Trong lịch sử thời trang, lông chồn Zibelin xứ Siberia luôn được xem là xa xỉ phẩm tối thượng.

SỰ KIÊU HÃNH VÀ VÀI BỘ LÔNG CHỒN

Khi "Kid" Brady gục ngã trước đôi mắt xanh thẳm ánh đen của Molly McKeever, anh đã rút lui khỏi băng Stovepipe. Đó chính là uy lực từ những lời đường mật cùng một trái tim chân thành, kiên định của một cô gái. Nếu bạn là độc giả nam đang lướt qua những dòng này, nguyện cho một sức mạnh diệu kỳ như thế sẽ tìm đến bạn trước hai giờ chiều mai; còn nếu bạn là nữ, mong sao sáng nay chú chó Pomeranian nhà bạn sẽ dụi cái mũi ướt lạnh vào người - dấu hiệu rành rành cho thấy cún cưng vẫn đang khỏe mạnh và mang lại niềm vui cho bạn.

Băng Stovepipe - hay còn gọi là băng Ống Khói - mượn danh xưng từ một rẻo đất nhỏ bé của thành phố, vốn là phần nới rộng eo hẹp vươn ra từ khu phố khét tiếng mang tên "Hell's Kitchen"1 (Nhà Bếp Địa Ngục). Dải phố "Stovepipe" chạy dọc theo Đại lộ Mười một và Mười hai bên bờ sông, rồi uốn cong như một khuỷu tay bám đầy muội than ôm lấy công viên DeWitt Clinton cọc cằn, trơ trọi. Cứ ngẫm mà xem, ống khói là bộ phận cốt yếu trong mọi nhà bếp, thế là đủ hiểu sự tình rồi đấy. Các đầu bếp trong "Hell's Kitchen" thì hằng hà sa số, nhưng băng "Stovepipe" lại luôn ẵm trọn ruy băng xanh dành cho những tay nghề cừ khôi nhất.

Những thành viên của cái hội anh em giang hồ không chính thức nhưng lại nổi đình nổi đám khắp chốn này dường như đốt sạch thời gian rảnh rỗi ở các góc phố. Họ ăn diện bảnh tỏn như những đóa huệ trong lồng kính, lúc nào cũng bận bịu giũa móng tay và vờn nghịch dao găm nhỏ. Với lớp vỏ bọc lương thiện được phô ra đó, họ buôn chuyện phiếm chỉ với chừng hai trăm từ vựng lận lưng. Trong mắt khách bộ hành, những mẩu chuyện ấy nghe qua thật ngây ngô và vô thưởng vô phạt, chẳng khác gì những cuộc tán gẫu tại các câu lạc bộ sừng sỏ cách đó bảy dãy nhà về hướng đông.

Nhưng hễ rời khỏi sân khấu góc phố, bọn "Stovepipe" đâu chỉ là mấy gã bù nhìn diện bảnh chỉ biết uốn éo và giũa móng tay. Chuyên môn thực thụ của chúng là nghệ thuật tước đoạt tiền bạc và tư trang của những công dân lương thiện. Thường thì phi vụ được tiến hành bằng những ngón nghề độc lạ mà êm ru, chẳng gây ra tiếng ồn hay cảnh máu me. Nhưng nếu vị công dân nào lỡ được chúng "chăm sóc" mà lại ngoan cố không chịu dốc cạn hầu bao, thì rốt cuộc, những lời oán thán của vị đó cũng sẽ yên vị trên sổ trực của đồn cảnh sát hay bệnh án của một nhà thương nào đó.

Cảnh sát lúc nào cũng giữ thái độ dè dặt, nửa ngờ nửa nể với băng "Stovepipe". Cũng giống như tiếng hót lảnh lót của họa mi cất lên từ những tán cây rậm rạp nhất, dọc theo đường ranh giới tối tăm và chật chội của khu "Stovepipe", tiếng còi gọi tiếp viện thi thoảng lại rót vào đôi tai nghễnh ngãng của màn đêm. Hễ thấy khói bốc lên từ "stovepipe" (ống khói), mấy anh lính áo xanh biết ngay tắp lự là "Hell's Kitchen" đang có lửa.

