Từ thuở bình minh của giả kim thuật, con người đã luôn mải miết đi tìm những phương thuốc nhiệm màu có khả năng đánh thức lòng can đảm và sức mạnh tiềm ẩn.
CÔNG THỨC RƯỢU THẤT TRUYỀN
Kể từ dạo các quán bar được giới tu sĩ châm chước ban phước, và những ly cocktail sóng sánh trở thành thức uống khai vị cho bữa tối của giới thượng lưu, người ta mới bắt đầu công khai nhắc đến các quán rượu. Đám người bài xích bia rượu chẳng cần phải bận tâm lắng nghe ba cái chuyện này làm gì; bởi lúc nào cũng có sẵn mấy nhà hàng tự động1, nơi họ chỉ việc ném đồng xu vào khe rót súp lạnh là có ngay một ly Martini khô khốc.
Con Lantry đứng bán ở phía bên kia quầy bar - phía của những kẻ tỉnh táo - trong quán cà phê nhà Kenealy. Còn bạn và tôi thì lại đứng nán lại ở phía bên này quầy, co một chân lên y như mấy con ngỗng, và hoàn toàn tự nguyện thanh lý toàn bộ số tiền lương tuần vừa nhận của mình. Ở phía đối diện, cậu chàng Con cứ thế lướt đi, sạch sẽ tươm tất, chừng mực, tỉnh táo, và cực kỳ lịch thiệp. Trong chiếc áo khoác trắng tinh khôi, cậu luôn đúng giờ, đáng tin cậy, toát lên vẻ trẻ trung đầy trách nhiệm, và rồi thản nhiên thu nhẵn tiền của chúng ta.
Quán rượu đó (dù được ban phước hay bị nguyền rủa đi chăng nữa) lại tọa lạc trong một "khu vực" nhỏ bé mang hình bình hành thay vì hình dáng thẳng thớm của những con phố thông thường. Nơi đây là điểm tụ tập của đám tiệm giặt ủi, những gia đình tinh hoa cũ kỹ đang thời kỳ lụi tàn, cùng với một đám nghệ sĩ du mục phóng túng vốn dĩ chẳng chút liên quan gì tới hai nhóm người kia.
Sống ở tầng trên của quán cà phê chính là Kenealy cùng gia đình ông. Cô con gái Katherine của ông sở hữu đôi mắt đen lay láy mang nét đẹp đặc trưng của người Ireland - nhưng mà, tại sao tôi lại phải kể lể chuyện này cho bạn nghe nhỉ? Tốt nhất là bạn cứ bằng lòng với cô Geraldine hay cô Eliza Ann nhà mình đi. Bởi lẽ, Con luôn thầm thương trộm nhớ nàng; và cứ mỗi bận nàng cất giọng êm ái gọi với xuống từ chân cầu thang sau để xin một ca bia cho bữa tối, là trái tim cậu chàng lại đập thình thịch, xóc lên xóc xuống y hệt ly sữa rượu rum trong bình lắc vậy. Những quy luật của sự lãng mạn vốn dĩ luôn tuân theo một trật tự đâu ra đấy; kiểu như nếu bạn móc đồng shilling cuối cùng trong gia tài của mình ném tạch lên quầy bar để đổi lấy cốc whiskey, thì tay pha chế sẽ chộp lấy nó, rồi hiển nhiên sẽ cưới luôn con gái của ông chủ quán, và mọi điều tốt đẹp sẽ từ đó mà nảy nở đâm chồi.
