XỨ SỞ LẢNG TRÁNH

Kẻ viết lách khôn ngoan thường nhắm vào một chủ đề chẳng thể nào định nghĩa nổi. Bởi khi ấy, hắn mặc sức thao thao bất tuyệt lý thuyết của mình về việc nó là gì; rồi tiếp đó, dài dòng lê thê hơn nữa, là những quan niệm về việc nó không phải là gì-và kìa! Chẳng mấy chốc mà trang giấy đã kín đặc chữ. Vậy nên, chúng ta hãy thử lần theo dấu vết miên man, chẳng bản đồ nào vẽ nổi ấy để bước vào vùng đất đầy tranh cãi mang tên Bohemia.

Grainger, phó tổng biên tập tờ Doc’s Magazine, sập nắp chiếc bàn làm việc lại, đội mũ lên, rảo bước ra hành lang, ấn nút "xuống" rồi đứng đợi thang máy.

Hôm nay quả là một ngày phờ phạc với Grainger. Ông sếp đã chực chờ phá hỏng tờ tạp chí đến cả chục bận khi cứ khăng khăng đi ngược lại mọi ý tưởng điều hành của anh. Lại thêm một quý cô có ông nội từng tham chiến cùng tướng McClellan đích thân mang đến tận nơi một tập thơ.

Ở tòa soạn, Grainger được ví như tay quản thú coi sóc bầy sư tử. Trưa hôm ấy, anh đã phải "ăn trưa" cùng một tay thám hiểm Bắc Cực, một nhà văn chuyên viết truyện ngắn, và một vị đạo diễn lừng danh của loạt phóng sự vạch trần sự thật về các lò mổ. Hậu quả là, đầu óc anh giờ đây cứ ong ong, xoay mòng mòng với đủ thứ tảng băng trôi, văn phong Maupassant1 cùng căn bệnh giun xoắn.

Nhưng dẫu sao vẫn còn một niềm an ủi, một nơi để lui tới; đó chính là Bohemia. Anh sẽ tìm đến đó để khuây khỏa tâm hồn; và, để xem nào-phải rồi, anh sẽ tạt qua đón Mary Adrian.

Nửa giờ sau, anh lách qua những chậu cọ rậm rạp trong sảnh lát gạch của chung cư "Idealia", trông hệt như một gã đang lùng sục hoa phong lan giữa rừng già Brazil. Hẳn sẽ có ngày, mấy nhà thông thái chuyên đặt tên cho chung cư và mấy ông chuyên đặt tên cho toa giường nằm đụng độ nhau, và lúc đó, một cuộc tương tàn đẫm máu vì ghen tị chắc chắn sẽ nổ ra.

Cậu nhân viên lễ tân lúng búng đọc tên Grainger vào chiếc điện thoại nội bộ, giọng điệu uể oải đến mức người ta cứ ngỡ cái tên ấy sẽ rơi tõm xuống tận chỗ gác cổng chỉ vì quá nặng nề. Nhưng rồi, bằng cách nào đó, nó cũng lết được lên đến tai cô Adrian. Và dĩ nhiên, anh Grainger được mời lên ngay tắp lự.

Một cô hầu phòng da màu, với vẻ mặt hệt như nhân vật Eliza đang vượt qua tảng băng trôi, ra mở cửa căn hộ cho anh. Grainger sải bước qua dãy hành lang chật chội. Từ khe cửa hé mở, một mớ tóc màu nâu cháy xù lên cùng một con mắt xanh biếc ló ra. Kế đó, một cánh tay dài, trắng ngần, để trần vươn hẳn ra chặn đường.

"Thật may vì là anh tới chứ không phải ai khác, Ricky à," con mắt lên tiếng. "Châm giúp tôi một điếu thuốc rồi đưa đây đi anh. Lát nữa đưa tôi đi ăn tối nhé? Tuyệt. Cứ vào phòng khách đợi tôi thay đồ. Nhưng chớ có ngồi vào cái ghế quen thuộc của anh. Trên đó có bánh kem meringue đấy. Tối qua Kappelman đã ném thẳng nó vào Reeves khi anh ta đang say sưa ngâm thơ. Sophy vừa mới tới dọn dẹp. Thuốc lá cháy chưa? Cảm ơn anh. Có rượu Scotch trên bệ lò sưởi đấy-à không, nhầm rồi, đó là rượu chartreuse2. Anh bảo Sophy tìm rượu cho anh nhé. Tôi ra nhanh thôi."

