CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐỘI 99
John Byrnes, tay lái xe bồn chở ống nước của Đội Cứu hỏa số 99, mắc phải một chứng bệnh mà anh em trong đội gọi đùa là hội chứng cuồng Nhật.
Byrnes lúc nào cũng trải sẵn một tấm bản đồ chiến sự trên chiếc bàn trên lầu hai của trạm. Bất kể ngày hay đêm, anh chàng có thể thao thao bất tuyệt cho bạn nghe rành rọt về vị trí, tình hình và mưu đồ tác chiến của cả hai đạo quân Nga và Nhật. Anh dùng những chùm ghim nhỏ cắm chi chít trên bản đồ để tượng trưng cho hai phe đối lập, và đều đặn mỗi ngày lại xê dịch chúng cho khớp với tin tức chiến trận đăng trên mặt báo.
Mỗi bận quân Nhật thắng trận, John Byrnes lại đắc ý dời mấy cái ghim, rồi nhảy cẫng lên ăn mừng đầy khoái trá. Khi ấy, đám lính cứu hỏa trong trạm lại nghe anh gào toáng lên: "Tiến lên, hỡi mấy gã lùn tịt, mắt híp tịt, mặt khỉ chết tiệt! Nuốt chửng chúng đi, hỡi bầy chó sục chân vòng kiềng, nhanh như chớp-giáng thêm một đòn trời giáng nữa đi, rồi các người sẽ được ăn cơm ở tận St. Petersburg. Còn bàn về cái đám người Nga kia á-chà, chẳng phải chúng sẽ khiến các người đớn đau-sky1 khi bước vào một trận chiến-vitch hay sao?"
Khéo đến ngay trên hòn đảo Nippon xinh đẹp cũng chẳng tìm đâu ra người nào ủng hộ lính tráng của Nhật Hoàng cuồng nhiệt đến độ ấy. Tốt nhất là những kẻ nghiêng về phe Nga nên liệu hồn mà tránh xa Trạm Cứu hỏa số 99 ra.
Chỉ đôi khi, mọi tâm trí về quân Nhật mới tạm bay biến khỏi đầu John Byrnes. Đó là lúc tiếng chuông báo cháy reo vang, anh bị cột chặt vào chiếc ghế trên đầu chiếc xe bồn đang rung bần bật, tay ghì cương điều khiển Erebus và Joe-cặp ngựa kéo cừ khôi nhất của toàn bộ sở cứu hỏa, ít nhất là theo lời tán tụng của Đội 99.
Giữa muôn vàn lề thói mà con người ta áp dụng để đối đãi với đồng loại, có ba bộ quy tắc được coi là vĩ đại nhất: bộ luật của các Hiệp sĩ Bàn tròn thời Vua Arthur2, Hiến pháp Hoa Kỳ, và những bộ luật bất thành văn của Sở Cứu hỏa New York. Kể từ dạo xe điện ra đời cùng những vụ kiện tụng hủy hôn, những cung cách hào hiệp thời Bàn tròn đã chẳng còn thực tế nữa; còn Hiến pháp của chúng ta thì ngày càng hay bị đem ra mổ xẻ là vi hiến. Vậy nên, luật lệ của đám lính cứu hỏa phe ta hiển nhiên phải được tôn lên vị trí dẫn đầu, còn Nguyên tắc Vàng3 và cú đấm trứ danh mới tậu của võ sĩ Jeffries thì đang nỗ lực tranh nhau vị trí thứ hai và thứ ba4.
Hiến pháp phán rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng; nhưng Sở Cứu hỏa lại khẳng định con người còn cao cả hơn thế. Quả là một lý thuyết quá đỗi hào phóng, ngặt nỗi luật pháp lại chẳng đời nào chịu để bản thân bị diễn giải theo một cách khác. Tất thảy những điều ấy gần như gộp lại thành một nghịch lý nguy hiểm, và còn chực chờ thu hút sự dòm ngó của Hội bảo vệ động vật S. P. C. A.5
Một trong những chuyến tàu thủy viễn dương vừa trút xuống Đảo Ellis6 một khối sinh vật nguyên sinh, mang theo kỳ vọng nay mai sẽ tiến hóa thành một công dân Mỹ đúng nghĩa. Một gã phục vụ tung cú đá đuổi hắn xuống đường dẫn; một vị bác sĩ thì vồ lấy đôi mắt hắn hệt như quạ vồ mồi, lùng sục dấu vết bệnh mắt hột hay đau mắt đỏ. Thế rồi, người ta hối thúc hắn lên bờ, ném thẳng hắn vào lòng thành phố nhân danh Nữ thần Tự do. Về mặt lý thuyết, chuyện này có lẽ cũng tựa như việc tiêm chủng ngừa chế độ quân chủ bằng chính một giọt virus của nó vậy. Thế là cái "mũi tiêm" mang rặt mầm mống Châu Âu ấy cứ vui vẻ len lỏi lang thang vào các huyết mạch của thành phố, môi nở nụ cười tươi rói của một đứa trẻ đang mãn nguyện. Hắn chẳng hề bị đè nặng bởi hành lý, lo toan hay tham vọng. Thân hình hắn dẻo dai, khoác trên người bộ nhung nỉ may kiểu ngoại quốc. Gương mặt hắn toát lên vẻ ngây ngô sáng sủa, với chiếc mũi bé xíu, tẹt dí, và gần như bị che lấp bởi một bộ râu rậm rạp, bờm xờm, xoăn tít hệt như bộ lông của một chú chó sư tử. Trong túi của cái "Sinh vật nhập khẩu" này chỉ lèo tèo vài đồng xu lẻ-denarii, scudi, kopeck, pfennig hay pilaster7-mặc xác hệ thống tiền tệ nơi đất nước vô danh của hắn gọi chúng là gì đi nữa.
