Thi hào Omar Khayyám xứ Ba Tư từng mượn chén Rượu trong tập thơ Rubaiyat để nói về khát vọng cuộc đời.

BÀI THƠ RUBAIYAT CỦA LY SCOTCH HIGHBALL

Câu chuyện này có lẽ nằm lửng lơ đâu đó giữa một bài thuyết giáo về sự điều độ và cuốn "Cẩm nang Pha chế". Nếu xét theo vế sau, chất men say sẽ là thứ gia vị được nêm nếm cho chủ đề thêm phần đậm đà. Còn nếu xét theo vế trước, cam đoan sẽ chẳng có cánh tay nào được nâng lên để uống.

Bob Babbitt đã "cai rượu". Nếu cất công tra cứu cuốn từ điển của giới Bohemian, bạn sẽ hiểu ngay rằng anh chàng đã "đoạn tuyệt với ma men", hay nói đúng hơn là "chuyển tông sang xài nước lọc". Lý do khiến Bob bỗng dưng tỏ thái độ hằn học với "con quỷ rum" - cái biệt danh mà hội những người đeo ruy băng trắng1 gán nhầm cho dòng rượu whiskey (cứ giở "Cẩm nang Pha chế" ra mà xem) - hẳn sẽ khiến cả mấy nhà cải cách xã hội lẫn đám chủ quán rượu phải xôn xao bàn tán.

Đời vẫn còn hy vọng cho gã nào đó, khi đã tỉnh táo lại, nhất quyết cắn răng không chịu nhượng bộ hay thừa nhận rằng mình từng say. Nhưng một khi gã ta đã thốt lên (mượn ngôn từ khéo léo của cánh chuyên chưng cất con chữ), "Tối qua tôi vừa có một chuyến bay đêm mĩ mãn", thì có lẽ bạn nên lén bỏ chút thuốc giải vào tách cà phê của gã rồi chắp tay cầu nguyện.

Một buổi chiều nọ, trên đường tan sở, Babbitt tạt ngang qua quán bar ruột trên phố Broadway. Nơi ấy, lúc nào cũng có dăm ba gã chiến hữu làm việc ở trung tâm thành phố đang ngồi đợi sẵn. Tiếp theo thường sẽ là những ly high-ball sóng sánh hòa cùng những câu chuyện tiếu lâm, để rồi anh lại hối hả chạy về nhà, dẫu có trễ bữa tối một chút nhưng trong lòng vẫn lâng lâng phơi phới, đến mức cảm thấy ái ngại giùm cho cả Tập đoàn dầu mỏ Standard Oil2. Vậy mà vào chính buổi chiều hôm nay, vừa bước chân qua cửa, anh đã nghe thấy tiếng ai đó bô bô: "Tối hôm qua lão Babbitt lết tới đây, say bét nhè như một con cú luộc."

Babbitt bước đến quầy bar, sững sờ nhìn chằm chằm vào khuôn mặt trắng bệch như phấn của mình phản chiếu trong gương. Lần đầu tiên trong đời, anh đã nhìn thẳng vào Sự Thật. Thiên hạ đã lừa phỉnh anh; và chính anh cũng tự lừa dối bản thân. Anh vốn dĩ là một gã bợm rượu, vậy mà bấy lâu nay chẳng hề hay biết. Những gì anh cứ đinh ninh là sự thăng hoa cảm xúc dễ chịu, hóa ra lại là cơn say xỉn ủy mị, rũ rượi. Sự dí dỏm do anh tự huyễn hoặc về bản thân chẳng qua chỉ là mấy lời luyên thuyên vô nghĩa; những trò đùa vui vẻ của anh chung quy cũng chỉ là sự bốc đồng ồn ào của một kẻ nát rượu. Nhưng, chuyện đó sẽ không bao giờ, không bao giờ lặp lại nữa!

"Cho một ly seltzer," anh dõng dạc gọi người pha chế.

Một sự im lặng ngột ngạt bỗng bao trùm lên nhóm bạn nhậu, những kẻ vốn đang hí hửng mong anh nhập tiệc.

"Cai rượu rồi hả, cậu Bob?" một người trong đám lên tiếng hỏi thăm, giọng điệu khách sáo và trang nghiêm hơn hẳn những gì mấy ly high-ball có thể mang lại.

