“KẺ CÓ TỘI”

Một gã đàn ông tóc đỏ, râu ria lởm chởm, dáng vẻ nhếch nhác ngồi trên chiếc ghế bập bênh bên cửa sổ. Gã vừa châm tẩu, phả ra những cụm khói xanh đầy vẻ mãn nguyện. Gã đã cởi giày, xỏ chân vào đôi dép lê dệt thảm xanh màu úa. Với cơn khát tin tức bệnh hoạn của một kẻ nghiện đọc báo hàng ngày, gã vụng về lật gấp tờ báo chiều, háo hức nuốt chửng những dòng tiêu đề đen xì, to tướng, rồi sau đó mới uống chêm những chi tiết nhẹ nhàng hơn ở những dòng chữ nhỏ.

Từ căn phòng bên cạnh, một người phụ nữ đang lụi cụi chuẩn bị bữa tối. Mùi thịt xông khói ngai ngái quyện cùng hương cà phê sùng sục sôi, như đang nghênh chiến với những luồng khói tẩu lờ đờ trong ráng chiều.

Bên ngoài là một con phố sầm uất bậc nhất khu Đông1, nơi mà mỗi khi hoàng hôn buông xuống, Satan lại mở văn phòng tuyển mộ của mình. Một bầy trẻ con đang nhảy múa, chạy nhảy và nô đùa loạn xạ dưới đường. Có đứa quần áo rách bươm, có đứa lại diện đồ trắng muốt thắt nơ tươm tất; có đứa hoang dã và chộn rộn như bầy diều hâu non, lại có đứa mang khuôn mặt hiền khô và nhút nhát. Vài đứa gào lên những từ ngữ thô tục, đầy tội lỗi, số khác sợ sệt lắng nghe, nhưng rồi sẽ sớm quen tai mà tiêm nhiễm theo-bọn trẻ đang đùa nghịch ngay trên dãy hành lang của Ngôi nhà Tội lỗi. Phía trên cái sân chơi ấy, luôn có một bóng chim khổng lồ lượn lờ không dứt. Kẻ hay đùa thường gọi đó là con cò2. Thế nhưng, người dân phố Chrystie lại là những nhà điểu học lão luyện hơn nhiều. Họ gọi nó là con kền kền3.

Một bé gái chừng mười hai tuổi rụt rè tiến đến bên người đàn ông đang ngả ngớn đọc báo bên cửa sổ, khẽ khàng cất tiếng:

"Ba ơi, ba chơi với con một ván cờ đam được không, nếu ba không quá mệt?"

Gã đàn ông tóc đỏ, râu ria lởm chởm, nhếch nhác ngồi chân trần bên cửa sổ cáu kỉnh nhíu mày đáp:

"Cờ đam á? Không, ba không chơi. Một người làm việc hùng hục cả ngày không được nghỉ ngơi lấy một chút khi về nhà hay sao? Sao mày không ra ngoài kia mà chơi với lũ trẻ trên vỉa hè ấy?"

Người phụ nữ đang nấu ăn bước ra trước cửa.

"John này," bà lên tiếng, "tôi không thích để Lizzie ra ngoài đường chơi đâu. Lũ trẻ học toàn những thứ hư hỏng ở đó thôi. Con bé đã quanh quẩn trong nhà cả ngày rồi. Thiết nghĩ ông cũng nên dành chút thời gian chơi với con cho nó vui khi ông về nhà chứ."

"Cứ để nó ra ngoài mà chơi bời như những đứa khác nếu nó muốn vui vẻ," gã đàn ông tóc đỏ, nhếch nhác nói, "và bà thì đừng có làm phiền tôi nữa."


“Chơi luôn,” Kid Mullaly tuyên bố. “Năm mươi đô ăn hăm lăm đô tao sẽ đưa con bé Annie đi khiêu vũ. Chồng tiền ra đây.”

Đôi mắt đen của Kid rực lên ngọn lửa ngang tàng của kẻ bị khích tướng. Hắn lôi "cuộn tiền" ra, quất bộp năm tờ mười đô xuống quầy bar. Ba bốn gã thanh niên quanh đó bị "bắt bài", đành chậm chạp móc hầu bao rút tiền cược. Gã pha chế, kiêm luôn chân giữ tiền cá độ, cầm lấy xấp giấy bạc, cẩn thận cuộn lại, hí hoáy ghi chép vụ cược bằng một mẩu bút chì cụt lủn chưa đầy đốt ngón tay, rồi nhét tất cả vào một góc của chiếc máy tính tiền.