Cứ thế, gã ngoại quốc vừa lẩm bẩm một mình vừa toét miệng cười rạng rỡ. Hắn khoái chí trước những tiếng gầm gừ và nhịp điệu chuyển động của khu đô thị náo nhiệt, nơi chuyến tàu hơi nước giá bèo vừa ném hắn vào. Hắn đi lang thang, bỏ lại tít tắp đằng sau cái vùng biển khơi mà hắn hằng căm ghét, cho đến khi bước hẳn vào địa bàn do Đội Cứu hỏa số 99 phụ trách. Nhẹ bẫng như một chiếc phao bần, hắn bị dòng người xô đẩy trôi dập dềnh, hệt như một nguyên tử thô sơ nhất trong toàn bộ lớp phù sa của dòng suối đang cuồn cuộn đổ vào hồ chứa của Nữ thần Tự do.
Khi băng qua Đại lộ số Ba, hắn chợt rảo bước chậm lại, hoàn toàn bị mê hoặc bởi tiếng sấm rền từ những chuyến tàu chạy trên cao, hòa cùng tiếng lạch cạch êm tai của bánh xe lăn qua mặt đường rải sỏi. Rồi bất chợt, một hợp âm mới mẻ và thú vị réo rắt vang lên giữa khung cảnh nhộn nhịp ấy-tiếng còi báo động réo rắt cất lên, cùng lúc một cỗ máy khổng lồ sáng loáng đang phun lửa và nhả khói ầm ầm lao tới, kéo theo đám đông hiếu kỳ chạy ùa ra xem.
Thứ đồ vật tuyệt đẹp, đầy mê hoặc ấy vừa vút qua, thì gã dân ngụ cư nguyên thủy bước ngay vào luồng gió cuốn của nó. Hắn nở nụ cười toét miệng, say sưa ngắm nhìn mà chẳng hiểu mô tê gì. Và cứ thế, đôi chân hắn lững thững bước thẳng vào giữa đường đi của chiếc xe chở ống nước số 99 đang lao tới như bay. Trên xe, John Byrnes đang phải dùng đôi tay rắn như thép ghì chặt lấy dây cương, kìm hãm sức kéo của hai con ngựa Erebus và Joe đang phi nước đại.
Luật lệ bất thành văn của lính cứu hỏa không bao giờ có ngoại lệ hay châm chước. Đó là một đạo lý đơn giản-đơn giản như quy tắc tam suất8 vậy. Phía trước đang có một kẻ ngẩn ngơ vô ý ngáng ngay trên đường ưu tiên; và bên này là chiếc xe chở ống nước khổng lồ cùng cái cột sắt của tuyến đường sắt trên cao.
John Byrnes dồn toàn bộ sức nặng cơ thể và gồng chặt cơ bắp, ghì mạnh dây cương sang bên trái. Đàn ngựa cùng cỗ xe cứu hỏa khựng lại, ngoặt gấp và lao thẳng vào cột sắt ven đường với sức công phá của một quả ngư lôi. Những người lính trên xe bị hất văng tứ tung như những con ky. Dây an toàn của người đánh xe đứt phăng, chiếc cột sắt rung lên chấn động. John Byrnes ngã văng xuống đường ray xe điện cách đó chừng hai mươi feet, gãy xương một bên vai. Cùng lúc ấy, Erebus-chú ngựa Erebus đen nhánh, tuyệt đẹp và được cả đội cưng chiều nhất-đang nằm hí khẽ trong mớ yên cương với một cái chân gãy gập.
Để tôn trọng cảm xúc của Đội Cứu hỏa số 99, những chi tiết đau lòng tiếp theo sẽ chỉ được lướt qua, bởi chẳng ai trong đội muốn bị gợi nhớ lại cái ngày hôm đó. Đám đông xúm đen xúm đỏ, những cuộc gọi khẩn cấp liên tục được gửi đi. Và rồi, giữa lúc tiếng còi xe cứu thương đang rú lên dẹp đường, những người lính cứu hỏa của đội 99 đã nghe thấy tiếng nổ đanh gọn phát ra từ khẩu súng lục của viên thanh tra thuộc Hội Bảo vệ Động vật. Họ đồng loạt quay mặt đi nơi khác, chẳng một ai đành lòng ngoái nhìn về phía Erebus thêm một lần nào nữa.