"Ừ," Babbitt đáp.

Một gã trong nhóm liền cất giọng tiếp tục câu chuyện đang kể dở; gã pha chế lẳng lặng đẩy lại một đồng hào và một đồng năm xu tiền thừa từ tờ hai mươi lăm xu, tịnh không kèm theo nụ cười xã giao như thường lệ; và Babbitt quay lưng bước ra ngoài.

Giờ thì, Babbitt đã có một tổ ấm và một cô vợ-nhưng đó lại là một câu chuyện khác. Và tôi sẽ kể cho bạn nghe câu chuyện ấy, nó sẽ cho bạn thấy một thói quen tốt hơn và một câu chuyện tồi tệ hơn những gì kẻ phát minh ra cụm từ kia có thể mang lại.

Mọi chuyện bắt nguồn từ tít tận Quận Sullivan3, nơi khởi thủy của biết bao nhiêu con sông và hằng hà sa số những rắc rối-hay bạn sẽ nói thế nào nhỉ? Đó là vào một ngày tháng Bảy, Jessie đang nghỉ hè tại Khách sạn Mountain Squint, còn Bob, một gã trai vừa rời ghế giảng đường, đã phải lòng khi tình cờ trông thấy cô-để rồi họ kết hôn vào tháng Chín. Đó là một bản tóm tắt tình sử ngắn gọn-như một ngụm nước, ực một cái là trôi tuột đi.

Nhưng ôi, những ngày tháng Bảy đó!

Hãy để cái dấu chấm than kia tự giải thích, vì tôi sẽ chẳng làm thế đâu. Nếu muốn biết thêm chi tiết, bạn cứ việc tìm đọc "Romeo và Juliet", cùng bài sonnet giật gân của Abraham Lincoln về chuyện "Bạn có thể lừa một vài người"4, vân vân và mây mây, cộng thêm vài tác phẩm của Darwin nữa.

Nhưng có một điều tôi nhất định phải kể cho bạn nghe. Cả hai người họ đều phát cuồng vì tập thơ Rubaiyat của Omar5. Họ thuộc nằm lòng từng câu chữ của lão già hay bịa chuyện ấy-chẳng phải theo thứ tự gì, mà cứ bốc đại câu này câu kia như kiểu bạn dùng nĩa xiên những cây nấm trong một đĩa bít tết à la Bordelaise6 giá năm mươi xu vậy. Quận Sullivan thì bạt ngàn cây cối và đá tảng; và Jessie thường hay ngồi trên đó, và-xin hãy giữ đầu óc trong sáng nhé-ý tôi là cô thường ngồi trên những tảng đá; còn Bob thì có thói quen đứng sát phía sau, đặt tay lên vai cô, nắm lấy tay cô, rồi áp sát mặt mình vào mặt cô, và họ cứ rủ rỉ lặp đi lặp lại những vần thơ yêu thích của gã thợ làm lều năm xưa7. Hồi đó, họ chỉ nhìn thấy chất thơ và tính triết lý sau từng dòng chữ-thật vậy, họ cùng gật gù cho rằng Rượu chỉ là một phép ẩn dụ, và thứ mà vần thơ thực sự tôn vinh là một đấng thiêng liêng nào đó, hoặc có lẽ là Tình yêu, hay Cuộc sống. Dẫu sao, vào cái thời điểm ấy, cả hai người họ đều chưa từng nếm thử thứ đồ uống đính kèm với bữa ăn table d'hôte8 giá sáu mươi xu bao giờ.

Tôi đang kể đến đâu rồi nhỉ? Ồ phải, họ kết hôn và dắt díu nhau tới New York. Bob chìa tấm bằng đại học ra, rồi kiếm được một chân châm mực trong văn phòng luật sư với mức lương vỏn vẹn 15 đô la một tuần. Đến cuối năm thứ hai, lương của anh đã leo lên mức 50 đô, và cũng là lần đầu tiên anh được nếm mùi vị của lối sống du mục Bohemia9-cái thứ lối sống không thể vượt qua nổi những bài kiểm tra độ tinh khiết bằng hàn the và phóc-môn10.