Grainger may mắn thoát nạn khỏi vũng bánh meringue. Thế nhưng, trong lúc chờ đợi, tinh thần anh lại càng tuột dốc không phanh. Bầu không khí trong phòng nhạt nhẽo, chẳng khác nào luồng gió tây thổi qua bãi dung nham của núi lửa Vesuvius. Tàn tích của buổi tiệc tùng vương vãi khắp nơi, lộn xộn đến mức ngay cả một con mèo rình mò lão luyện cũng phải tròn mắt ngạc nhiên nếu vô tình phát hiện ra. Một bó hồng đỏ thẫm lơ thơ cắm tạm bợ trong hũ mứt, gục đầu rũ rượi bên cạnh những mẩu tàn thuốc và đám ly tách chưa rửa. Cái nồi hâm đồ ăn thì chễm chệ trên cây đàn piano; còn tờ giấy chép nhạc lại dùng để đỡ chồng bánh mì kẹp trên ghế.

Lát sau, Mary bước ra, phục trang tươm tất và rạng rỡ hẳn. Chiếc váy cô diện được may từ một thứ vải mỏng tang, đen tuyền, mà cái tên của nó, chỉ cần đổi một nguyên âm duy nhất, cũng đủ để vẽ nên những ranh giới tận cùng trong cõi nhân sinh. Nếu viết bằng chữ "ê", nó toát lên thứ ma thuật hào nhoáng xứ Gallic và những giấc mộng mong manh; còn nếu viết bằng chữ "a", nó lại khoác lên mình tấm màn thê lương và bi ai tột độ.

Tối hôm đó họ đến Café André. Và, vì thi thoảng sẽ có người rỉ tai bạn rằng André's là nhà hàng duy nhất trong thị trấn thực sự mang phong thái Bohemia, nên có lẽ tốt nhất là chúng ta cứ đi theo họ.

André khởi nghiệp bằng nghề chạy bàn trong một quán ăn mười xu ở khu Bowery. Nếu tình cờ thấy ông ta ở đó, hẳn bạn sẽ lẩm bẩm trong bụng rằng đây là một gã khó xơi. Đừng dại mà nói to, bởi ông ta sẽ "tẩn" bạn nhanh y hệt cái cách ông ta nhúng ngón tay cái vào ly cà phê của bạn vậy. Nhờ chắt bóp, ông ta mở được một quán table d'hôte dưới tầng hầm trên Phố Tám (hoặc Phố Chín gì đó). Một buổi chiều nọ, sau khi nốc quá nhiều rượu absinthe3, André dõng dạc tuyên bố với cả nhà đang mắt tròn mắt dẹt rằng mình chính là Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng, do đó cần một điện thờ trống trải để được sùng bái. Ông ta khuân hết bàn ghế từ nhà hàng ra khoảng sân sau, quấn một chiếc khăn trải bàn màu đỏ quanh người, rồi chễm chệ ngồi lên một chiếc thang đứng xem như ngai vàng. Khi thực khách bắt đầu ùa đến, bà chủ quán, trong cơn bối rối tột độ, đành trải khăn lên những chiếc bàn ngoài sân rồi run rẩy dẫn khách ra đó. Giữa các bàn, những sợi dây phơi giăng mắc khắp nơi, phơi đầy quần áo của gia đình. Một nhóm khách chuyên đi săn lùng chất Bohemia lại vô cùng thích thú trước sự phá cách mang đậm tính nghệ thuật này, hò reo và vỗ tay rần rần. Đống quần áo phơi dở tuần đó cứ thế treo lủng lẳng ngoài dây suốt hai năm trời không ai cất. Đến khi tỉnh rượu, André bắt đầu in thực đơn lên những chiếc cổ tay áo được hồ cứng quèo, và dọn kem trong những chiếc bồn tắm nhỏ xíu bằng gỗ. Kế đó, ông ta tháo tấm biển hiệu xuống và bôi đen luôn mặt tiền ngôi nhà. Giờ đây, khi đến đó ăn tối, bạn phải mò mẫm tìm một cái nút bấm điện rồi nhấn nó. Một gã gác cửa sẽ kéo cái ô cửa tò vò ra, lườm bạn bằng ánh mắt đầy ngờ vực, rồi hạch sách xem bạn có quen Thượng nghị sĩ Herodotus Q. McMilligan của xứ Chickasaw hay không. Nếu có, bạn được mời vào và cho phép ăn tối. Nếu không, bạn cũng được mời vào và cho phép ăn tối. Đó chính là nơi bạn lĩnh hội được một trong những nguyên tắc ngàn đời của giới Bohemia. Khi tích cóp được 20.000 đô la, André dọn lên khu thượng lưu gần Broadway, đắm mình trong thứ ánh sáng chói lọi vẫn thường rọi chiếu vào những kẻ sa cơ. Tại đây, chúng ta sẽ để ông ta lại với những vị khách hàng đeo ngọc trai và đội mạng che mặt đi ô tô, những người đang cố chộp lấy một cái gật đầu chào hỏi đầy vẻ bề trên của ông ta.