“Và chà chà, những gì mày sắp nếm mùi chắc chắn sẽ ra trò đấy,” một gã tham gia cá cược lên tiếng, giọng điệu sặc mùi hả hê.

“Chuyện đó để tao lo,” Kid nghiêm mặt đáp trả. “Rót đầy ly cho anh em đi, anh Mike.”

Uống cạn chầu rượu, Burke - gã bám đuôi của Kid, kiêm chiến hữu xông pha, quân sư quạt mo và tể tướng tâm phúc - kéo tuột hắn ra góc đánh giày trong quán rượu. Nơi đây vốn dĩ là trụ sở giải quyết mọi vấn đề đại sự của Câu lạc bộ Xã hội Những Giờ Nhỏ4. Trong lúc cậu bé Tony miệt mài đánh bóng đôi giày màu nâu nhạt của vị Chủ tịch kiêm Thư ký câu lạc bộ tới lần thứ năm trong ngày, Burke bắt đầu rỉ tai những lời vàng ngọc cho vị thủ lĩnh của mình.

“Bỏ con bé tóc vàng đó đi, Kid ạ,” hắn khuyên can, “không thì rước họa vào thân đấy. Mày hất cẳng con bồ của mày để làm cái quái gì? Mày sẽ chẳng bao giờ đào đâu ra một đứa con gái nào bám mày như sam như con Liz đâu. Nó còn đáng giá hơn cả một hội trường nhung nhúc những đứa như con Annie cộng lại.”

“Tao cũng đâu có hâm mộ gì con Annie!” Kid nói, gảy tàn thuốc lá xuống mũi giày vừa được đánh bóng lộn, rồi chùi luôn vào vai cậu bé Tony. “Nhưng tao muốn dạy cho con Liz một bài học. Nó làm như tao là đồ tư hữu của nó không bằng. Nó cứ bô bô cái miệng khoe khoang rằng tao chả dám hé răng với bất kỳ con nào khác. Liz thì cũng được đấy - xét ở vài khía cạnh. Chỉ có điều dạo này nó nốc rượu hơi nhiều. Lại còn hay xài những từ ngữ mà một quý cô chẳng bao giờ nên thốt ra.”

“Thế tụi mày đính hôn rồi, đúng không?” Burke gặng hỏi.

“Chắc chắn rồi. Chắc là sang năm tụi tao sẽ cưới.”

“Tao nhớ chính mày là thằng ép nó uống ly bia đầu tiên,” Burke thở dài. “Đó là chuyện của hai năm về trước, cái thời nó hay để đầu trần lượn lờ xuống tận góc phố Chrystie đón mày sau bữa tối. Hồi đó nó vốn là một đứa ngoan ngoãn, hễ mở miệng nói một câu là mặt mũi lại đỏ lựng cả lên.”

“Bây giờ thì có lúc nó là một cô nàng nóng nảy,” Kid nói. “Tao chúa ghét cái thói ghen tuông. Đó là lý do tao sẽ đưa Annie đi khiêu vũ. Chuyện này sẽ dạy cho nó biết điều một chút.”

“Chà, mày tốt nhất là nên cẩn thận thì hơn,” Burke buông lời chốt hạ. “Nếu Liz mà là bạn gái tao, rồi tao lại lén lút đi khiêu vũ với một đứa ất ơ như con Annie, tao sẽ muốn tròng thêm một bộ áo giáp lưới bên dưới bộ cánh bảnh chọe của mình, chắc chắn là như thế.”

Xuyên qua vùng đất của loài chim cò lai kền kền, Liz cứ thế lang thang. Đôi mắt đen láy của cô đảo quanh, quét qua những đám đông lại qua bằng một ánh nhìn hung hăng mà đờ đẫn. Chốc chốc, cô lại ngâm nga vài giai điệu ngớ ngẩn nào đó. Đôi khi, cô nghiến chặt hai hàm răng trắng nhỏ xíu vào nhau, và thốt ra những lời đanh thép mà khu mạn Đông đã đóng góp vào ngôn ngữ.