Khi toán lính cứu hỏa quay về trạm, họ thấy một người trong đội đang túm cổ gã thủ phạm đã gieo rắc sự hoang tàn và nỗi ai oán cho họ. Cả đám đặt hẳn hắn vào giữa sàn nhà rồi vây quanh với những ánh mắt hết sức nghiêm nghị. Thế mà, xuyên qua lớp râu ria rậm rạp, cái sinh vật mang mầm tai họa ấy vẫn bắng nhắng tuôn ra một tràng liến thoắng, tay chân huơ lên múa xuống loạn xạ.
"Nghe cứ như tiếng thuốc tiêu hóa sủi bọt ấy," Mike Dowling nhăn mặt ghê tởm, "mà thứ này còn làm tôi lợm giọng hơn thế nhiều. Gọi đây là con người ư!-con ngựa nhà mình còn đáng giá hơn cả một chuyến tàu hơi nước chở đầy lũ sinh vật hai chân kiểu này. Đích thị là bọn dân nhập cư rồi."
"Nhìn vết phấn bác sĩ đánh dấu trên áo khoác nó kìa," Reilly, người trực bàn, hất hàm. "Mới cập bến thôi. Chắc mẩm lại là đám Dago9, rợ Hun10 hay bọn Phần Lan nào đó. Đây chính là mớ rác rưởi mà cả châu Âu tấp thẳng lên đầu chúng ta đấy."
"Cứ thử nghĩ xem, một thứ hạ đẳng thế này lại dám cản đường, báo hại John phải nhập viện và phá nát đội cứu hỏa cừ khôi nhất cái thành phố này," một người lính khác gầm gừ. "Đáng lý phải lôi cổ nó ra bến tàu rồi dìm cho chết quách đi."
"Ai đó chạy vù ra góc phố gọi Sloviski đến đi," người lái xe cứu hỏa nảy ra ý kiến, "để xem cái đất nước khốn kiếp nào đẻ ra cái mớ bùng nhùng toàn tóc tai với những tiếng ồn đinh tai nhức óc này."
Sloviski là chủ một tiệm đồ ăn sẵn quanh góc đại lộ số Ba, lại còn được thiên hạ đồn đại là một nhà ngôn ngữ học.
Một người trong đội đã điệu anh ta tới-một gã đàn ông béo phị, tướng tá khúm núm, đôi mắt láo liên và sực nức mùi của đủ loại thịt thà.
"Anh thử mang dăm ba cái từ ngữ trẹo lưỡi của anh ra mà tiếp chuyện với món hàng ngoại nhập này xem sao, Sloviski," Mike Dowling cất tiếng. "Chúng tôi thì chịu, chả biết nó chui ra từ cái xó bãi bùn sông Hackensack hay là tận vùng Hongkong-on-the-Ganges11 nữa."
Sloviski ngỏ lời với gã lạ mặt bằng vài thứ thổ ngữ, với nhịp điệu và âm sắc trải dài từ tiếng khạc đờm của người viêm amiđan cho đến tiếng khui một lon cà chua bằng chiếc kéo. Gã nhập cư đáp lời với âm điệu nghe như tiếng bật nút bần của một chai bia gừng.
"Tôi hỏi được tên của nó cho các anh rồi đây," Sloviski báo cáo. "Các anh sẽ chẳng tài nào phát âm nổi đâu. Viết ra giấy thì hơn." Đám lính chìa cho anh ta một mẩu giấy, và anh ta nắn nót viết: "Demetre Svangvsk."
"Trông cứ như chữ tốc ký ấy nhỉ," người trực bàn tặc lưỡi.
"Nó lảm nhảm cái thứ ngôn ngữ gì ấy," gã phiên dịch viên nghiệp dư tiếp tục, lấy tay quệt mồ hôi trán, "của dân Áo mà lại pha tạp chút âm hưởng Thổ Nhĩ Kỳ. Xong rồi nó chêm cả vài từ tiếng Magyar12, một hai từ tiếng Ba Lan, lại còn na ná tiếng Romania, nhưng cũng không hẳn là không có dính dáng tới thổ ngữ của bộ lạc nào đó vùng Bessarabia13. Tôi cũng chả rành nó lắm."
"Thế tóm lại anh gọi nó là bọn Dago, bọn Polocker14, hay là cái giống gì?" Mike vặn hỏi, đôi lông mày nhíu chặt lại trước cái bản mô tả đa ngôn ngữ hỗn tạp đó.
"Nó là một"-Sloviski ấp úng-"nó là một-tôi nghĩ nó đến từ-tôi nghĩ nó đích thị là một thằng đần," anh ta chốt hạ, hoàn toàn cạn kiệt kiên nhẫn trước sự bất lực về mặt ngôn ngữ của chính mình, "và nếu các anh vui lòng, tôi xin phép được quay lại với tiệm đồ ăn của tôi đây."