"Kid" Brady đã hứa với Molly rằng anh sẽ sống tử tế. "Kid" vốn là gã kiêu ngạo nhất, lỳ lợm nhất, cáo già nhất và cũng là kẻ vạch kế hoạch bách phát bách trúng nhất của băng đảng. Thế nên, đám chiến hữu đều tiếc hùi hụi khi phải để anh ra đi.

Dù vậy, họ vẫn đứng nhìn anh "sa ngã" vào nẻo đường lương thiện mà chẳng hề ca thán nửa lời. Bởi lẽ, ở chốn Kitchen này, việc một gã đàn ông chịu nghe lời khuyên của bạn gái chưa bao giờ bị xem là ẻo lả hay hèn nhát.

Người ta có thể vì tình yêu mà thụi cô bạn gái bầm cả mắt cũng được; nhưng chuyện ngoan ngoãn làm theo ý nàng lại là một nước đi có lợi.

"Khóa vòi nước lại đi em," Kid lên tiếng vào một đêm nọ khi Molly đầm đìa nước mắt, khẩn khoản xin anh thay đổi tâm tính. "Anh sẽ rời băng đảng. Anh chọn em, và một cuộc đời bình dị bên em. Nghe anh nói này, Moll-anh sẽ đi tìm việc làm; rồi một năm nữa đôi mình sẽ cưới nhau. Anh sẽ làm điều đó vì em. Chúng ta sẽ mướn một căn hộ nhỏ, sắm một cây sáo, một chiếc máy khâu cùng một chậu cây cao su, và rồi mình sẽ sống thật lương thiện, trong sạch nhất có thể."

"Ôi, Kid," Molly khẽ thở dài, dùng chiếc khăn tay cẩn thận lau đi vệt phấn vương trên vai anh, "Em thà được nghe anh nói câu đó còn hơn là có trong tay cả cái New York này. Chỉ cần có nhau, dẫu túng thiếu một chút thì chúng mình vẫn sẽ hạnh phúc!"

Kid cúi xuống, đưa mắt ngắm nghía những nếp gấp gấu quần sạch bong không một hạt bụi và đôi giày da bóng lộn của mình với một vẻ thoáng buồn.

"Gay go nhất chắc là chuyện ăn mặc," anh buột miệng. "Anh lúc nào cũng khoái chưng diện cho bảnh bao nhất có thể. Em lạ gì tính anh, chúa ghét ba cái đồ rẻ tiền mà, Moll. Nguyên bộ vest này đã ngốn đứt của anh sáu mươi lăm đô la rồi đấy. Quần áo mặc lên người là phải chuẩn chỉnh từ đầu đến chân, bằng không thì thà chui tọt vào mấy cửa tiệm đồ cũ cho xong. Một khi đã đi làm công, anh sẽ chẳng còn rủng rỉnh tiền bạc để ném cho tay thợ may nhỏ thó với cây kéo to tướng kia nữa."

"Đừng bận tâm chuyện đó, Kid. Dẫu anh có khoác lên người bộ đồ bảo hộ màu xanh dương thì em vẫn quý anh chẳng kém gì lúc anh chễm chệ trên chiếc ô tô màu đỏ rực đâu."

Hồi trước, khi còn chưa đủ lớn để quật ngã được cả ông bô nhà mình, Kid đã từng bị ép đi học nghề thợ sửa ống nước. Thế nên, giờ đây anh quyết định quay lại với cái nghề đáng kính và hữu ích này. Ngặt nỗi, anh chỉ xin được một chân thợ phụ; mà ở đời, thường thì chỉ có cánh thợ chính, chứ đâu phải thợ phụ, mới được đeo những viên kim cương to tổ chảng như hạt mưa đá và có quyền nhìn với vẻ coi khinh vào những hàng cột cẩm thạch tráng lệ trước dinh thự của ngài Thượng nghị sĩ Clark.