Góc đông bắc của quán André's kê một chiếc bàn tròn lớn vừa vặn cho sáu người ngồi. Grainger và Mary Adrian tiến về phía chiếc bàn đó. Kappelman và Reeves đã có mặt sẵn. Còn có cô Tooker, người vừa thiết kế trang bìa tháng Năm cho tạp chí Ladies' Notathome. Còn có bà Pothunter, người chẳng bao giờ uống gì khác ngoài những ly highball hai màu đen trắng, vì đang để tang người chồng quá cố-một người mà, ồ, tôi quên béng mất ông ấy làm nghề gì rồi-đã nhắm mắt xuôi tay, khả năng cao là thế.

Hỡi những độc giả đã phát ngấy với món mì spaghetti, bạn có bằng lòng bỏ ra một đồng xu để ghé mắt ngó vào miền đất Bohemia diễm lệ không? Vậy thì hãy cứ nhìn đi; nhưng ngay khi bạn tưởng mình đã tỏ tường mọi thứ, thì thật ra bạn chẳng thấy gì sất. Trò này không phải là lừa đảo, cũng chẳng phải do bạn bị loạn thị đâu.

Những bức tường của Café André được phủ kín bằng các bức phác họa nguyên bản từ những nghệ sĩ, những người đã góp phần lớn trong việc tô điểm màu sắc và khuấy động âm thanh cho chốn này. Các bóng hồng xinh đẹp chính là nguồn cảm hứng chủ đạo cho vô số bức vẽ ấy. Chỉ cần buông câu "sirens and siphons4" (mỹ nhân ngư và bình xịt sô-đa), là bạn đã phần nào mường tượng ra được bầu không khí ngập tràn những cụm từ láy âm đầu ở quán André's.

Trước tiên, tôi muốn giới thiệu với bạn một người bạn của tôi, cô Adrian. Bạn hẳn đã biết cô Tooker và bà Pothunter rồi. Trong lúc cô ấy nhét gọn những ngón của đôi găng tay dài tới tận khuỷu vào trong, bạn sẽ có được bức chân dung của cô ấy. Một bức chân dung nhạt nhòa và bất định, đại loại như thế này:

Tuổi tác: quãng đâu đó giữa hai mươi bảy và những chiếc váy dạ hội kín cổ. Tinh thần đồng chí dạt dào hiện diện khắp nơi-bất kể cái từ ngữ nghe có vẻ rùng rợn đó nghĩa là gì. Môi trường sống: bất cứ đâu trải dài từ Seattle đến Tierra del Fuego. Tính khí: không thể đoán định-cô nàng có thể để mặc cho Reeves siết nhẹ tay mình sau khi anh ta ngâm nga một bài thơ tự sáng tác; nhưng lại săm soi đếm từng đồng tiền thối sau khi đưa cho gã một đô la để đi mua chút chân lợn ngâm chua. Hạnh kiểm: 75/100. Đạo đức: điểm tuyệt đối.

Mary là một trong những nàng công chúa kiêu kỳ của Bohemia. Trước hết, chỉ nội cái tên Mary thôi đã toát lên vẻ quyền quý và táo bạo. Ở cái Xứ Sở Lảng Tránh này, cứ một cô Mary thì lại có tới hai mươi cô Fifine và Heloise.