Nhưng đối với Con thì lại không hề như vậy. Bởi vì cứ hễ đứng trước phụ nữ, cậu lại cứng lưỡi và mặt mũi thì đỏ lựng lên. Cậu chàng này, người dư sức dùng ánh mắt sắc lẹm để trấn áp mấy gã thanh niên ồn ào say xỉn vì vang đỏ, hay sẵn sàng phang thẳng cái máy ép chanh vào mặt những kẻ dám làm loạn, hoặc tóm cổ mấy tay hay kiếm chuyện ném tọt ra ngoài rãnh nước mà nếp cà vạt trắng bằng vải linen vẫn phẳng phiu không một tì vết; thế mà, cứ hễ đối diện với phái đẹp, cậu bỗng dưng câm bặt. Cậu nói năng lộn xộn, mồm miệng lắp bắp, hoàn toàn bị chôn vùi dưới trận lở tuyết hầm hập của sự bẽn lẽn và khổ sở. Vậy thì cậu sẽ ra cái bộ dạng gì khi đứng trước Katherine đây? Một kẻ run lẩy bẩy, chẳng rặn nổi một lời, một hòn đá thô kệch chẳng chút tài ăn nói, và là gã tình si câm lặng nhất trần đời, chỉ biết lải nhải dăm ba câu chuyện thời tiết vô thưởng vô phạt mỗi khi diện kiến nữ thần của lòng mình.
Một ngày nọ, hai gã đàn ông với nước da sạm đen vì nắng gió, Riley và McQuirk, bước vào quán của Kenealy. Sau một hồi to nhỏ bàn bạc với ông chủ, họ liền trưng dụng luôn căn phòng phía sau, chất đầy ngổn ngang chai lọ, ống xi-phông, bình đựng và đủ thứ ly đong y hệt phòng thí nghiệm của dược sĩ. Bao nhiêu đồ nghề và các loại rượu của một quán bar đều tề tựu đông đủ, thế nhưng tuyệt nhiên chẳng có ly đồ uống nào được bưng ra phục vụ. Suốt cả ngày trời, hai gã nhễ nhại mồ hôi giam mình trong đó, hì hục rót và pha trộn những loại rượu thập cẩm cùng thứ nước sắc vô danh từ nguồn rượu dự trữ của họ. Riley, vốn là kẻ có chút chữ nghĩa, lúi húi tính toán trên hàng xấp giấy nháp, cặm cụi quy đổi từ gallon sang ounce, rồi từ quart sang từng dram chất lỏng. Còn McQuirk, một gã lầm lì với đôi mắt vằn đỏ, thì hễ pha hỏng hỗn hợp nào là lại hất toẹt xuống cống, lầm bầm tuôn ra những lời chửi thề khàn khàn, trầm đục. Bọn họ vùi đầu vào lao động miệt mài không biết mệt mỏi, cốt để chế ra một thứ dung dịch bí ẩn nào đó, y hệt như hai gã giả kim thuật đang nỗ lực luyện vàng từ những nguyên tố cơ bản.
Vào một buổi tối nọ, khi ca trực vừa mãn, Con lững thững bước vào căn phòng phía sau ấy. Sự tò mò nghề nghiệp trong cậu đã bị dấy lên bởi những tay pha chế huyền bí chẳng hề có mống khách nào bén mảng tới quầy, những kẻ mỗi ngày đều bòn rút kho rượu của Kenealy để phục vụ cho dăm ba cái thí nghiệm vô bổ và tốn kém.
Từ cầu thang phía sau, Katherine bước xuống, nụ cười rạng rỡ tựa ánh bình minh ló rạng trên vịnh Gweebarra.
"Chào buổi tối, anh Lantry," em cất tiếng. "Và hôm nay anh có tin tức gì mới không, nếu anh chẳng phiền?"
"Tr-trời có vẻ sắp mưa," chàng trai bẽn lẽn lắp bắp, lùi lại nép sát vào tường.
"Tuyệt quá đi chứ," Katherine đáp lời. "Em thiết nghĩ chẳng có chuyện gì trở nên tồi tệ chỉ vì một chút nước cả." Trong căn phòng phía sau, Riley và McQuirk đang làm việc cật lực hệt như những mụ phù thủy rậm râu bên mấy món hỗn hợp kỳ dị của họ. Từ cả nửa trăm cái chai, họ chắt ra những lượng chất lỏng được đong đếm tỉ mẩn theo các con số của Riley, rồi lắc tung tất cả lên trong một chiếc bình thủy tinh cỡ lớn. Sau đó McQuirk sẽ hất đổ hết đi, kèm theo một tiếng chửi thề u ám, và rồi cả hai lại bắt đầu từ con số không.
"Ngồi xuống đi," Riley bảo Con, "và tôi sẽ kể cho cậu nghe."