Váy của Liz may bằng lụa xanh lục. Áo cánh của cô mang họa tiết sọc lớn với hai tông màu nâu và hồng, vừa vặn mà cũng chẳng kém phần đỏm dáng. Cô đeo trên tay một chiếc nhẫn chùm đính những viên hồng ngọc giả to tướng, trong khi trước ngực lủng lẳng một mặt dây chuyền bạc dài thậm thượt, đập cả vào đầu gối mỗi khi bước đi. Đôi giày gót nhọn hoắt của cô đã mòn vẹt, xi đánh giày dường như là thứ gì đó hoàn toàn xa lạ. Còn chiếc mũ trên đầu thì to cồng kềnh đến nỗi khó lòng mà nhét lọt qua miệng thùng bột mì.

Bước qua cánh cửa đề biển "Lối Vào Dành Cho Gia Đình5" của tiệm cà phê Blue Jay, Liz chọn một chiếc bàn, kéo ghế ngồi xuống và nhấn chuông gọi phục vụ với cái phong thái kiêu kỳ của một phu nhân thượng lưu đang sai người gọi xe ngựa. Gã bồi bàn tiến lại gần, cằm bạnh, giọng trầm ồm nhưng toát lên vẻ kính cẩn lẫn thân thuộc. Liz vuốt lại nếp váy lụa, uốn éo người với vẻ đầy mãn nguyện. Cô đang tận hưởng tối đa cái khoảnh khắc hiếm hoi này. Ở chốn đây, cô có quyền gọi món và được cung phụng. Khắp cả cái thế giới cằn cỗi này, đó là chút đặc quyền duy nhất của phái đẹp mà cô có thể với tới.

“Whisky nhé, anh Tommy,” cô lên giọng thỏ thẻ y hệt mấy phu nhân nhà giàu trên phố lớn thường hay thì thầm: “Sâm panh nhé, James.”

“Dạ có ngay, cô Lizzie. Cô muốn dùng kèm với nước gì không?”

“Nước seltzer. À này, anh Tommy, hôm nay Kid có tạt qua đây không?”

“Ồ, không đâu cô Lizzie, từ sáng giờ tôi chưa thấy cậu ấy.”

Tiếng "cô Lizzie" bật ra khỏi miệng gã bồi trơn tru lạ thường, bởi lẽ ai mà chẳng biết Kid khét tiếng là một tay giang hồ lúc nào cũng khư khư bảo vệ danh dự cho vị hôn thê của mình.

“Tôi đang đi tìm anh ấy đây,” Liz nói, chờ cho ly nước kèm theo sủi bọt ngay dưới mũi mình rồi tiếp lời. “Tôi nghe người ta đồn anh ấy tính đưa con ả Annie Karlson đi khiêu vũ. Cứ để anh ấy làm thế đi. Cái đồ chuột bạch mắt hồng đó! Tôi đang lùng anh ấy đây. Anh thừa hiểu tôi mà, anh Tommy. Tôi với Kid đã đính ước hai năm rồi. Nhìn chiếc nhẫn này xem. Năm trăm đô, anh ấy bảo giá nó chừng đó đấy. Cứ để anh ấy đưa con ả đó đi nhảy đi. Rồi anh xem tôi làm gì? Tôi sẽ moi tim anh ấy ra cho xem. Cho ly whisky nữa đi, anh Tommy.”

“Tôi thì chẳng thèm nghe mấy lời đồn vớ vẩn đó đâu, cô Lizzie,” gã bồi bàn trơn tru đáp lời, thốt ra từ đôi môi khép hờ phía trên cái cằm bạnh. “Cậu Kid Mullaly nào phải cái thứ tệ bạc để vứt bỏ một quý cô như cô đâu. Nước seltzer tôi để riêng qua một bên nhé?”

“Hai năm rồi đấy,” Liz lặp lại, chút men rượu chưng cất dường như đã làm sống dậy trong cô thứ tình cảm ủy mị. “Ngày trước, hễ cứ tối đến là tôi lại ra ngoài đường chơi, ở nhà có gì cho tôi làm đâu. Suốt một thời gian dài, tôi toàn ngồi trên bậc thềm, nhìn ngắm mấy ngọn đèn đường và dòng người qua lại. Rồi một buổi tối, Kid bước đến, mắt anh ấy dán chặt vào tôi, và thế là tôi phải lòng ngay tắp lự. Lần đầu tiên uống thứ rượu mà anh ấy ép, tôi đã về nhà khóc rấm rứt cả đêm, rồi còn bị ăn đòn một trận nhừ tử chỉ vì làm ồn. Vậy mà bây giờ-này, anh Tommy, anh đã giáp mặt con ả Annie Karlson đó bao giờ chưa? Phải chi không có mớ thuốc tẩy tóc peroxide6 đó, thì đống thuốc mê chloroform7 kia đã hạ đo ván cô ta từ đời thuở nào rồi. Ồ, tôi đang đi lùng anh ấy đây. Hễ Kid mà bước vào thì anh nhớ bảo anh ấy nhé. Còn tôi á? Tôi sẽ moi tim anh ấy ra. Cứ để đấy cho tôi. Cho một ly whisky nữa đi, anh Tommy.”