Họ mướn một căn hộ gồm hai gian phòng đủ đồ đạc và một góc bếp nhỏ xíu. Đối với Jess, một cô gái vốn đã quen với nhịp điệu êm đềm, tươi đẹp của một thị trấn nông thôn, thì cái thế giới Bohemia hỗn tạp này chẳng khác nào chút đường và gia vị. Cô chăng một tấm lưới đánh cá lên tường phòng, sắm một chiếc tủ ly trông khá phá cách, và bắt đầu học đánh đàn banjo. Tuần hai ba bận, họ lại rủ nhau đi ăn tối tại các tables d'hôte kiểu Pháp hay Ý, giữa mịt mù khói thuốc, những lời huênh hoang và những mái tóc chưa cắt. Jess học đòi uống cocktail cốt chỉ để được nhai quả anh đào trang trí. Ở nhà, cô cũng phì phèo điếu thuốc sau bữa tối. Cô học cách uốn lưỡi phát âm từ Chianti11 cho chuẩn, và biết chừa lại hạt ô liu cho bồi bàn dọn đi. Có lần cô còn định cất giọng la, la, la! giữa chốn đông người nhưng mới la được đến từ thứ hai thì tắc tịt. Họ bắt quen với một hai cặp vợ chồng khác khi đi ăn ngoài, rồi chẳng mấy chốc mà trở nên thân thiết. Chiếc tủ ly lúc nào cũng chật ních rượu Scotch, rượu lúa mạch và các loại rượu mùi. Họ mời những người bạn mới đến nhà ăn tối, và tất thảy đều cười rũ rượi vì ba cái chuyện tào lao bí đao cho đến tận một giờ sáng. Một chút vữa lả tả rớt xuống căn phòng ngay bên dưới, báo hại Bob phải móc hầu bao đền 4,50 đô la. Cứ thế, họ vui vẻ sải những bước chân vô tư lự trên ranh giới mấp mô của vùng đất không có luật lệ hay chính quyền.

Chẳng bao lâu sau, Bob nhập hội với mấy tay bợm nhậu và học được cái thói kê chân lên thanh để chân cách mặt sàn sáu inch khoảng chừng một tiếng đồng hồ mỗi chiều trước khi về nhà. Rượu chè luôn khiến anh cảm thấy lâng lâng khoái trá, và anh sẽ trở về phòng với điệu bộ hớn hở như mở cờ trong bụng. Jessie sẽ ra tận cửa đón anh, và thường thì họ sẽ nhảy một điệu rigadoon12 điên khùng nào đó quanh nhà như một cách chào hỏi. Có lần, khi đôi chân Bob cứ líu ríu vào nhau rồi ngã chỏng quèo qua cái ghế đẩu, Jessie đã ôm bụng cười sảng khoái và dai dẳng đến mức anh phải ném tới tấp đống gối trên sô-pha vào người cô để bắt cô ngậm miệng lại.

Cuộc sống của họ cứ thế trôi đi cho đến cái ngày mà Bob Babbitt lần đầu tiên nhận được đặc ân nhìn thấu bản thân qua con mắt người đời.

Nhưng thôi, hãy quay lại chủ đề chính của chúng ta đã.

Tối hôm ấy, khi Bob về đến nhà, anh thấy Jessie đang khoác chiếc tạp dề dài thượt, mải mê cắt tôm hùm chuẩn bị cho món Newburg13. Thường lệ, mỗi lần Bob ngà ngà trở về sau cả tiếng đồng hồ ở quán bar, màn chào hỏi của anh lúc nào cũng ầm ĩ vang nhà, dẫu có phảng phất đôi chút mùi sương khói của rượu Scotch.

Sự hiện diện của anh thường được đánh tiếng bằng những tiếng la hét ỏm tỏi, những câu hát rời rạc cùng muôn vàn bằng chứng rành rành về niềm hạnh phúc gia đình. Cứ hễ nghe tiếng bước chân anh huỳnh huỵch trên cầu thang, bà cô ế chồng ở phòng ngoài sảnh lại lật đật nhét bông gòn vào tai. Ban đầu, Jessie có chút rúm ró trước vẻ thô lỗ và cái điệu bộ kẻ cả trong những màn chào hỏi thấm đẫm "tinh thần" ấy; nhưng khi lớp sương mù của lối sống Bohemia rởm đời dần bủa vây lấy cô, cô đã học được cách đón nhận chúng như những lời chào đích thực và đúng mực của tình yêu.