Lúc này đôi găng tay của cô đã được vén lên gọn gàng. Cô Tooker thì đang tạo dáng như người mẫu trên tấm áp phích tháng Sáu; bà Pothunter thì cắn chặt môi để sắc đỏ hiện lên; còn Reeves cứ liên tục thò tay nắn nắn vạt áo khoác để chắc mẩm bài thơ mới ra lò của mình vẫn còn nằm yên trong túi. (Bản thảo đã được đánh máy tươm tất; nhưng gã lại lúi húi dùng bút chì chép đè lên mặt sau mấy bức thư). Kappelman đang liếc trộm đồng hồ. Mười phút nữa là điểm chín giờ. Con số đó sẽ gợi cho anh ta nhớ đến một câu chuyện tiếu lâm. Tóm tắt thế này: Một cô nàng người Pháp hạch sách kẻ cầu hôn mình: "Anh đã xin phép cha tôi để cưới tôi lúc chín giờ sáng nay, đúng như lời anh hứa phải không?" "Tôi đâu có làm thế," anh ta đáp bừa. "Lúc chín giờ tôi còn bận đấu kiếm trong rừng Boulogne5 cơ mà." "Đồ hèn!" cô ả rít lên.

Bữa tối đã được dọn lên. Hẳn bạn cũng thừa biết những bữa tiệc lý trí của giới Bohemia hòa quyện với các món ăn ra sao rồi đấy. Sự hài hước được dọn cùng món hàu; sự hóm hỉnh đi kèm với súp; những màn đối đáp sắc như dao cạo được dọn cùng món khai vị; sự huênh hoang khoác lác được dọn kèm món nướng; những lời châm biếm sâu cay dành cho Whistler và Kipling thì đi cùng món salad; những khúc ca rộn rã sánh vai cùng ly cà phê; và những trò hề lố lăng thì kết thúc cùng rượu mùi.

Giữa đôi lông mày của cô Adrian hằn lên một nếp nhăn, minh chứng cho sự căng thẳng tột độ cần có để duy trì vẻ ngoài thoải mái chốn Bohemia. Sự chuẩn xác phải song hành cùng mọi câu bông đùa, mọi mot, và mọi câu châm ngôn. Cứ mỗi giây ngập ngừng đáp lời, bạn sẽ đánh mất đi một chiếc lá nguyệt quế vinh quang. Một nếp nhăn mảnh như sợi tóc bắt đầu uốn lượn từ cánh mũi xuống khóe miệng cô. Để giữ vững vị thế của mình, cô không được phép vuột mất bất kỳ cơ hội nào. Mỗi lời ném về phía cô phải được coi như một chiếc kèn piccolo, mỗi từ ngữ là một lỗ sáo, mà cô phải sẵn sàng chộp lấy và tấu lên. Và cô luôn phải nhanh tay lẹ mắt hơn cả một gã người Anh-điêng Micmac để lèo lái chiếc ca-nô mỏng manh của cuộc trò chuyện lách qua những tảng đá ngầm giữa dòng thác chảy xiết từ suối Pierian6. Bởi vì, hỡi người đọc khù khờ, dòng chữ khắc trên tường phòng tiệc của Bohemia chính là "Laisser faire7". Cái bóng ma màu xám đôi khi chập chờn lẩn khuất qua những vòng khói kia chính là oan hồn của lão Vua Quy Ước cổ hủ đã bị phế truất. Còn Tự do chính là tên bạo chúa đang giam cầm họ trong ách nô lệ.

Khi bữa tiệc tàn dần, những bàn tay cứ quờ quạng vớ lấy lọ tiêu thay vì rắc muối Attic8. Cô Tooker, chực nảy ra một ý tưởng công việc, liền rướn người qua bàn hướng về phía Grainger, làm đổ lênh láng cả ly rượu.

"Bây giờ, trong lúc anh đã no nê và đang cao hứng," cô cất lời, "tôi muốn gợi ý cho anh về một mẫu bìa mới."

"Ý kiến hay đấy," Grainger đáp lại, vừa nói vừa lấy khăn ăn lau chỗ rượu ướt trên khăn trải bàn. "Tôi sẽ bàn chuyện đó với cô cùng tay bồi bàn."