Tám tháng bình lặng trôi qua, đều đặn và chuẩn xác y như những tấm bảng chuyển cảnh trên sân khấu kịch. Kid miệt mài làm bạn cùng mỏ hàn và những đoạn ống nước, tuyệt nhiên chẳng để lộ dấu hiệu nào của thói "ngựa quen đường cũ". Trong khi đó, băng đảng Stovepipe vẫn mặc sức tung hoành dọc các đại lộ lớn, sẵn sàng nện vỡ đầu mấy tay cớm, lột sạch sành sanh túi tiền của những du khách về khuya, liên tục sáng chế ra đủ ngón nghề cướp giật không để lại dấu vết, bắt chước mấy gã công tử Đại lộ Số Năm2 từ kiểu cắt cúp quần áo cho đến cách thắt khăn choàng, và ngang nhiên lộng hành theo luật rừng của riêng chúng. Thế nhưng, Kid vẫn một lòng sắt son với Molly của anh, dẫu cho bộ móng tay giờ đây chẳng còn độ bóng bẩy như xưa, và anh thường phải mất đến mười lăm phút đồng hồ chỉ để chỉnh lại chiếc khăn lụa tím sao cho khéo léo che đi những nếp sờn rách.

Vào một buổi tối nọ, anh ôm theo một bọc đồ bí ẩn đến gõ cửa nhà Molly.

"Mở ra xem nào, Moll!" anh lên tiếng, giọng nói toát lên vẻ khoan thai và đầy hào phóng. "Của em đấy."

Đôi bàn tay háo hức của Molly xé đi lớp giấy gói. Cô nàng ré lên, và ngay tắp lự, cả một tiểu đội nhóc tì nhà McKeever ùa ào vào phòng, theo sát gót là bà McKeever với mùi nước rửa chén ám đầy trên váy áo, song rõ ràng vẫn là một hậu duệ không thể chối cãi của cụ bà Eve quá cố.

Molly lại ré lên thêm một chập nữa, và đột nhiên, một món đồ sẫm màu, dài thượt, uốn lượn hệt như con trăn khổng lồ anaconda bay vụt lên rồi quấn quanh cổ cô.

"Lông chồn Zibelin xịn của Nga đấy," Kid tự hào nói, thích thú ngắm nhìn đôi gò má tròn trịa của Molly đang áp vào lớp lông mềm mượt. "Hàng thật trăm phần trăm. Ở xứ Nga đó làm gì có món nào là quá xa xỉ so với em cơ chứ, Moll."

Molly hối hả thọc tay vào ống ủ ấm, mặc kệ việc hất văng mấy đứa nhóc qua một bên để lao thẳng đến trước gương. Đây có lẽ là một mẹo nhỏ dắt túi cho chuyên mục làm đẹp: Muốn sở hữu đôi mắt sáng long lanh, đôi má ửng hồng e ấp cùng nụ cười duyên dáng đánh gục mọi ánh nhìn, công thức vô cùng đơn giản - hãy khoác lên người một bộ lông chồn Zibelin3 nước Nga. Cứ thử mà xem!

Khi căn phòng rốt cuộc chỉ còn lại hai người, Molly bỗng cảm thấy một chút tỉnh táo lạnh lùng nhen nhóm giữa dòng thác hạnh phúc trào dâng.

"Tuyệt lắm, Kid à," cô đáp lời đầy biết ơn. "Cả đời này em chưa từng mặc áo lông thú bao giờ. Nhưng mà... lông chồn Nga không phải là đắt đỏ đến mức kinh khủng sao? Hình như em từng nghe người ta đồn thổi như vậy."

"Thế anh đã bao giờ quẳng cho em mấy món đồ đại hạ giá chưa hả Moll?" Kid nghiêm giọng, điềm nhiên vặn lại. "Em đã bao giờ thấy anh vạ vật bên quầy hàng thanh lý hay thò mặt dòm ngó mấy cửa hàng đồng giá chưa? Em cứ nhẩm tính chiếc khăn choàng đó tầm hai trăm rưỡi đô, cộng thêm cái ống ủ ấm tay một trăm bảy lăm đô nữa là nắm được giá trị thật của đám lông chồn Zibelin Nga này thôi. Với anh thì cứ phải là hàng xịn. Nhưng công nhận, em diện lên người trông bảnh lắm, Moll ạ."

Molly siết chặt bộ lông chồn vào ngực trong niềm hân hoan. Nhưng rồi, nụ cười trên môi cô từ từ biến mất, và cô nhìn thẳng vào đôi mắt của Kid một cách buồn bã và kiên định.