"Mùa hè năm ngoái, tôi và Tim bàn tính với nhau rằng: mở một quán bar kiểu Mỹ ở đất Nicaragua thì chỉ có hốt bạc. Có một thị trấn duyên hải chẳng có gì bỏ bụng ngoài thuốc ký ninh2, cũng chẳng có gì bỏ mồm ngoài rượu rum. Dân bản địa lẫn người ngoại quốc cứ hễ ngả lưng xuống là ớn lạnh, đến lúc tỉnh dậy thì lại lên cơn sốt; thành thử một ly rượu pha đúng điệu chính là phương thuốc tự nhiên cho đủ mọi nỗi phiền toái ở cái xứ nhiệt đới này.
"Thế là chúng tôi chất đầy một kho cơ man nào là rượu ngon ở New York, sắm sanh đủ bộ đồ nghề pha chế cùng ly tách thủy tinh, rồi thẳng tiến tới cái thị trấn Santa Palma ấy trên một chiếc tàu buôn chanh. Suốt dọc đường, tôi và Tim ngắm cá chuồn bay, đánh bài seven-up3 với viên thuyền trưởng và gã quản lý, bụng đã mường tượng mình sắp xưng vương xưng bá trong đế chế rượu high-ball của vùng chí tuyến Nam rồi.
"Khi chỉ còn cách năm giờ đồng hồ nữa là đặt chân đến cái xứ sở nơi chúng tôi định mang những ly rượu bự chảng và cả ngón nghề thối thiếu tiền lẻ vào giới thiệu, thì viên thuyền trưởng vẫy hai đứa tôi lại gần bục la bàn bên mạn phải, như thể sực nhớ ra điều gì.
"'Tôi quên chưa báo với hai cậu,' ông ta tặc lưỡi, 'tháng trước Nicaragua vừa giáng thuế nhập khẩu 48% lên mọi mặt hàng đóng chai. Ngài Tổng thống đã lỡ nốc nhầm một chai thuốc mọc tóc sản xuất tại Cincinnati, tưởng đó là tương ớt tabasco, thế là ngài ấy nổi cơn thịnh nộ để trả đũa. Hàng đóng thùng thì mới được miễn thuế.'
"'Tiếc là ông không mở miệng sớm hơn,' hai đứa tôi càu nhàu. Thế rồi chúng tôi đành cắn răng mua lại hai cái thùng phuy cỡ 42 gallon từ viên thuyền trưởng. Chúng tôi bật nắp mọi chai rượu mình có, rồi trút sạch sành sanh vào hai cái thùng đó. Cái mức thuế 48 phần trăm quỷ quái kia dư sức khiến hai thằng sạt nghiệp; thà nhắm mắt làm liều pha một ly cocktail trị giá 1.200 đô la còn hơn là vứt toẹt đống hàng ấy xuống biển.
"Chà, lúc tàu cập bến, chúng tôi bèn khui một trong hai cái thùng phuy ra. Thứ hỗn hợp đó quả thực là một nỗi nhức nhối tâm can. Màu của nó thì y xì một đĩa súp đậu ở khu Bowery4, còn mùi vị thì hệt như cái thứ nước rẻ tiền thay cho cà phê mà bà dì thường ép cậu phải nốc để chữa cái bệnh đau tim do trót đặt cược nhầm vào một con ngựa đua thua cuộc. Chúng tôi đành rót thử một ly cỡ bốn đốt ngón tay cho một gã da đen nếm thử; kết quả là hắn nằm bẹp dí dưới gốc dừa suốt ba ngày ba đêm, gót chân cứ thế giãy đành đạch trên cát và nhất quyết từ chối ký vào giấy chứng nhận chất lượng cho chúng tôi.