Kappelman, tay họa sĩ, là một kẻ chuyên bày trò nghịch ngợm. Để phô diễn sự hóm hỉnh tinh tế kiểu Athen, anh ta chồm dậy khỏi ghế và khiêu vũ dọc khắp căn phòng cùng với một tay chạy bàn. Kẻ phục vụ lệ thuộc ấy, chắc hẳn là một sinh vật hai chân thực thà, da mặt dày, mẫu mực, đóng thuế đầy đủ và khinh bỉ nghệ thuật, đã bứt mình khỏi cuộc đụng độ không cân sức này. Hắn mang nụ cười chuyên nghiệp của mình về phía thang tời thức ăn, rồi thả nụ cười đó rơi tuột xuống tận đáy trục thang vào miền lãng quên vĩnh viễn. Reeves thì bắt đầu ngâm những vần thơ có thể khiến Keats phải đội mồ sống dậy. Bà Pothunter rả rích kể lể câu chuyện về người đàn ông tình cờ chạm mặt một góa phụ trên chuyến tàu hỏa. Cô Adrian ngân nga một điệu nhạc mà người ta vẫn quen gọi là chanson trong những quán cà phê xập xệ ở Bridgeport. Grainger thì nhận xét những nỗ lực cá nhân của từng người bằng nụ cười cửa miệng của một gã phó tổng biên tập, mang hàm ý: "Tuyệt đỉnh! Nhưng các bạn phải gửi tác phẩm qua các kênh chính thống. Nếu tôi mà là sếp á-nhưng các bạn biết luật chơi rồi đấy."

Rồi chẳng mấy chốc, viên quản lý nhà hàng đã cúi rạp người trước mặt họ, sầu não thông báo rằng giờ đóng cửa đã lùi vào dĩ vãng; thế là cả đám lũ lượt kéo nhau ra màn đêm lấp lánh ánh sao, rải những tiếng cười hỉ hả vang vọng khắp con phố, bỏ lại sau lưng những tiếng í ới chèo kéo của mấy tay đánh xe ngựa đầy hy vọng và cả những ánh nhìn ganh tị từ những cư dân tẻ nhạt của một thế giới chẳng mảy may có chút cảm hứng nào.

Grainger để Mary lại chỗ thang máy, giữa khu rừng cọ rậm rạp chẳng có lối đi của tòa nhà Idealia. Sau khi anh đi khỏi, cô liền bắt thang máy xuống, trên tay xách theo một chiếc túi nhỏ. Cô gọi điện đặt một chiếc xe ngựa, đi thẳng đến Nhà ga Grand Central. Lên chuyến tàu dành cho khách vé tháng khởi hành lúc 12 giờ 55 phút, Mary ngồi gật gù suốt bốn tiếng đồng hồ, cái đầu với mái tóc màu nâu cháy cứ gật gù đập vào lớp nhung đỏ của lưng ghế. Cuối cùng, cô cũng hạ cánh giữa buổi bình minh buốt giá, rạng rỡ và trong vắt, tại một nhà ga đìu hiu chỉ to bằng cái sọt đựng đào, mang cái tên Crocusville.

Cô rảo bước độ một dặm rồi mở chốt một cánh cổng gỗ. Nhích vào cỡ hai mươi thước là một căn nhà tranh màu nâu, đứng trơ trọi; một cụ ông có khuôn mặt trắng bệch như ngọc trai, toát lên vẻ sùng đạo Calvin, khoác bộ đồ nhuộm đen hơn cả bầy quạ trong mỏ than, đang lui cui rửa tay trong một cái chậu thiếc ngoài hiên trước.

"Cha có khỏe không ạ?" Mary cất giọng rụt rè.

"Cha vẫn khỏe như ý Chúa cho phép, Mary Ann. Con sẽ thấy mẹ ở trong bếp."

Dưới bếp, một người phụ nữ tóc hoa râm, với điệu bộ khó đoán, đã hôn lạnh nhạt lên trán cô, rồi chỉ vào mớ khoai tây vẫn chưa gọt vỏ chờ làm bữa sáng. Mary kéo chiếc ghế gỗ ngồi xuống, bắt đầu gọt khoai tây, cõi lòng khấp khởi một niềm rộn ràng.

Bữa sáng dọn ra với những lời cầu nguyện, bánh mì nguội lạnh, khoai tây, chút thịt xông khói và vài ngụm trà.

"Cha tin con vẫn đang làm cái công việc ở thành phố mà thỉnh thoảng con hay viết thư báo về nhà, phải không," cha cô cất giọng dò hỏi.