"Mặc xác nó là giống gì, nó cũng là một con chim non," Mike Dowling hừ lạnh; "và anh sẽ được chiêm ngưỡng nó tập bay ngay đây."
Túm chặt lấy cánh của con gia cầm ngoại lai vừa hạ cánh xuống tổ ấm của Nữ thần Tự do, Mike dẫn thẳng hắn ra tận cửa trạm cứu hỏa và ban phát cho hắn một cú sút nhiệt tình, đủ mạnh để trút cạn toàn bộ cơn phẫn nộ của Đội 99. Demetre Svangvsk vội vã thoát thân xuống vỉa hè, nhưng vẫn cố ngoái đầu lại một bận, ném cho đám lính cứu hỏa đang hầm hầm tức giận một nụ cười ngoác miệng chẳng thể nào xóa nhòa nổi.
Ba tuần sau, John Byrnes xuất viện và quay lại làm việc. Bừng bừng nhiệt huyết, anh tiếp tục tỉ mẩn cập nhật tấm bản đồ chiến sự của mình. "Lúc nào tôi cũng đặt cược vào quân Nhật," anh dõng dạc tuyên bố. "Thế này nhé, cứ nhìn bọn Nga mà xem-chúng khác quái gì một bầy sói đâu. Quét sạch chúng đi, tôi bảo rồi-và cái đám jiu jitsu15 bé nhỏ, cừ khôi đó chính là những đóa anh đào sẽ làm nên chuyện, các anh đừng có quên đấy!"
Vào ngày thứ hai kể từ lúc Byrnes đi làm lại, tên Demetre Svangvsk không rõ lai lịch kia lại mò đến trạm cứu hỏa, nụ cười trên môi còn ngoác rộng hơn trước. Hắn vất vả xoay xở cốt chỉ để bày tỏ rằng hắn muốn chúc mừng anh tài xế xe bồn đã bình phục, đồng thời xin lỗi vì vụ tai nạn. Hắn khua khoắng tay chân khoa trương, miệng la hét ầm ĩ đến mức khiến cả đội lính cứu hỏa bị phân tâm suốt nửa tiếng đồng hồ. Cuối cùng, họ lại phải tống cổ hắn ra ngoài. Thế mà ngay ngày hôm sau, hắn đã lù lù xuất hiện trở lại với cái nụ cười toét miệng quen thuộc. Chẳng ai rõ hắn sống bằng nghề gì hay ở đâu. Rồi khi cậu con trai chín tuổi của John Byrnes là Chris-người thường mang đồ ăn tẩm bổ từ nhà đến cho bố-tỏ ra quý mến Svangvsk, mọi người đành châm chước cho hắn thỉnh thoảng được lảng vảng trước cửa trạm.
Một buổi chiều nọ, chiếc ô tô lớn màu nâu xám của ngài Phó Ủy viên Sở Cứu hỏa kêu vo vo chạy tới trước cửa trạm số 99. Ngài bước vào trong, định bụng làm một chuyến thanh tra đột xuất. Đám lính cứu hỏa vội tống cổ gã Svangvsk ra ngoài, cú đá có phần thô bạo hơn thường lệ đôi chút. Rồi họ kiêu hãnh hộ tống vị quan chức đi một vòng quanh trạm 99, nơi mọi ngóc ngách đều được chùi rửa bóng loáng, sáng choang chẳng kém gì chiếc gương soi của mấy quý cô đài các.
Ngài Phó Ủy viên rất thấu hiểu nỗi buồn của cả đội trước sự ra đi của ngựa Erebus. Ông đã đích thân đến để hứa sẽ tìm cho ngựa Joe một người bạn đồng hành mới, một con ngựa kéo xứng tầm đủ làm nó hãnh diện. Thế là cánh lính cứu hỏa liền dắt Joe ra khỏi chuồng. Họ muốn phô diễn cho ngài Phó Ủy viên thấy rõ con Joe oai phong lẫm liệt dường nào, và nó hoàn toàn xứng đáng với một người bạn đời xuất chúng nhất trong thế giới loài ngựa ra sao.
Trong lúc đám đàn ông còn đang xúm xít quanh con Joe mà tán dóc, thằng nhóc Chris đã lén trèo tót lên chiếc ô tô của ngài Phó Ủy viên và gạt cần động cơ lên mức tối đa. Đám lính cứu hỏa chợt nghe thấy tiếng gầm rú phì phò của cỗ máy khổng lồ xen lẫn tiếng thét hoảng hốt của thằng bé. Họ vội vàng lao ra ngoài, nhưng tất cả đã quá muộn màng. Chiếc ô tô khổng lồ bắn vọt đi, cũng may là nó cứ thế lao thẳng tắp xuống phố. Thằng nhóc thì mù tịt về ba cái thứ máy móc này; nó chỉ biết rúm ró ôm chặt mớ đệm ghế và gào khóc thảm thiết. Động cơ đã chạy hết công suất thì chẳng vật gì cản nổi chiếc ô tô ấy nữa, trừ phi nó đâm sầm vào một bức tường gạch. Mà nếu chiếc xe phải dừng lại theo cái cách như thế, thì phỏng có ích lợi gì cho thằng bé Chris cơ chứ.