Hơi lảo đảo đôi chút nhưng đôi mắt vẫn ngời lên vẻ cảnh giác, Liz bước dọc theo đại lộ. Trên bậc thềm của một khu chung cư xây bằng gạch, có một bé gái tóc xoăn đang ngồi chễm chệ, mặt mày bí xị vì mớ bùng nhùng của một sợi dây đang rối tung rối mù. Liz thả phịch người ngồi xuống cạnh con bé. Một nụ cười gượng gạo lướt qua gương mặt đang đỏ bừng của cô, nhưng đôi mắt cô bỗng chốc lại ánh lên vẻ trong trẻo và ngây thơ đến lạ.

"Để chị chỉ cho em cách chơi dây nhé, nhóc," cô khẽ nói, vừa nói vừa túm gọn vạt váy lụa màu xanh lá giấu nhẹm dưới đôi giày đã sờn rỉ.

Và giữa lúc hai chị em ngồi đó, những ngọn đèn trong sảnh khiêu vũ của Câu lạc bộ Xã hội Những Giờ Nhỏ đã đồng loạt bừng sáng. Đó là một buổi dạ vũ hai tháng mới có một lần - một sự kiện chưng diện xúng xính mà các thành viên luôn lấy làm hãnh diện, ai nấy đều hăng hái chuẩn bị để tô điểm cho đêm tiệc thêm phần rôm rả.

Đúng chín giờ, ngài Chủ tịch Kid Mullaly sải những bước ngạo nghễ ra giữa sàn nhảy, tay trong tay với một bóng hồng. Mái tóc ả vàng óng chẳng kém gì nàng tiên cá Loreley8. Tiếng "yes" của ả được làm mềm đi thành âm "yah", thế nhưng cái sự ưng thuận trong chất giọng ấy thì lại mười mươi rõ ràng, ngay cả với đôi tai nhạy bén của người Ireland. Ả lỡ nhịp giẫm ngay lên vạt váy của chính mình, hai má ửng đỏ, và rồi-ả mỉm cười nhìn thẳng vào mắt Kid Mullaly.

Và rồi, ngay khoảnh khắc hai người họ đứng giữa mặt sàn láng bóng sáp, sự việc đó đã xảy ra - sự việc mà biết bao phòng nghiên cứu và thư viện tĩnh mịch đã phải chong đèn hằng đêm hòng tìm cách ngăn cản.

Từ vòng người bu quanh hội trường, Định mệnh trong chiếc váy lụa màu xanh lá bất ngờ lao ra dưới bí danh "Liz". Đôi mắt cô đanh lại, đen thẫm hơn cả than đá. Cô không hề la hét hay run rẩy. Trái ngược hoàn toàn với dáng vẻ nữ tính, cô gầm lên một tiếng chửi thề-câu chửi cửa miệng của Kid-bằng chính chất giọng trầm khàn của gã; và rồi, giữa lúc Câu lạc bộ Xã hội Những Giờ Nhỏ đang nháo nhào hoảng loạn, cô đã thực hiện đúng lời thề trước đó với gã bồi bàn Tommy-giáng một nhát đâm sâu hết mức mà chiều dài lưỡi dao và sức mạnh cánh tay cô có thể làm được.

Tiếp theo đó là gì? Là bản năng sinh tồn nguyên thủy-hay là bản năng tự hủy diệt, thứ bản năng mà xã hội đã ghép thêm vào bản chất tự nhiên?

Liz thoắt cái chạy ào ra ngoài và lao xuống phố, nhanh nhẹn và chuẩn xác như một con chim dẽ vút qua rặng cây non trong bóng hoàng hôn chạng vạng.