"Vâng ạ," Mary ngoan ngoãn đáp, "con vẫn đang viết điểm sách cho cùng một tòa soạn đó."

Dùng bữa xong, cô phụ rửa chén đĩa, rồi cả nhà ba người kéo nhau ra ngồi trên mấy chiếc ghế tựa lưng thẳng đứng giữa gian phòng khách có sàn nhà trơ trụi.

"Thói quen của cha là thế này," ông cụ hắng giọng, "vào ngày Sabbath, cha sẽ đọc to tác phẩm vĩ đại mang tên 'Lời xin lỗi cho các hình thức Phụng vụ được ủy quyền và thiết lập', của nhà triết học giáo hội và thần học gia đáng kính, Jeremy Taylor."

"Con biết ạ," Mary sung sướng đáp, chắp hai tay vào nhau.

Suốt hai giờ đồng hồ ròng rã, những vần điệu của ngài Jeremy vĩ đại cứ thế cuồn cuộn vang lên tựa những nốt nhạc của một bản oratorio tấu bằng cây trung hồ cầm. Mary ngồi nghe say sưa, chìm đắm trong cảm giác mới mẻ về sự ê ẩm tột độ về mặt thể xác mà chiếc ghế gỗ mang lại. Khéo trên đời này chẳng có niềm hạnh phúc nào viên mãn bằng niềm hạnh phúc của một kẻ tử đạo. Những hợp âm thứ của Jeremy vỗ về cô tựa tiếng nhịp phách trống tom-tom. "Tại sao, ôi tại sao," cô thầm nghĩ, "lại chẳng có ai phổ nhạc cho nó cơ chứ?"

Đúng mười một giờ, cả nhà có mặt tại nhà thờ ở Crocusville. Phần tựa lưng của dãy ghế thông dài cô đang ngồi chúi về phía trước như thể đang ăn năn hối lỗi, tới mức Thánh Simeon9 có khi cũng phải ghen tị mà bước xuống khỏi bệ đài của ngài. Vị giáo sĩ chĩa mũi dùi bài giảng vào cô, và những tràng sấm sét giáng xuống cái đầu thế tội của cô bao nỗi nguyền rủa của thế gian. Kẹp chặt hai bên, hai đấng sinh thành giáo điều giữ riết lấy cô ngay tại vành móng ngựa phán xét. Một con kiến bò râm ran lên cổ, nhưng cô tuyệt nhiên chẳng dám nhúc nhích. Cô cúi gầm mặt trước đám giáo dân - một con chó ba đầu Cerberus10 trăm con mắt đang trừng trừng canh chừng những cánh cổng mà tội lỗi của cô đang hối hả xô cô vào. Tâm hồn cô lúc này tràn ngập một niềm hân hoan cuồng loạn, gần như là cuồng tín. Bởi lẽ cô đã trốn thoát khỏi sự kìm kẹp của tên bạo chúa mang danh Tự Do. Giáo điều và tín ngưỡng đã trói nghiến cô lại bằng một sự tàn nhẫn đầy bao dung, chẳng khác nào những chiếc nẹp thép bó chặt đôi chân của một đứa trẻ tật nguyền. Cô bị vây hãm, bị răn đe, bị cùm kẹp, bị chống đỡ, bị mặc áo bó, bị bịt miệng, bị ra lệnh. Khi họ bước ra ngoài, vị mục sư nán lại để chào hỏi. Mary chỉ biết cúi gầm mặt, thốt ra mấy tiếng "Vâng, thưa ông," và "Không, thưa ông," trước những câu chất vấn của ông ta. Khi thấy những người phụ nữ khác khệ nệ ôm quyển sách thánh ca ngang hông bằng tay trái, cô đỏ mặt tía tai và vội vã chuyển quyển sách của mình sang y như họ, từ tay phải đổi sang tay trái.

Cô bắt chuyến tàu lúc ba giờ để quay về thành phố. Đến chín giờ tối, cô đã lại ngồi quanh chiếc bàn tròn quen thuộc dùng bữa ở Café André. Vẫn là nhóm người ấy, gần như không thiếu một ai.

"Hôm nay cô đã đi đâu vậy?" bà Pothunter hỏi. "Tôi gọi điện thoại cho cô lúc mười hai giờ trưa mà không được."