"Nhưng hãy nói về cái thùng phuy còn lại! Này cậu pha chế, cậu đã bao giờ đội trên đầu chiếc mũ rơm viền ruy băng vàng chói, lơ lửng trên khinh khí cầu cùng một cô ả tuyệt sắc giai nhân, trong khi túi quần thì nhét chật cứng 8 triệu đô la chưa? Ba mươi giọt rượu đó sẽ mang lại cho cậu đúng cái cảm giác lâng lâng ấy. Chỉ cần tợp một ngụm cỡ hai đốt ngón tay5, cậu sẽ bưng mặt khóc rưng rức, bởi lẽ xung quanh chẳng còn một gã nào xứng tầm để cậu nện cho một trận nhừ tử ngoài cái tay đấm bốc Jim Jeffries bé nhỏ kia. Đúng thế, thưa cậu, cái thứ bên trong chiếc thùng phuy thứ hai đó chính là tinh hoa thần thánh chưng cất từ những trận huyết chiến, tiền bạc và cả lối sống vương giả. Nó mang sắc vàng rực rỡ, trong vắt như pha lê, và tỏa sáng giữa màn đêm, cứ như thể có ai đó đã giam giữ ánh mặt trời bên trong vậy. Có lẽ phải nghìn năm nữa, cậu mới lại thấy một tuyệt phẩm đồ uống như thế xuất hiện ở phía bên kia quầy bar.
"Chà, chúng tôi đã khởi nghiệp bằng đúng cái loại đồ uống ấy, và thế là quá đủ. Đám quý tộc tạp nham của cái xứ ấy bu lấy nó đông như ong thấy mật. Nếu cái thùng phuy đó chưa cạn, thì có lẽ đất nước đó đã trở thành một đế chế vĩ đại bậc nhất thế gian. Hễ cứ mở cửa vào mỗi buổi sáng, quán tôi lại nghênh đón nguyên một hàng dài những vị Tướng quân, Đại tá, cựu Tổng thống và cả quân phiến loạn xếp hàng nối dài cả dãy phố để chờ được phục vụ. Chúng tôi khởi điểm với giá 50 xu bạc một ly. Thế mà mười gallon cuối cùng bay vèo vèo với cái giá 5 đô la cho một ngụm con con. Quả là một phép màu. Nó thổi bùng lên trong lòng người ta lòng can đảm, tham vọng và cả bản lĩnh để làm bất cứ chuyện động trời nào; chẳng còn ai thèm bận tâm xem tiền trong túi mình là tiền bẩn hay tiền vừa mới rút ra từ công ty Độc quyền Nước đá6. Lúc thùng phuy cạn được một nửa, nước Nicaragua đã thẳng thừng từ chối trả khoản nợ Quốc gia, bãi bỏ luôn cả thuế xì gà và rục rịch chuẩn bị tuyên chiến với cả Hoa Kỳ lẫn Anh quốc.
"Chúng tôi đã vô tình tạo ra ông vua của các loại đồ uống, và hẳn là một sự may mắn lớn nếu chúng tôi có thể vô tình chế ra nó lần nữa. Đã mười tháng nay hai thằng không ngừng mày mò. Chúng tôi pha đủ thứ mẻ nhỏ, cả thùng phuy đủ mọi loại độc dược từng được biết đến trong cái giới chè chén này. Số lượng whisky, brandy, rượu mùi trái cây, rượu đắng, rượu gin và cả vang mà tôi với Tim đã lãng phí đủ sức cung cấp cho cả chục cái quán bar. Thế mà một thứ đồ uống huy hoàng đến vậy lại bị khước từ cơ hội tái ngộ với thế giới! Thật là một nỗi bi kịch và một sự phí phạm tiền của xót xa. Với tư cách là một quốc gia, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hẳn sẽ hân hoan dang tay chào đón một thức uống như thế, và sẵn lòng dốc hầu bao cho nó."
Trong suốt lúc đó, McQuirk vẫn cẩn thận đong đếm và rót chung những lượng nhỏ các loại rượu mạnh khác nhau - theo như cách gọi của Riley - dựa trên bản phác thảo công thức bằng bút chì mới nhất của ông bạn. Thứ hỗn hợp thành phẩm mang một màu sô-cô-la lốm đốm, trông đến là gớm ghiếc. McQuirk nếm thử, rồi ném toẹt nó vào bồn rửa nước thải, kèm theo những tràng chửi rủa tục tĩu rất đỗi vừa vặn.
"Đó quả là một câu chuyện kỳ lạ, dẫu có thật đi chăng nữa," Con nói. "Tôi phải đi ăn tối đây."