Và bám sát gót cô là nỗi nhục nhã lớn nhất của một đô thị phồn hoa, tàn dư thối rữa và cổ xưa nhất, là sự ô uế và đồi bại, vết nhơ và tội lỗi vĩnh viễn không thể gột rửa-được dung túng, bao che và o bế từ thời kỳ man rợ hèn hạ nhất: Cuộc Truy Hô9. Chẳng có nơi nào khác ngoài các thành phố lớn lại tồn tại thứ trò này, và ở đây lại càng rầm rộ nhất, nơi mà những kẻ tự vỗ ngực xưng tên về văn hóa, về quyền công dân và cái gọi là sự ưu việt cũng hùa nhau gào thét, hòa mình vào cuộc săn đuổi cuồng loạn.

Bọn họ rượt đuổi-một đám đông huyên náo gồm đủ mặt những ông bố, bà mẹ, những đôi tình nhân và cả các thiếu nữ-vừa chạy vừa la hét, kêu gào, huýt sáo, khát máu. Sói hoang giữa thành phố lớn có khi cũng đành chôn chân đứng nhìn. Trái tim của nó, dẫu có mềm yếu hơn chăng nữa, hẳn cũng phải chùn bước trước sự bủa vây này.

Thuộc nằm lòng từng ngõ ngách, và khao khát một sự kết thúc, cô cứ thế cắm đầu chạy thục mạng qua những con phố quen thuộc cho đến khi đôi chân chạm tới bề mặt xỉn màu rắn chắc của cầu tàu đang mục nát. Và rồi, chỉ còn vài nhịp thở hổn hển nữa thôi-người mẹ hiền Sông East10 đã dang tay ôm trọn lấy Liz vào lòng, xoa dịu cô bằng dòng nước đục ngầu chảy xiết. Chỉ trong vỏn vẹn năm phút, dòng sông ấy đã giải quyết trọn vẹn vấn đề nhức nhối từng khiến đèn điện ở hàng ngàn giáo đường và trường đại học phải thắp sáng thâu đêm để tranh luận.


Thật nực cười khi thỉnh thoảng người ta lại gặp phải những giấc mơ kỳ lạ. Các thi sĩ gọi đó là những khải tượng, nhưng khải tượng thực chất chỉ là một giấc mơ được viết bằng những vần thơ không vần. Tôi đã mơ thấy phần còn lại của câu chuyện này.

Tôi tưởng chừng như mình đang ở thế giới bên kia. Chẳng rõ làm thế nào mà tôi lại lạc đến đó; có lẽ tôi đã cưỡi trên chuyến tàu điện trên cao ở đại lộ Số Chín, uống nhầm thuốc đặc chế, dại dột đi chọc giận tay võ sĩ Jim Jeffries, hoặc làm một trò mạo hiểm ngớ ngẩn nào đó. Nhưng dù sao đi nữa, tôi đã có mặt ở đó, đứng cùng một đám đông bên ngoài căn phòng nơi các phán quyết đang diễn ra. Cứ chốc chốc, một vị thiên thần án sát xinh đẹp và bệ vệ lại bước ra ngoài cửa để gọi tên một vụ án mới.

Giữa lúc tôi đang tự kiểm điểm những tội lỗi trần tục của bản thân, đồng thời băn khoăn xem liệu có vớt vát được chút chứng cứ ngoại phạm nào nếu khăng khăng nhận mình sống ở New Jersey hay không, thì vị thiên thần quản lý bước ra cửa và xướng dõng dạc:

"Vụ án số 99.852.743."

Một gã đàn ông mặc thường phục bước lên-ở đây nhan nhản những kẻ như thế, ăn bận y hệt các nhà truyền giáo và huých đẩy đám linh hồn chúng tôi thô lỗ hệt như bọn cớm trên trần gian-và gã ta túm lấy cánh tay của... đoán xem là ai? Chà, chính là Liz!

Viên án sát đưa cô ấy vào trong và khép cửa lại. Tôi lân la bước tới chỗ ngài Cảnh Sát Chìm kia để dò hỏi về vụ án.

"Một vụ thật đáng buồn," ông ta nói, chắp những đầu ngón tay được cắt tỉa cầu kỳ vào nhau. "Một cô gái hết thuốc chữa. Tôi là Viên chức Địa cầu Đặc biệt, Mục sư Jones. Vụ án này do tôi phụ trách. Cô ả đã sát hại vị hôn phu rồi tự kết liễu đời mình. Không có gì để bào chữa cả. Báo cáo tôi nộp lên tòa án đã thuật lại tường tận các tình tiết, tất cả đều được làm chứng bởi những người đáng tin cậy. Tiền công của tội lỗi là cái chết11. Ngợi khen Chúa."

Viên án sát mở cửa và bước ra ngoài.