Anh hiểu thấu từng tia nhìn của cô muốn nói điều gì; anh chỉ biết cười trừ, gương mặt bất giác đỏ bừng lên.

"Thôi đi nào," anh càu nhàu, giọng điệu có vẻ cộc cằn nhưng lại chứa chan yêu thương. "Anh đã bảo là anh rửa tay gác kiếm rồi mà lị. Mấy món này là anh tự bỏ tiền túi ra mua đàng hoàng đấy."

"Bằng mồ hôi nước mắt anh đi làm thật á, Kid? Với cái mức lương vỏn vẹn bảy mươi lăm đô một tháng sao?"

"Chắc chắn rồi. Anh đã thắt lưng buộc bụng để dành dụm mà."

"Để xem nào-anh dành dụm được tận bốn trăm hai mươi lăm đô chỉ trong vỏn vẹn tám tháng sao, Kid?"

"Ái chà, thôi ngay đi nhé," Kid làu bàu, tỏ vẻ hơi cáu kỉnh. "Hồi mới đi làm anh cũng giắt túi được một ít tiền vốn cơ mà. Em lại nghĩ anh quay về cái thói trấn lột người ta chắc? Anh đã thề là anh bỏ hẳn rồi mà. Mấy món này là đồ mua đứt bán đoạn đàng hoàng. Nào, mặc vào đi rồi chúng mình cùng ra ngoài dạo phố."

Molly gạt phăng mọi sự hoài nghi. Những bộ lông chồn quả là có phép mầu xoa dịu tuyệt diệu. Kiêu hãnh như một bà hoàng, cô rảo bước cùng Kid xuống phố. Khắp cả cái khu phố thấp lè tè, chật chội này, người ta chưa từng một lần được tận mắt chiêm ngưỡng loại lông chồn Zibelin của Nga. Lời đồn đãi lan nhanh, và từ khắp các ô cửa sổ, khung cửa ra vào lố nhố những cái đầu háo hức muốn ngắm nhìn bộ lông thú xịn mà Kid Brady đã tậu cho cô bạn gái. Dọc theo con đường, cơ man là những tiếng xuýt xoa, ồ à; rồi cái con số khổng lồ được đồn thổi là giá tiền của bộ da thú cứ thế truyền từ miệng người này sang tai kẻ khác, mỗi lần kể lại được thổi phồng lên thêm vài nấc. Lững thững sóng bước bên tay phải của cô là Kid, mang dáng điệu tự đắc của một tay hoàng tử. Cuộc sống làm lụng vất vả chẳng hề bào mòn đi tình yêu của anh dành cho sự hào nhoáng, thói phô trương hay niềm đam mê cuồng nhiệt với mấy món đồ chính hiệu đắt tiền. Ở một góc phố, họ lướt qua một nhóm người của băng Stovepipe đang lảng vảng, ăn vận bảnh chọe, phẳng phiu không một tì vết. Bọn chúng ngả mũ chào cô bạn gái của Kid, rồi lại đủng đỉnh quay về với mấy câu chuyện phiếm nhạt nhẽo vô vị.

Cách cặp đôi đang làm tâm điểm chú ý ấy chừng ba dãy nhà, Thám tử Ransom từ Cục Trung tâm4 đang rảo bước. Ransom là tay cớm duy nhất trong toàn lực lượng dám lững thững đi lại an toàn khắp cái địa bàn Stovepipe. Ông làm việc sòng phẳng, chẳng biết e dè là gì, và bước đến đây với cái tâm niệm rằng lũ dân cư chốn này rốt cuộc cũng là con người. Khá nhiều kẻ mến mộ ông, và thi thoảng lại có một gã nào đó tuồn cho ông vài tin tức mà ông đang cất công tìm kiếm.

"Cuối phố có chuyện quái gì mà ồn ào thế?" Ransom cất giọng hỏi một gã thanh niên mặt mày xanh bủng, khoác chiếc áo len đỏ.