"Làm một ly đi, cậu trai," Riley rủ rê. "Chúng tôi có đủ mọi loại, chỉ trừ cái công thức rượu thất truyền kia thôi."
"Tôi không bao giờ uống," Con đáp, "bất cứ thứ gì nặng đô hơn nước lọc. Tôi vừa gặp cô Katherine ở cầu thang. Cô ấy nói một câu rất chí lý. 'Chẳng có thứ gì,' cô ấy bảo, 'mà lại không ngon hơn nhờ chút nước cả.'"
Ngay khi Con vừa quay lưng bước đi, Riley phấn khích giáng một cú vỗ lưng suýt làm McQuirk ngã chúi nhủi.
"Mày nghe thấy không hả?" ông hét lên. "Đúng là hai thằng ngu bẩm sinh! Sáu tá chai nước khoáng 'pollinaris7 trên tàu - chính tay mày đã bật nắp - mày đã trút sạch vào cái thùng nào? Thùng nào hả, cái đồ đầu đất này?"
"Tao nhớ ra rồi," McQuirk chậm rãi đáp, "là cái thùng thứ hai tụi mình khui. Tao còn nhớ cái nhãn giấy xanh lè dán bên hông nó."
"Chúng ta tìm ra bí quyết rồi!" Riley rống lên. "Đó chính là thứ tụi mình còn thiếu. Nước khoáng mới là thứ tạo nên phép màu! Những nguyên liệu khác tụi mình pha chuẩn không cần chỉnh rồi. Nhanh lên, người anh em, ra quầy vác ngay hai chai 'pollinaris về đây, trong lúc tao lấy bút chì tính lại cái tỷ lệ pha trộn xem sao."
Một giờ sau, Con thong dong rảo bước trên vỉa hè hướng về phía quán cà phê của Kenealy. Những người làm công tận tụy thường hay quanh quẩn quanh nơi làm việc như thế trong những giờ nghỉ ngơi, như thể bị thu hút bởi một ma lực vô hình nào đó.
Một chiếc xe tuần tra cảnh sát đang đậu ở cửa phụ. Ba viên cảnh sát vạm vỡ đang nửa khiêng nửa tống Riley và McQuirk lên bậc thềm phía sau chiếc xe. Mắt mũi và khuôn mặt của hai gã chi chít những vết bầm dập và trầy xước sau một trận thư hùng tóe máu. Ấy thế mà họ vẫn rú lên với một niềm hưng phấn kỳ quái, trút những tàn dư leo lét cuối cùng của cơn cuồng nộ hiếu chiến về phía đám cảnh sát.
"Hai gã choảng nhau ngay trong căn phòng phía sau," ông chủ Kenealy phân bua với Con. "Rồi còn ca hát ầm ĩ nữa chứ! Trò đó mới thật thảm họa. Họ đập phá tan tành gần như mọi thứ rồi. Nhưng dù sao cũng là người tử tế. Họ sẽ đền bù đâu ra đấy thôi. Nghe bảo họ đang mải mê phát minh ra một loại cocktail mới mẻ nào đó. Sáng mai tôi sẽ lo liệu cho họ được thả ra bình yên vô sự."
Con đủng đỉnh bước vào căn phòng phía sau để ngó nghiêng bãi chiến trường. Vừa lúc cậu băng qua sảnh, Katherine cũng bước từ trên lầu xuống.
"Lại chào buổi tối, anh Lantry," em cất tiếng. "Vẫn chưa có tin tức gì từ thời tiết sao?"
"Tr-trời vẫn đang chực đổ mưa," Con ấp úng, lách người bước qua với đôi gò má nhẵn nhụi, nhợt nhạt đang ửng đỏ bừng.
Quả thực, Riley và McQuirk vừa trải qua một trận tỉ thí tưng bừng mà vô cùng hữu hảo. Chai lọ và ly tách vỡ vụn văng tung tóe khắp nơi. Căn phòng sực nức mùi hơi men; trên sàn nhà loang lổ đủ các vũng rượu mạnh.