Demetre Svangvsk lại vừa bước vào, mang theo nụ cười toe toét chực chờ ăn thêm cú đá khác, đúng lúc Chris đang bày ra cái trò nghịch ngợm tai quái của mình. Trong khi những người khác còn mải đổ xô ra phía cửa, Demetre đã vụt lao về phía Joe. Hắn trườn lên chiếc lưng trần của con ngựa hệt như một con rắn và thét vào tai nó điều gì đó vang rền như tiếng quất của hàng chục ngọn roi. Một gã lính cứu hỏa sau này còn thề sống thề chết rằng Joe đã đáp lại bằng chính thứ ngôn ngữ ấy. Chỉ mười giây sau khi chiếc ô tô phóng vụt đi, con ngựa khổng lồ đã phi nước đại, nuốt chửng mặt đường nhựa phía sau hệt như người ta nuốt một sợi mì macaroni.
Vài người đứng cách đó chừng hai dãy nhà rưỡi đã chứng kiến toàn bộ cuộc giải cứu ấy. Họ kể lại rằng chiếc ô tô lúc đó lao đi chẳng khác nào một khối ồn ào màu nâu xám, điểm xuyết một chấm đen ở giữa - chính là Chris. Thế rồi, một con ngựa khổng lồ màu nâu đỏ, cõng trên lưng một con thằn lằn nằm ép sát lưng, phi nước đại bám sát theo sau, để rồi con thằn lằn rướn người sang, tóm gọn chấm đen lôi tuột ra khỏi cái mớ ầm ĩ kia.
Chỉ mười lăm phút sau khi ăn cú đá cuối cùng dưới bàn tay - hay đúng hơn là dưới gót giày - của Đội Cứu hỏa số 99, Svangvsk đã cưỡi Joe quay lại bước qua ngưỡng cửa cùng với thằng bé an toàn không một vết xước, dù cu cậu thừa biết một trận đòn nát đít đang chờ mình.
Svangvsk trượt xuống sàn nhà, cụng đầu vào đầu Joe và phát ra một âm thanh hệt như tiếng gà mái cục tác. Joe gật gù, hếch mũi khịt một tiếng rõ to, khiến vốn kiến thức ngôn ngữ của tay bán đồ ăn Sloviski bỗng chốc trở thành thứ vứt đi.
John Byrnes bước tới chỗ Svangvsk, kẻ vẫn đang toe toét cười, chực chờ ăn thêm một cú đá. Byrnes siết lấy tay gã ngoại quốc mạnh đến nỗi Demetre phải nhe răng ra, đinh ninh rằng đây lại là một kiểu trừng phạt mới mẻ nào đó.
"Gã ngoại lai này cưỡi ngựa hệt như một chiến binh Cossack16," một người lính cứu hỏa từng đi xem buổi biểu diễn Wild West trầm trồ nhận xét. "Họ là những tay kỵ binh cừ khôi nhất trên thế giới đấy."
Từ "Cossack" đó dường như đã chạm đúng mạch của Svangvsk. Hắn toét miệng cười rạng rỡ hơn bao giờ hết.
"Phải-phải-tôi là người Cossack," hắn bập bẹ, tự vỗ bồm bộp vào ngực mình.
"Cossack!" John Byrnes lặp lại, vẻ trầm ngâm. "Đó chẳng phải là một tộc của người Nga sao?"
"Chắc chắn rồi, họ là một bộ tộc của nước Nga," viên trực bàn, gã vẫn thường tranh thủ đọc sách giữa các lần báo cháy, lên tiếng xác nhận.
Ngay lúc đó, Nghị viên Foley, người đang trên đường về nhà và hoàn toàn mù tịt về vụ rượt đuổi vừa rồi, tạt qua trước cửa trạm cứu hỏa và réo gọi Byrnes:
"Chào cậu, Jimmy, chàng trai của tôi - cục diện chiến sự đang thế nào rồi? Bọn Nhật lùn vẫn đang làm con gấu đó phải chạy lạch bạch, có phải không?"
"Ồ, tôi thì không chắc đâu," John Byrnes đáp lại với vẻ thích thú muốn tranh luận, "lũ Nhật đó chưa chắc đã dễ xơi thế đâu. Ngài cứ chờ đến khi Kuropatkin17 giáng cho chúng một đòn ra trò mà xem, lúc đấy khéo chúng chẳng cao nổi tới đầu gối của một con vịt-sky18 ấy chứ."