"Tôi đã đi rất xa, đến Bohemia," Mary đáp lại với một nụ cười huyền bí.

Đấy! Mary đã nói toạc ra rồi. Cô ấy đã làm hỏng cả điểm cao trào của tôi. Bởi đáng lý ra, tôi phải là người nói cho bạn biết rằng Bohemia chẳng qua chỉ là một vùng đất nhỏ bé mà bạn chưa bao giờ đặt chân đến. Nếu bạn rắp tâm xin quyền công dân ở đó, thì ngay lập tức cả triều đình cùng đoàn tùy tùng sẽ cuống cuồng gom góp hết tài liệu hoàng gia và châu báu rồi trốn biệt tăm khỏi những ngọn đồi. Đó chỉ là một triền đồi xa xôi mà bạn phải ngoái đầu lại mới có thể ngó trộm được từ cửa sổ của một chuyến Tàu Tốc Hành.

Vào đúng mười một giờ rưỡi, Kappelman, bị đánh lừa bởi chút mềm mỏng và chậm chạp mới mẻ trong cách ứng đối của Mary Adrian, đã chồm tới định hôn cô. Ngay tắp lự, cô giáng một cái tát vào mặt gã với một sức mạnh và cơn phẫn nộ lạnh lẽo đến mức gã phải rúm người lại, tỉnh cả rượu, với vết in đỏ rực của một bàn tay hằn ngang qua khuôn mặt dâm đãng của gã. Và mọi âm thanh bỗng chốc im bặt, hệt như khi bóng đen của một đôi cánh khổng lồ sà xuống giữa bầy chim sẻ đang ríu rít gọi bầy. Có kẻ vừa phá vỡ lề luật tối cao của thế giới Bohemia giả tạo ấy-đạo luật "Laisser faire". Cú sốc không đến từ cú tát được vung ra, mà từ chuyện có kẻ phải lãnh đủ cú tát ấy. Cú tát giáng xuống mang lại cái hiệu ứng hệt như khi vị hiệu trưởng bất thình lình bước vào phòng chơi của đám học trò. Các quý cô vội vàng kéo tay áo xuống và đặt những bàn tay đoan trang lên vuốt lại mấy lọn tóc mai bù xù. Đàn ông thì bắt đầu nhìn đồng hồ. Không hề có chút không khí nào của một vụ ẩu đả ở đây cả; đó hoàn toàn là một cơn hoảng loạn tĩnh lặng, được tạo ra bởi âm thanh tiếng rìu của viên cảnh sát mặc thường phục, bởi tiếng gõ cửa của Lương tâm nơi ngưỡng cửa sòng bạc của Trái tim.

Với sự kiểu cách tỉ mỉ khi khoác áo ngoài, với vẻ giả lả thái quá như thể chẳng thấy hay chẳng nghe gì, với những lời chào hỏi ấp úng theo những nghi thức vốn đã xa lạ, và với màn diễn lố lăng của một cuộc rút lui êm ái, tôi đành phải nói lời từ biệt nhóm người Bohemia của mình. Mary đã cướp mất cái cao trào của tôi; và cô ấy có thể ra đi.

Nhưng tôi không hề nao núng. Hẳn phải có một căn hầm vĩ đại, rộng bao la dài thăm thẳm ở đâu đó-còn lớn hơn cả thảy các hầm vang sâm panh của nước Pháp cộng lại. Trong căn hầm ấy chất đầy những cái kết cụt ngủn chưng hửng, thứ đáng ra phải được đính kèm vào tất cả những câu chuyện từng được kể trên thế gian này. Tôi sẽ dùng mưu xoáy từ căn hầm ấy một tầng hầm phụ.

Minnie Brown, cùng dì của mình, đã từ Crocusville xuống thành phố ngoạn cảnh. Và bởi lẽ cô nàng từng hộ tống tôi lội qua những con suối chẳng đào đâu ra một mống cá hồi, dẫn tôi đi chiêm ngưỡng mấy cái thác nước lộ thiên, rồi còn làm hỏng cả máy ảnh của tôi trong cái tháng Bảy tôi lưu lại ngôi làng của cô, nên giờ tôi đành phải đáp lễ bằng cách hộ tống cô đến những tổ ong đầy thứ mật cỏ ba lá nhân tạo của chốn thị thành này.