Nằm chỏng chơ trên bàn là một chiếc ly đong loại ba mươi hai ounce. Đọng lại dưới đáy ly chỉ vỏn vẹn hai thìa chất lỏng - một thứ nước màu vàng rực rỡ, tưởng chừng như đang giam hãm cả ánh nắng mặt trời tận sâu trong sắc óng ả của nó.
Con đưa mũi ngửi thử. Cậu nhấm nháp. Rồi cậu uống cạn.
Lúc cậu quay gót đi dọc theo hành lang, Katherine cũng vừa vặn bước lên cầu thang.
"Vẫn chưa có tin tức gì ư, anh Lantry?" em cất tiếng hỏi cùng một nụ cười trêu chọc.
Con bèn nhấc bổng em lên khỏi mặt sàn và ôm chặt lấy em.
"Tin tức là," anh cất tiếng nói, "chúng ta sẽ kết hôn."
"Thả em xuống, cái anh này!" em kêu lên đầy phẫn nộ, "nếu không em sẽ- Ôi, Con, đâu, ôi, anh lấy đâu ra can đảm để thốt ra điều đó vậy?"
-
Nhà hàng tự động (automat) là mô hình quán ăn phổ biến ở Mỹ đầu thế kỷ 20, nơi khách hàng nhét đồng xu vào khe máy để tự phục vụ đồ ăn thức uống mà không cần nhân viên bưng bê. ↩
-
Thuốc ký ninh (quinine) là loại thuốc đặc trị bệnh sốt rét, một căn bệnh rất phổ biến và nguy hiểm ở các vùng nhiệt đới như Nicaragua vào thời kỳ đó. ↩
-
Seven-up là một trò chơi đánh bài bằng bộ bài Tây rất phổ biến ở Mỹ thời bấy giờ, không phải là tên loại nước ngọt có gas ngày nay. ↩
-
Bowery là một khu phố ở New York, từng nổi tiếng là nơi tụ tập của tầng lớp lao động nghèo, người vô gia cư và có nhiều quán ăn giá rẻ, kém chất lượng. ↩
-
Cách đo lượng rượu thủ công tại quán bar (two fingers of liquor), tương đương lượng rượu rót ngập khoảng 4 cm tính từ đáy ly. ↩
-
Ám chỉ "Ice Trust", một tập đoàn độc quyền kiểm soát giá nước đá ở New York đầu thế kỷ 20. Thời chưa có tủ điện, nước đá là nhu yếu phẩm, và tập đoàn này nổi tiếng với các hoạt động nâng giá vắt kiệt túi tiền người dân. ↩
-
Viết tắt của Apollinaris, một nhãn hiệu nước khoáng thiên nhiên sủi bọt nổi tiếng của Đức, rất được ưa chuộng tại các quán bar cao cấp thời bấy giờ. ↩
THE LOST BLEND
Since the bar has been blessed by the clergy, and cocktails open the dinners of the elect, one may speak of the saloon. Teetotalers need not listen, if they choose; there is always the slot restaurant, where a dime dropped into the cold bouillon aperture will bring forth a dry Martini.
Con Lantry worked on the sober side of the bar in Kenealy’s café. You and I stood, one-legged like geese, on the other side and went into voluntary liquidation with our week’s wages. Opposite danced Con, clean, temperate, clear-headed, polite, white-jacketed, punctual, trustworthy, young, responsible, and took our money.
The saloon (whether blessed or cursed) stood in one of those little “places” which are parallelograms instead of streets, and inhabited by laundries, decayed Knickerbocker families and Bohemians who have nothing to do with either.
Over the café lived Kenealy and his family. His daughter Katherine had eyes of dark Irish-but why should you be told? Be content with your Geraldine or your Eliza Ann. For Con dreamed of her; and when she called softly at the foot of the back stairs for the pitcher of beer for dinner, his heart went up and down like a milk punch in the shaker. Orderly and fit are the rules of Romance; and if you hurl the last shilling of your fortune upon the bar for whiskey, the bartender shall take it, and marry his boss’s daughter, and good will grow out of it.
