moved by wires and springs, and that he was alone in a great wilderness.
Raggles started to cross the street. There was a blast, a roar, a hissing and a crash as something struck him and hurled him over and over six yards from where he had been. As he was coming down like the stick of a rocket the earth and all the cities thereof turned to a fractured dream.
Raggles opened his eyes. First an odor made itself known to him-an odor of the earliest spring flowers of Paradise. And then a hand soft as a falling petal touched his brow. Bending over him was the woman clothed like the princess of old, with blue eyes, now soft and humid with human sympathy. Under his head on the pavement were silks and furs. With Raggles’s hat in his hand and with his face pinker than ever from a vehement burst of oratory against reckless driving, stood the elderly gentleman who personified the city’s wealth and ripeness. From a nearby café hurried the by-product with the vast jowl and baby complexion, bearing a glass full of a crimson fluid that suggested delightful possibilities.
“Drink dis, sport,” said the by-product, holding the glass to Raggles’s lips.
Hundreds of people huddled around in a moment, their faces wearing the deepest concern. Two flattering and gorgeous policemen got into the circle and pressed back the overplus of Samaritans. An old lady in a black shawl spoke loudly of camphor; a newsboy slipped one of his papers beneath Raggles’s elbow, where it lay on the muddy pavement. A brisk young man with a notebook was asking for names.
A bell clanged importantly, and the ambulance cleaned a lane through the crowd. A cool surgeon slipped into the midst of affairs.
“How do you feel, old man?” asked the surgeon, stooping easily to his task. The princess of silks and satins wiped a red drop or two from Raggles’s brow with a fragrant cobweb.
“Me?” said Raggles, with a seraphic smile, “I feel fine.”
He had found the heart of his new city.
In three days they let him leave his cot for the convalescent ward in the hospital. He had been in there an hour when the attendants heard sounds of conflict. Upon investigation they found that Raggles had assaulted and damaged a brother convalescent-a glowering transient whom a freight train collision had sent in to be patched up.
“What’s all this about?” inquired the head nurse.
“He was runnin’ down me town,” said Raggles.
“What town?” asked the nurse.
“Noo York,” said Raggles.