-
Lối chơi chữ của tác giả, thêm hậu tố '-sky' và '-vitch' (rất phổ biến trong họ tên người Nga, ví dụ: Dostoevsky, Ivanovich) vào các từ ngữ thông thường để chế giễu quân Nga. ↩
-
Những hiệp sĩ huyền thoại trong văn học Anh, nổi tiếng với tinh thần nghĩa hiệp, bảo vệ kẻ yếu và tuân thủ các quy tắc đạo đức khắt khe. ↩
-
Nguyên tắc ứng xử đạo đức phổ quát: 'Hãy đối xử với người khác theo cách mà bạn muốn họ đối xử với mình'. ↩
-
James J. Jeffries (1875-1953), nhà vô địch quyền anh hạng nặng thế giới vào đầu thế kỷ 20, nổi tiếng với sức mạnh và những cú đấm uy lực. ↩
-
Viết tắt của Society for the Prevention of Cruelty to Animals (Hội Phòng chống Bạo hành Động vật), một tổ chức hoạt động vì quyền lợi động vật tại Mỹ. ↩
-
Hòn đảo nằm ở cảng New York, từng là trạm tiếp nhận người nhập cư lớn nhất và bận rộn nhất của Hoa Kỳ từ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20. ↩
-
Tên các đơn vị tiền tệ lẻ của nhiều quốc gia khác nhau ở châu Âu và khu vực lân cận lúc bấy giờ. ↩
-
Một quy tắc toán học cơ bản dùng để tìm một đại lượng chưa biết khi biết ba đại lượng tỷ lệ thuận hoặc tỷ lệ nghịch với nhau. Ý nói luật lệ của lính cứu hỏa rất rõ ràng và dễ hiểu. ↩
-
Từ lóng miệt thị mà người Mỹ thời đó thường dùng để gọi những người nhập cư từ Ý, Tây Ban Nha hoặc Bồ Đào Nha. ↩
-
Từ lóng chỉ người Hungary hoặc các sắc tộc Đông Âu nói chung. Từ này đôi khi mang hàm ý miệt thị, ví họ với các bộ tộc du mục thiện chiến thời cổ đại. ↩
-
Một địa danh không có thật do nhân vật tự bịa ra bằng cách ghép tên Hồng Kông (Trung Quốc) và sông Hằng (Ganges - Ấn Độ) để ám chỉ một nơi xa xôi, lạc hậu và hỗn tạp ở châu Á. ↩
-
Tên gọi chính thức của người Hungary và ngôn ngữ của họ. ↩
-
Một vùng đất lịch sử ở Đông Âu, nay phần lớn thuộc Cộng hòa Moldova và một phần của Ukraine. ↩
-
Từ lóng mang ý miệt thị dùng để chỉ những người nhập cư gốc Ba Lan (Polish). ↩
-
Nhu thuật, một môn võ thuật cổ truyền của Nhật Bản. Ở đây được dùng như một cách gọi biệt danh cho những người lính Nhật Bản. ↩
-
Người Cossack (Kô-zắc), một nhóm sắc tộc ở miền nam nước Nga và Ukraina, nổi tiếng trong lịch sử là những kỵ binh dũng mãnh, thiện chiến và có kỹ năng cưỡi ngựa điêu luyện. ↩
-
Aleksey Kuropatkin (1848-1925), Bộ trưởng Chiến tranh kiêm Tổng tư lệnh quân đội Đế quốc Nga trong giai đoạn đầu của cuộc Chiến tranh Nga-Nhật. ↩
-
Lối nói nhại tiếng Nga của nhân vật, ghép từ 'vịt' với hậu tố '-sky' thường thấy trong tên người Nga. ↩
THE FOREIGN POLICY OF COMPANY 99
John Byrnes, hose-cart driver of Engine Company No. 99, was afflicted with what his comrades called Japanitis.
Byrnes had a war map spread permanently upon a table in the second story of the engine-house, and he could explain to you at any hour of the day or night the exact positions, conditions and intentions of both the Russian and Japanese armies. He had little clusters of pins stuck in the map which represented the opposing forces, and these he moved about from day to day in conformity with the war news in the daily papers.
Wherever the Japs won a victory John Byrnes would shift his pins, and then he would execute a war dance of delight, and the other firemen would hear him yell: “Go it, you blamed little, sawed-off, huckleberry-eyed, monkey-faced hot tamales! Eat ’em up, you little sleight-o’-hand, bow-legged bull terriers-give ’em another of them Yalu looloos, and you’ll eat rice in St. Petersburg. Talk about your Russians-say, wouldn’t they give you a painsky when it comes to a scrapovitch?”
Not even on the fair island of Nippon was there a more enthusiastic champion of the Mikado’s men. Supporters of the Russian cause did well to keep clear of Engine-House No. 99.
Sometimes all thoughts of the Japs left John Byrnes’s head. That was when the alarm of fire had sounded and he was strapped in his driver’s seat on the swaying cart, guiding Erebus and Joe, the finest team in the whole department-according to the crew of 99.