But not so Con. For in the presence of woman he was tongue-tied and scarlet. He who would quell with his eye the sonorous youth whom the claret punch made loquacious, or smash with lemon squeezer the obstreperous, or hurl gutterward the cantankerous without a wrinkle coming to his white lawn tie, when he stood before woman he was voiceless, incoherent, stuttering, buried beneath a hot avalanche of bashfulness and misery. What then was he before Katherine? A trembler, with no word to say for himself, a stone without blarney, the dumbest lover that ever babbled of the weather in the presence of his divinity.
There came to Kenealy’s two sunburned men, Riley and McQuirk. They had conference with Kenealy; and then they took possession of a back room which they filled with bottles and siphons and jugs and druggist’s measuring glasses. All the appurtenances and liquids of a saloon were there, but they dispensed no drinks. All day long the two sweltered in there pouring and mixing unknown brews and decoctions from the liquors in their store. Riley had the education, and he figured on reams of paper, reducing gallons to ounces and quarts to fluid drams. McQuirk, a morose man with a red eye, dashed each unsuccessful completed mixture into the waste pipes with curses gentle, husky and deep. They labored heavily and untiringly to achieve some mysterious solution like two alchemists striving to resolve gold from the elements.
Into this back room one evening when his watch was done sauntered Con. His professional curiosity had been stirred by these occult bartenders at whose bar none drank, and who daily drew upon Kenealy’s store of liquors to follow their consuming and fruitless experiments.
Down the back stairs came Katherine with her smile like sunrise on Gweebarra Bay.
“Good evening, Mr. Lantry,” says she. “And what is the news to-day, if you please?”
“It looks like r-rain,” stammered the shy one, backing to the wall.
“It couldn’t do better,” said Katherine. “I’m thinking there’s nothing the worse off for a little water.” In the back room Riley and McQuirk toiled like bearded witches over their strange compounds. From fifty bottles they drew liquids carefully measured after Riley’s figures, and shook the whole together in a great glass vessel. Then McQuirk would dash it out, with gloomy profanity, and they would begin again.
“Sit down,” said Riley to Con, “and I’ll tell you.
“Last summer me and Tim concludes that an American bar in this nation of Nicaragua would pay. There was a town on the coast where there’s nothing to eat but quinine and nothing to drink but rum. The natives and foreigners lay down with chills and get up with fevers; and a good mixed drink is nature’s remedy for all such tropical inconveniences.
“So we lays in a fine stock of wet goods in New York, and bar fixtures and glassware, and we sails for that Santa Palma town on a lime steamer. On the way me and Tim sees flying fish and plays seven-up with the captain and steward, and already begins to feel like the high-ball kings of the tropics of Capricorn.
“When we gets in five hours of the country that we was going to introduce to long drinks and short change the captain calls us over to the starboard binnacle and recollects a few things.
“‘I forgot to tell you, boys,’ says he, ‘that Nicaragua slapped an import duty of 48 per cent. ad valorem on all bottled goods last month. The President took a bottle of Cincinnati hair tonic by mistake for tabasco sauce, and he’s getting even. Barrelled goods is free.’
“‘Sorry you didn’t mention it sooner,’ says we. And we bought two forty-two gallon casks from the captain, and opened every bottle we had and dumped the stuff all together in the casks. That 48 per cent. would have ruined us; so we took the chances on making that $1,200 cocktail rather than throw the stuff away.
“Well, when we landed we tapped one of the barrels. The mixture was something heartrending. It was the color of a plate of Bowery pea soup, and it tasted like one of those coffee substitutes your aunt makes you take for the heart trouble you get by picking losers. We gave a nigger four fingers of it to try it, and he lay under a cocoanut tree three days beating the sand with his heels and refused to sign a testimonial.
“But the other barrel! Say, bartender, did you ever put on a straw hat with a yellow band around it and go up in a balloon with a pretty girl with $8,000,000 in your pocket all at the same time? That’s what thirty drops of it would make you feel like. With two fingers of it inside you you would bury your face in your hands and cry because there wasn’t anything more worth while around for you to lick than little Jim Jeffries. Yes, sir, the stuff in that second barrel was distilled elixir of battle, money and high life. It was the color of gold and as clear as glass, and it shone after dark like the sunshine was still in it. A thousand years from now you’ll get a drink like that across the bar.