"Người ta đang chĩa mũi vào ngắm nghía cái áo choàng lông thú mà Kid Brady vừa sắm cho bạn gái cậu ta," gã thanh niên đáp lời. "Có kẻ còn đồn thổi cậu ta đã vung tới 900 đô cho bộ da đó đấy. Trông bảnh gắt thật."

"Tôi nghe nói Brady đã quay lại làm nghề cũ ngót nghét cả năm nay rồi cơ mà," viên thám tử lên tiếng. "Cậu ta không còn dan díu gì với đám băng đảng nữa, đúng không?"

"Cậu ta đang làm công ăn lương, đúng vậy," gã áo len đỏ hất hàm, "nhưng-này ông bạn, ông đang đánh hơi phi vụ nào dính dáng tới đồ lông thú đấy à? Cái công việc ở cửa hàng sửa ống nước quèn thì chả làm sao mà đắp nổi mấy bộ da mà con bồ Kid đang diện trên người đâu."

Ransom đuổi kịp cặp tình nhân đang rảo bước trên một con phố vắng vẻ ven bờ sông. Ông khẽ vỗ vai Kid từ phía sau.

"Ra đây nói chuyện một lát, Brady," ông hạ giọng. Ánh mắt viên thám tử dừng lại một giây nơi dải lông thú dài quàng điệu đà vắt chéo qua vai trái của Molly. Kid, với vẻ mặt nhăn nhó, hằn học với cảnh sát y như thời băng đảng, lùi sang một bên, cách viên thám tử độ dăm ba bước.

"Hôm qua cậu có đến nhà bà Hethcote trên đường 7 Tây để sửa ống nước rỉ không?" Ransom hỏi.

"Có," Kid đáp gọn. "Thì sao nào?"

"Bộ lông chồn Zibelin Nga trị giá cả ngàn đô la của quý bà đó đã không cánh mà bay đúng vào khoảng thời gian cậu rời đi. Đặc điểm nhận dạng lại trùng khớp y chang món đồ cô gái này đang khoác trên người."

"Xuống h-Harlem với ông luôn đi," Kid gắt lên đầy phẫn nộ. "Ông thừa biết tôi đã rửa tay gác kiếm rồi cơ mà, Ransom. Tôi mua mớ lông chồn đó vào ngày hôm qua tại-"

Kid đột ngột nín bặt.

"Tôi biết dạo này cậu đang làm ăn lương thiện," Ransom nói. "Tôi sẽ tạo điều kiện hết mức cho cậu. Tôi sẽ đi cùng cậu tới cái chỗ cậu bảo đã mua bộ lông thú đó để điều tra. Cô gái cứ việc khoác nó đi cùng chúng ta và sẽ chẳng ai để ý đâu. Thế là sòng phẳng nhé, Brady."

"Đi thì đi," Kid cáu kỉnh gật đầu. Và rồi anh bỗng dừng bước, nở một nụ cười kỳ lạ nhìn khuôn mặt rối bời và âu lo của Molly.

"Vô ích thôi," anh cất giọng lạnh tanh. "Đó đích thị là bộ lông chồn của nhà Hethcote. Em phải giao chúng ra thôi, Moll à, nhưng dù nó có giá cả triệu đô thì cũng chẳng bõ bèn gì so với em đâu."

Molly, với gương mặt tràn trề tuyệt vọng, níu chặt lấy cánh tay Kid.

"Ôi, Kiddy, anh làm tim em nát tan mất," cô nghẹn ngào. "Em đã tự hào về anh biết bao-vậy mà bây giờ người ta lại bắt anh đi-rồi hạnh phúc của đôi mình sẽ trôi về đâu?"

"Về nhà đi em," Kid hoang dại nói. "Đi thôi, Ransom-lấy bộ lông thú đi. Mau rời khỏi đây thôi. Khoan đã-tôi đang tính-không, tôi đúng là thứ khốn nạn nếu làm cái trò đó-chạy đi, Moll-Tôi sẵn sàng rồi đây, Ransom."

Quanh góc bãi gỗ, Cảnh sát Kohen lững thững bước ra trong phiên đi tuần dọc bờ sông. Viên thám tử vội ra hiệu nhờ hỗ trợ. Kohen tiến lại gần nhập hội, và Ransom nhanh chóng giải thích sự tình.