Of all the codes adopted by man for regulating his actions toward his fellow-mortals, the greatest are these-the code of King Arthur’s Knights of the Round Table, the Constitution of the United States and the unwritten rules of the New York Fire Department. The Round Table methods are no longer practicable since the invention of street cars and breach-of-promise suits, and our Constitution is being found more and more unconstitutional every day, so the code of our firemen must be considered in the lead, with the Golden Rule and Jeffries’s new punch trying for place and show.
The Constitution says that one man is as good as another; but the Fire Department says he is better. This is a too generous theory, but the law will not allow itself to be construed otherwise. All of which comes perilously near to being a paradox, and commends itself to the attention of the S. P. C. A.
One of the transatlantic liners dumped out at Ellis Island a lump of protozoa which was expected to evolve into an American citizen. A steward kicked him down the gangway, a doctor pounced upon his eyes like a raven, seeking for trachoma or ophthalmia; he was hustled ashore and ejected into the city in the name of Liberty-perhaps, theoretically, thus inoculating against kingocracy with a drop of its own virus. This hypodermic injection of Europeanism wandered happily into the veins of the city with the broad grin of a pleased child. It was not burdened with baggage, cares or ambitions. Its body was lithely built and clothed in a sort of foreign fustian; its face was brightly vacant, with a small, flat nose, and was mostly covered by a thick, ragged, curling beard like the coat of a spaniel. In the pocket of the imported Thing were a few coins-denarii-scudi-kopecks-pfennigs-pilasters-whatever the financial nomenclature of his unknown country may have been.
Prattling to himself, always broadly grinning, pleased by the roar and movement of the barbarous city into which the steamship cut-rates had shunted him, the alien strayed away from the sea, which he hated, as far as the district covered by Engine Company No. 99. Light as a cork, he was kept bobbing along by the human tide, the crudest atom in all the silt of the stream that emptied into the reservoir of Liberty.
While crossing Third avenue he slowed his steps, enchanted by the thunder of the elevated trains above him and the soothing crash of the wheels on the cobbles. And then there was a new, delightful chord in the uproar-the musical clanging of a gong and a great shining juggernaut belching fire and smoke, that people were hurrying to see.
This beautiful thing, entrancing to the eye, dashed past, and the protoplasmic immigrant stepped into the wake of it with his broad, enraptured, uncomprehending grin. And so stepping, stepped into the path of No. 99’s flying hose-cart, with John Byrnes gripping, with arms of steel, the reins over the plunging backs of Erebus and Joe.
The unwritten constitutional code of the fireman has no exceptions or amendments. It is a simple thing-as simple as the rule of three. There was the heedless unit in the right of way; there was the hose-cart and the iron pillar of the elevated railroad.
John Byrnes swung all his weight and muscle on the left rein. The team and cart swerved that way and crashed like a torpedo into the pillar. The men on the cart went flying like skittles. The driver’s strap burst, the pillar rang with the shock, and John Byrnes fell on the car track with a broken shoulder twenty feet away, while Erebus-beautiful, raven-black, best-loved Erebus-lay whickering in his harness with a broken leg.
In consideration for the feelings of Engine Company No. 99 the details will be lightly touched. The company does not like to be reminded of that day. There was a great crowd, and hurry calls were sent in; and while the ambulance gong was clearing the way the men of No. 99 heard the crack of the S. P. C. A. agent’s pistol, and turned their heads away, not daring to look toward Erebus again.
When the firemen got back to the engine-house they found that one of them was dragging by the collar the cause of their desolation and grief. They set it in the middle of the floor and gathered grimly about it. Through its whiskers the calamitous object chattered effervescently and waved its hands.
“Sounds like a seidlitz powder,” said Mike Dowling, disgustedly, “and it makes me sicker than one. Call that a man!-that hoss was worth a steamer full of such two-legged animals. It’s a immigrant-that’s what it is.”
“Look at the doctor’s chalk mark on its coat,” said Reilly, the desk man. “It’s just landed. It must be a kind of a Dago or a Hun or one of them Finns, I guess. That’s the kind of truck that Europe unloads onto us.”
“Think of a thing like that getting in the way and laying John up in hospital and spoiling the best fire team in the city,” groaned another fireman. “It ought to be taken down to the dock and drowned.”
“Somebody go around and get Sloviski,” suggested the engine driver, “and let’s see what nation is responsible for this conglomeration of hair and head noises.”
Sloviski kept a delicatessen store around the corner on Third avenue, and was reputed to be a linguist.
One of the men fetched him-a fat, cringing man, with a discursive eye and the odors of many kinds of meats upon him.
“Take a whirl at this importation with your jaw-breakers, Sloviski,” requested Mike Dowling. “We can’t quite figure out whether he’s from the Hackensack bottoms or Hongkong-on-the-Ganges.”
Sloviski addressed the stranger in several dialects that ranged in rhythm and cadence from the sounds produced by a tonsilitis gargle to the opening of a can of tomatoes with a pair of scissors. The immigrant replied in accents resembling the uncorking of a bottle of ginger ale.
“I have you his name,” reported Sloviski. “You shall not pronounce it. Writing of it in paper is better.” They gave him paper, and he wrote, “Demetre Svangvsk.”