Đặc biệt, cái lối sống Bohemia "hàng may sẵn" ấy lại làm cô mê mẩn. Món mì spaghetti đã quấn chặt những sợi tua của nó quanh trái tim cô; thứ rượu vang đỏ miễn phí thì dìm chết luôn niềm tin của cô vào sự tồn tại của cái gọi là chủ nghĩa thương mại trên cõi đời này; cô nàng vừa bị thách thức lại vừa bị cuốn hút bởi sự hóm hỉnh xù xì thô ráp chắt ra từ chai rượu vang claret xứ California.

Nhưng rồi một buổi tối, tôi đã kịp lôi cô ra khỏi cái mùi cá bơn và tấm trải sàn linoleum đủ lâu để đọc cho cô nghe bản thảo của câu chuyện này, câu chuyện mà lẽ ra đã khép lại trước khi cô nàng kịp xuất hiện trong đó. Tôi đọc cho cô nghe bởi tôi thừa biết mọi nhà in trên thế giới này đang đua nhau cố làm hài lòng cô và cả một vài người khác nữa. Và tôi đã hỏi xem cô nghĩ gì về nó.

"Tôi vẫn chưa rành rẽ giờ tàu chạy cho lắm," cô lên tiếng. "Anh cho tôi hỏi, Mary đã nán lại Crocusville bao lâu?"

"Mười tiếng năm phút, thưa cô," tôi đáp.

"Thế thì, câu chuyện này còn châm chước được," Minnie nói. "Chứ nếu cô nàng mà kẹt lại đó cả tuần, thì gã Kappelman hẳn đã nẫng được nụ hôn của mình rồi."



  1. Guy de Maupassant là một nhà văn Pháp nổi tiếng thế kỷ 19, được coi là một trong những bậc thầy vĩ đại nhất của thể loại truyện ngắn thế giới. ↩

  2. Chartreuse là một loại rượu mùi thảo mộc đắt tiền của Pháp, được các tu sĩ dòng Carthusian chưng cất từ thế kỷ 18. ↩

  3. Absinthe (thường được gọi là 'nàng tiên xanh') là loại rượu mạnh có độ cồn rất cao, chiết xuất từ ngải tây và các loại thảo mộc, rất được giới nghệ sĩ ưa chuộng vào cuối thế kỷ 19. Nó từng bị cấm ở nhiều quốc gia vì bị cho là có thể gây ảo giác. ↩

  4. Một cụm từ chơi chữ điệp âm đầu (alliteration) đặc trưng của tiếng Anh. 'Sirens' chỉ những mỹ nhân quyến rũ (như mỹ nhân ngư trong thần thoại Hy Lạp), còn 'siphons' là bình xịt sô-đa dùng pha chế rượu. ↩

  5. Khu rừng lớn nổi tiếng nằm ở phía tây thủ đô Paris (Pháp). Vào thế kỷ 19, đây là địa điểm vắng vẻ quen thuộc diễn ra các cuộc đấu kiếm tay đôi để giải quyết ân oán của giới quý tộc. ↩

  6. Trong thần thoại Hy Lạp, suối Pierian (Pierian Spring) ở xứ Macedonia là cội nguồn tri thức, nghệ thuật và thi ca, nơi cư ngụ của các nàng thơ. ↩

  7. 'Laissez-faire' hay 'laisser faire' là một cụm từ tiếng Pháp, nghĩa đen là 'cứ để mặc kệ'. Nó ám chỉ triết lý sống tự do, không màng đến các quy tắc, chuẩn mực, hay sự can thiệp của xã hội - được coi là lề luật cao nhất của Bohemia. ↩

  8. Thành ngữ 'Attic salt' (muối Attic - ám chỉ vùng Attica của Athens cổ đại) dùng để chỉ sự hóm hỉnh, trí tuệ sắc sảo và tinh tế trong các cuộc trò chuyện. ↩

  9. Thánh Simeon (Simeon Stylites) là một nhà tu hành khổ hạnh người Syria thời sơ kỳ Cơ Đốc giáo. Ông nổi tiếng với việc sống suốt 37 năm trên một đỉnh cột nhỏ hẹp để tu tập. ↩

  10. Trong thần thoại Hy Lạp, Cerberus là con chó săn ba đầu hung dữ canh gác cổng địa ngục, ngăn không cho người chết thoát ra ngoài. ↩