"Tội nghiệp cô gái," Viên chức Địa cầu Đặc biệt, Mục sư Jones chép miệng, với một giọt lệ vương trên khoé mắt. "Đó là một trong những vụ án bi thảm nhất mà tôi từng tiếp nhận. Dĩ nhiên là cô ta đã"-

"Được tuyên trắng án," viên án sát ngắt lời. "Lại đây, cậu Jonesy. Điều đầu tiên cậu cần biết là cậu sẽ bị tống sang đội hốt rác. Cậu có muốn gia nhập hội truyền giáo ở Quần đảo Nam Hải không hả? Bây giờ, cậu hãy dẹp ngay cái trò bắt giữ bậy bạ này đi, nếu không cậu sẽ bị thuyên chuyển ngay lập tức, hiểu chưa? Kẻ mang tội thực sự mà cậu phải tìm kiếm trong vụ này là một gã đàn ông tóc đỏ hoe, râu ria lởm chởm, lếch thếch ngồi bên cửa sổ đọc báo với đôi chân chỉ xỏ mỗi tất, trong khi đám con cái đang chơi ngoài đường. Nhanh cái chân lên!"

Thấy chưa, đó chẳng phải là một giấc mơ hết sức ngớ ngẩn sao?



  1. Chỉ vùng East Side (khu phía Đông) của quận Manhattan, thành phố New York. Vào đầu thế kỷ 20, đây là nơi tập trung đông đảo người nhập cư nghèo và tầng lớp lao động, nổi tiếng với điều kiện sống chật chội và nhiều tệ nạn xã hội. ↩

  2. Trong văn hóa dân gian phương Tây, loài cò (stork) thường xuất hiện trong truyền thuyết mang những đứa trẻ sơ sinh đến cho các gia đình, là biểu tượng của sự sống và sự sinh sôi. ↩

  3. Loài chim chuyên ăn xác thối, thường được dùng làm biểu tượng văn hóa đại diện cho cái chết, sự mục nát, hoặc những kẻ tàn nhẫn chực chờ trục lợi từ sự khốn cùng của người khác. ↩

  4. Dịch từ "The Small Hours Social Club". Trong tiếng Anh, "những giờ nhỏ" (the small hours) là thành ngữ chỉ khoảng thời gian rạng sáng (1-3 giờ sáng). ↩

  5. Dịch từ "Family Entrance". Vào thời kỳ này ở Mỹ, các quán rượu thường có khu vực hoặc lối vào riêng biệt dành cho phụ nữ và các gia đình, vì khu vực quầy bar chính thường chỉ dành cho đàn ông và có môi trường khá phức tạp. ↩

  6. Peroxide (nước oxy già) là hóa chất được phụ nữ đầu thế kỷ 20 sử dụng phổ biến để tẩy tóc thành màu vàng óng. Từ này thường mang hàm ý mỉa mai, chỉ vẻ đẹp nhân tạo hoặc người phụ nữ ăn chơi đua đòi. ↩

  7. Chloroform là một loại hợp chất hóa học từng được dùng làm thuốc gây mê. Trong văn hóa đại chúng, nó thường gắn với hình ảnh kẻ gian tẩm thuốc vào khăn để bịt mũi, làm nạn nhân bất tỉnh. ↩

  8. Loreley (hay Lorelei) là một nhân vật trong truyền thuyết dân gian Đức, thường được miêu tả là một mỹ nhân ngư hoặc tinh linh nước ngồi trên tảng đá bên sông Rhine, dùng tiếng hát và nhan sắc để dụ dỗ các thủy thủ đắm tàu. ↩

  9. Dịch từ thuật ngữ "Hue and cry", một tập tục cổ xưa ở Anh và Mỹ, trong đó nạn nhân hoặc người chứng kiến sẽ hô hoán lớn để kêu gọi mọi người xung quanh cùng nhau đuổi bắt thủ phạm. Đám đông cuồng nộ tham gia rượt đuổi đó cũng được gọi chung là "Cuộc Truy Hô". ↩

  10. Sông Đông (East River), thực chất là một eo biển thủy triều ở thành phố New York, ngăn cách đảo Manhattan với khu Brooklyn và Queens. ↩

  11. Một câu nói kinh điển trích từ Kinh Thánh (Thư gửi tín hữu Rô-ma 6:23), mang ý nghĩa rằng hậu quả tất yếu của việc phạm tội là sự hủy diệt hoặc cái chết. ↩