"Chắc chắn dồi," Kohen gật gù nói. "Tôi có nghe dề mấy pộ lông chồn pị mất cắp đó. Anh lói nà có chúng ở đây xao?"

Cảnh sát Kohen nhón lấy phần đuôi chiếc khăn quàng mới của Molly lên và săm soi kỹ lưỡng.

"Ngày trước," ông thủng thẳng nói, "tôi từng buôn đồ lông thú trên Đại lộ Số Sáu. Đúng, đây nà lông chồn. Hàng xuất xứ từ Alaska. Chiếc khăn quàng này giá mười hai đô la và cái ống giữ ấm này-"

"Bốp!" Lòng bàn tay nặng trịch của Kid tung thẳng một cú trời giáng vào miệng viên cảnh sát. Kohen lảo đảo chực ngã nhưng kịp lấy lại thăng bằng. Molly thất thanh thét lên. Viên thám tử lập tức lao vào khống chế Brady, và với sự trợ giúp của Kohen, ông đã còng ngoặt hai tay cậu thanh niên lại.

"Chiếc khăn quàng giá mười hai đô la và ống giữ ấm giá chín đô la," viên cảnh sát vẫn khăng khăng nói cho trọn câu. "Lấy đâu ga pộ lông chồn một ngàn đô la chớ?"

Kid ấm ức ngồi phịch xuống một đống gỗ, mặt mũi đỏ lựng.

"Phải đấy, lão Solomonski!" anh dữ tợn tuyên bố. "Tôi đã trả hai mươi mốt rưỡi đô cho cả bộ. Tôi thà ngồi tù sáu tháng còn hơn phải xì cái chuyện này ra. Tôi, một tay sành điệu chưa từng thèm ngó ngàng tới mớ đồ rẻ tiền! Tôi đúng là một thằng bịp bợm. Moll à-tiền lương của anh dồn lại cũng chẳng đủ mua một cái áo lông chồn của Nga đâu."

Molly xót xa lao tới, vòng tay ôm chầm lấy cổ anh.

"Em thèm quan tâm gì tới dăm ba cái lông chồn với mớ tiền bạc trên thế giới này chứ," cô khóc. "Kiddy của em mới là tất cả những gì em muốn. Ôi, anh yêu, cái gã ngốc kiêu ngạo, điên rồ của em!"

"Anh tháo còng tay cho cậu ta được dồi đấy," Kohen quay sang nói với viên thám tử. "Trước khi tôi dời khỏi đồn, có báo cáo gửi tới dằng vị phu nhân đó đã tìm thấy pộ lông chồn của bà ấy-treo ngay trong tủ quần áo. Chàng chai chẻ, tôi tha cho cậu cú đấm vào mặt tôi-chỉ nần này thui nhé."

Ransom từ tốn trao lại bộ lông thú cho Molly. Đôi mắt cô ánh lên nụ cười trìu mến nhìn Kid. Cô choàng chiếc khăn lên cổ, kiêu hãnh hất vạt đuôi qua vai trái với vẻ duyên dáng của một nữ công tước.

"Một cắp thanh niên ngốc nghếch," Cảnh sát Kohen lẩm bẩm với Ransom; "chúng ta đi thui."



  1. Một khu phố ở Manhattan, New York, từng khét tiếng vào đầu thế kỷ 20 vì là nơi tập trung tầng lớp lao động nghèo và các băng đảng đường phố phức tạp. ↩

  2. Fifth Avenue, một đại lộ nổi tiếng ở New York, từ lâu đã là biểu tượng của sự giàu có, các cửa hàng xa xỉ và phong cách thời trang thời thượng của giới thượng lưu Mỹ. ↩

  3. Zibelin (hay Sable) là một loài chồn ở khu vực Siberia (Nga), có bộ lông cực kỳ mềm mại. Lông chồn Zibelin rất quý hiếm và đắt đỏ, được coi là biểu tượng của sự xa xỉ bậc nhất trong giới thượng lưu. ↩

  4. Central Office, ám chỉ tổng hành dinh của Sở Cảnh sát Thành phố New York (NYPD), nơi chỉ đạo các hoạt động điều tra và là cơ quan của các thám tử cao cấp. ↩