Thế mà hôm nay, Bob bước vào nhà không nói nửa lời. Anh mỉm cười, trao cho cô một nụ hôn gọn gàng mà im ắng, điềm nhiên cầm tờ báo lên rồi ngồi xuống. Trong căn phòng ngoài sảnh, bà cô ế chồng vẫn cầm hai cục bông gòn lơ lửng trên tay, lòng đầy phấp phỏng âu lo.

Jessie buông rơi cả dao lẫn tôm hùm, hớt hải chạy đến bên anh, đôi mắt mở to đầy sợ sệt.

"Có chuyện gì vậy anh, anh ốm à?"

"Không hề, em yêu."

"Vậy anh bị sao thế?"

"Không có gì."

Nghe này, hỡi những người anh em chí cốt. Khi Người-có-quyền-tra-khảo gạn hỏi bạn về sự đổi thay chớp nhoáng mà nàng phát hiện ra trong tâm trạng của bạn, xin hãy cứ trả lời nàng thế này: Hãy thú nhận rằng bạn, trong cơn cuồng nộ bộc phát, đã lỡ tay sát hại bà nội mình; hãy khai ra rằng bạn vừa cướp bóc một đứa trẻ mồ côi và giờ đây sự cắn rứt lương tâm đang xâu xé bạn; hãy kể lể rằng cơ đồ của bạn đã đổ sông đổ biển hết thảy; rằng bạn đang bị kẻ thù vây hãm, bị những cục chai chân hành hạ, hay bị bất kỳ một loại ác vận nào bủa vây chăng nữa; nhưng tuyệt đối, xin đừng, nếu sự yên bình và niềm hạnh phúc với bạn dẫu chỉ đáng giá bằng một hạt cải-tuyệt đối đừng bao giờ đáp lại nàng bằng câu "Không có gì."

Jessie lẳng lặng quay lại với mớ tôm hùm. Cô ném cho Bob những cái nhìn chất chứa nỗi hoài nghi đen tối nhất. Trước nay, anh chưa từng hành xử như thế này.

Khi bữa tối được dọn lên bàn, cô bày ra chai rượu Scotch quen thuộc cùng mấy chiếc ly. Nhưng Bob lại từ chối.

"Nói thật với em nhé, Jess," anh hắng giọng, "anh cai rượu rồi. Em cứ tự nhiên đi. Nếu em không phiền, anh chỉ uống một chút nước seltzer nguyên chất thôi."

"Anh bỏ rượu sao?" cô tròn mắt nhìn anh, nét mặt chẳng mảy may hé một nụ cười. "Để làm gì chứ?"

"Vì nó có mang lại ích lợi gì cho anh đâu," Bob đáp lời. "Em không tán thành ý định này à?"

Jessie nhướn mày và khẽ nhún một bên vai.

"Hoàn toàn tán thành," cô cất giọng cùng một nụ cười lạnh tanh như tượng tạc. "Em đâu thể vin vào lương tâm để khuyên một người đi uống rượu, hút thuốc, hay là thảnh thơi huýt sáo vào ngày Chủ nhật chứ."

Bữa ăn trôi qua gần như trong im lặng. Bob loay hoay tìm cách bắt chuyện, nhưng những nỗ lực ấy hoàn toàn thiếu vắng sự hứng khởi thường thấy ở các buổi tối trước đây. Anh cảm thấy khốn khổ vô cùng. Đôi ba lần, ánh mắt anh lại thèm thuồng liếc về phía chai rượu. Thế nhưng, mỗi lần như vậy, những lời lẽ sắc lẹm của cậu bạn nhậu lại văng vẳng bên tai, khiến anh mím chặt môi đầy quyết tâm.

Jessie cảm nhận sâu sắc sự thay đổi này. Dường như thứ hương vị cốt lõi trong cuộc sống của họ đã đột ngột biến mất. Cơn sốt bồn chồn, sự vui vẻ gượng gạo và cả nhịp sống ồn ào đến phi lý của giới Bohemia rởm đời mà họ vẫn hay đắm chìm vào, tất thảy đều tan biến chỉ trong chớp mắt bằng đúng thời gian bật một cái nút bần. Cô lén nhìn Bob với vẻ vừa tò mò vừa thương hại. Trông anh lúc này ủ rũ và mang vẻ mặt tội lỗi hệt như một gã vũ phu hay một tên bạo chúa trong gia đình vậy.