“Well, we started up business with that one line of drinks, and it was enough. The piebald gentry of that country stuck to it like a hive of bees. If that barrel had lasted that country would have become the greatest on earth. When we opened up of mornings we had a line of Generals and Colonels and ex-Presidents and revolutionists a block long waiting to be served. We started in at 50 cents silver a drink. The last ten gallons went easy at $5 a gulp. It was wonderful stuff. It gave a man courage and ambition and nerve to do anything; at the same time he didn’t care whether his money was tainted or fresh from the Ice Trust. When that barrel was half gone Nicaragua had repudiated the National debt, removed the duty on cigarettes and was about to declare war on the United States and England.
“’Twas by accident we discovered this king of drinks, and ’twill be by good luck if we strike it again. For ten months we’ve been trying. Small lots at a time, we’ve mixed barrels of all the harmful ingredients known to the profession of drinking. Ye could have stocked ten bars with the whiskies, brandies, cordials, bitters, gins and wines me and Tim have wasted. A glorious drink like that to be denied to the world! ’Tis a sorrow and a loss of money. The United States as a nation would welcome a drink of that sort, and pay for it.”
All the while McQuirk had been carefully measuring and pouring together small quantities of various spirits, as Riley called them, from his latest pencilled prescription. The completed mixture was of a vile, mottled chocolate color. McQuirk tasted it, and hurled it, with appropriate epithets, into the waste sink.
“’Tis a strange story, even if true,” said Con. “I’ll be going now along to my supper.”
“Take a drink,” said Riley. “We’ve all kinds except the lost blend.”
“I never drink,” said Con, “anything stronger than water. I am just after meeting Miss Katherine by the stairs. She said a true word. ‘There’s not anything,’ says she, ‘but is better off for a little water.’”
When Con had left them Riley almost felled McQuirk by a blow on the back.
“Did ye hear that?” he shouted. “Two fools are we. The six dozen bottles of ’pollinaris we had on the ship-ye opened them yourself-which barrel did ye pour them in-which barrel, ye mudhead?”
“I mind,” said McQuirk, slowly, “’twas in the second barrel we opened. I mind the blue piece of paper pasted on the side of it.”
“We’ve got it now,” cried Riley. “’Twas that we lacked. ’Tis the water that does the trick. Everything else we had right. Hurry, man, and get two bottles of ’pollinaris from the bar, while I figure out the proportionments with me pencil.”
An hour later Con strolled down the sidewalk toward Kenealy’s café. Thus faithful employees haunt, during their recreation hours, the vicinity where they labor, drawn by some mysterious attraction.
A police patrol wagon stood at the side door. Three able cops were half carrying, half hustling Riley and McQuirk up its rear steps. The eyes and faces of each bore the bruises and cuts of sanguinary and assiduous conflict. Yet they whooped with strange joy, and directed upon the police the feeble remnants of their pugnacious madness.
“Began fighting each other in the back room,” explained Kenealy to Con. “And singing! That was worse. Smashed everything pretty much up. But they’re good men. They’ll pay for everything. Trying to invent some new kind of cocktail, they was. I’ll see they come out all right in the morning.”
Con sauntered into the back room to view the battlefield. As he went through the hall Katherine was just coming down the stairs.
“Good evening again, Mr. Lantry,” said she. “And is there no news from the weather yet?”
“Still threatens r-rain,” said Con, slipping past with red in his smooth, pale cheek.
Riley and McQuirk had indeed waged a great and friendly battle. Broken bottles and glasses were everywhere. The room was full of alcohol fumes; the floor was variegated with spirituous puddles.
On the table stood a 32-ounce glass graduated measure. In the bottom of it were two tablespoonfuls of liquid-a bright golden liquid that seemed to hold the sunshine a prisoner in its auriferous depths.
Con smelled it. He tasted it. He drank it.
As he returned through the hall Katherine was just going up the stairs.
“No news yet, Mr. Lantry?” she asked with her teasing laugh.
Con lifted her clear from the floor and held her there.
“The news is,” he said, “that we’re to be married.”
“Put me down, sir!” she cried indignantly, “or I will- Oh, Con, where, oh, wherever did you get the nerve to say it?”