“Looks like short hand,” said the desk man.
“He speaks some language,” continued the interpreter, wiping his forehead, “of Austria and mixed with a little Turkish. And, den, he have some Magyar words and a Polish or two, and many like the Roumanian, but not without talk of one tribe in Bessarabia. I do not him quite understand.”
“Would you call him a Dago or a Polocker, or what?” asked Mike, frowning at the polyglot description.
“He is a”-answered Sloviski-“he is a-I dink he come from-I dink he is a fool,” he concluded, impatient at his linguistic failure, “and if you pleases I will go back at mine delicatessen.”
“Whatever he is, he’s a bird,” said Mike Dowling; “and you want to watch him fly.”
Taking by the wing the alien fowl that had fluttered into the nest of Liberty, Mike led him to the door of the engine-house and bestowed upon him a kick hearty enough to convey the entire animus of Company 99. Demetre Svangvsk hustled away down the sidewalk, turning once to show his ineradicable grin to the aggrieved firemen.
In three weeks John Byrnes was back at his post from the hospital. With great gusto he proceeded to bring his war map up to date. “My money on the Japs every time,” he declared. “Why, look at them Russians-they’re nothing but wolves. Wipe ’em out, I say-and the little old jiu jitsu gang are just the cherry blossoms to do the trick, and don’t you forget it!”
The second day after Byrnes’s reappearance came Demetre Svangvsk, the unidentified, to the engine-house, with a broader grin than ever. He managed to convey the idea that he wished to congratulate the hose-cart driver on his recovery and to apologize for having caused the accident. This he accomplished by so many extravagant gestures and explosive noises that the company was diverted for half an hour. Then they kicked him out again, and on the next day he came back grinning. How or where he lived no one knew. And then John Byrnes’s nine-year-old son, Chris, who brought him convalescent delicacies from home to eat, took a fancy to Svangvsk, and they allowed him to loaf about the door of the engine-house occasionally.
One afternoon the big drab automobile of the Deputy Fire Commissioner buzzed up to the door of No. 99 and the Deputy stepped inside for an informal inspection. The men kicked Svangvsk out a little harder than usual and proudly escorted the Deputy around 99, in which everything shone like my lady’s mirror.
The Deputy respected the sorrow of the company concerning the loss of Erebus, and he had come to promise it another mate for Joe that would do him credit. So they let Joe out of his stall and showed the Deputy how deserving he was of the finest mate that could be in horsedom.
While they were circling around Joe confabbing, Chris climbed into the Deputy’s auto and threw the power full on. The men heard a monster puffing and a shriek from the lad, and sprang out too late. The big auto shot away, luckily taking a straight course down the street. The boy knew nothing of its machinery; he sat clutching the cushions and howling. With the power on nothing could have stopped that auto except a brick house, and there was nothing for Chris to gain by such a stoppage.
Demetre Svangvsk was just coming in again with a grin for another kick when Chris played his merry little prank. While the others sprang for the door Demetre sprang for Joe. He glided upon the horse’s bare back like a snake and shouted something at him like the crack of a dozen whips. One of the firemen afterward swore that Joe answered him back in the same language. Ten seconds after the auto started the big horse was eating up the asphalt behind it like a strip of macaroni.
Some people two blocks and a half away saw the rescue. They said that the auto was nothing but a drab noise with a black speck in the middle of it for Chris, when a big bay horse with a lizard lying on its back cantered up alongside of it, and the lizard reached over and picked the black speck out of the noise.
Only fifteen minutes after Svangvsk’s last kicking at the hands-or rather the feet-of Engine Company No. 99 he rode Joe back through the door with the boy safe, but acutely conscious of the licking he was going to receive.
Svangvsk slipped to the floor, leaned his head against Joe’s and made a noise like a clucking hen. Joe nodded and whistled loudly through his nostrils, putting to shame the knowledge of Sloviski, of the delicatessen.
John Byrnes walked up to Svangvsk, who grinned, expecting to be kicked. Byrnes gripped the outlander so strongly by the hand that Demetre grinned anyhow, conceiving it to be a new form of punishment.
“The heathen rides like a Cossack,” remarked a fireman who had seen a Wild West show-“they’re the greatest riders in the world.”
The word seemed to electrify Svangvsk. He grinned wider than ever.
“Yas-yas-me Cossack,” he spluttered, striking his chest.
“Cossack!” repeated John Byrnes, thoughtfully, “ain’t that a kind of a Russian?”
“They’re one of the Russian tribes, sure,” said the desk man, who read books between fire alarms.
Just then Alderman Foley, who was on his way home and did not know of the runaway, stopped at the door of the engine-house and called to Byrnes:
“Hello there, Jimmy, me boy-how’s the war coming along? Japs still got the bear on the trot, have they?”
“Oh, I don’t know,” said John Byrnes, argumentatively, “them Japs haven’t got any walkover. You wait till Kuropatkin gets a good whack at ’em and they won’t be knee-high to a puddle-ducksky.”