Sau bữa tối, người giúp việc da màu hàng ngày tới làm những công việc vặt đã dọn dẹp đồ đạc. Jessie, với khuôn mặt lạnh lùng không chút biểu cảm, mang chai Scotch, mấy chiếc ly cùng một bát đá đập vụn trở lại rồi lẳng lặng đặt lên bàn.

"Em có thể hỏi một câu không," giọng cô lạnh ngắt, "rằng cái cơn bốc đồng thánh thiện đột ngột này của anh có bao gồm cả em trong đó không? Nếu không, em sẽ tự pha cho mình một ly đây. Chẳng hiểu sao tối nay trời lại hơi lạnh."

"Ồ, thôi nào, Jess," Bob nói với điệu bộ xoa dịu, "đừng quá khắt khe với anh thế. Em cứ tự nhiên đi. Sẽ chẳng có nguy cơ nào khiến em phải quá chén đâu. Nhưng anh nghĩ với anh thì có đấy; và đó là lý do anh phải bỏ. Em cứ nhâm nhi phần của mình nhé, rồi chúng ta lấy cây đàn banjo ra tập bản hành khúc nhanh mới kia."

"Em nghe nói," Jessie cất lời, mang đậm giọng điệu của một nhà tiên tri, "rằng uống rượu một mình là một thói quen vô cùng độc hại. Chắc là thôi, em không nghĩ tối nay mình có hứng gảy đàn đâu. Nếu chúng ta đã quyết tâm cải tà quy chính, thì thà rằng dẹp luôn cả cái thói quen chơi banjo đó đi cho rồi."

Cô nhặt một cuốn sách lên rồi thả mình xuống chiếc ghế bập bênh bằng liễu gai bé xíu ở phía bên kia chiếc bàn. Trong suốt nửa giờ đồng hồ sau đó, không một ai thốt lên nửa lời.

Và rồi, Bob đặt tờ báo xuống, đứng dậy với một nét mặt lơ đãng, kỳ lạ. Anh bước ra sau ghế, choàng tay qua vai vợ, nắm lấy đôi bàn tay cô rồi kề sát mặt mình vào mặt cô.

Trong khoảnh khắc ấy, với Jessie, những bức tường phòng giăng đầy lưới đánh cá chợt tan biến; thay vào đó, cô lại thấy những ngọn đồi và dòng suối của Quận Sullivan. Cảm nhận được đôi bàn tay run rẩy của vợ nằm gọn trong tay mình, Bob cất giọng đọc vần thơ của lão Omar:

"Lại đây, rót đầy Ly, và trong Ngọn lửa Mùa xuân
Hãy ném đi Tấm áo Mùa đông của Sự ăn năn:
Con chim Thời gian chỉ còn một quãng đường ngắn
Để sải cánh bay-và Kìa! Nó đang Tung cánh!"

Đọc xong, anh rảo bước tới bàn, rót một ly Scotch thật đậm đặc.

Nhưng cũng chính trong giây phút ấy, chẳng biết từ đâu một cơn gió núi đã len lỏi vào, thổi tan lớp sương mù của cái giới Bohemia giả tạo.

Jessie chồm dậy, vung tay thật mạnh gạt phăng chai rượu cùng những chiếc ly rơi loảng xoảng xuống sàn nhà. Cũng chính vòng tay vừa hất đổ tất cả ấy lại ôm choàng lấy cổ Bob, siết thật chặt.

"Ôi, lạy Chúa, Bobbie-không phải câu thơ đó-giờ thì em đã hiểu rồi. Em đâu phải lúc nào cũng ngốc nghếch, phải không anh? Câu kia cơ, anh ơi-cái câu mà nói là: 'Nhào nặn lại nó theo Ước nguyện của Trái tim' ấy. Hãy nói câu đó đi-'theo Ước nguyện của Trái tim'."

"Anh nhớ đoạn đó," Bob cất lời. "Nó thế này:

"'Ôi! Tình yêu, giá như anh và em có thể cùng chung tay
Nắm trọn cái Bản phác thảo Đáng buồn này của Vạn vật
Liệu chúng ta có-'"

"Để em đọc nốt cho," Jessie xen vào.

"'Liệu chúng ta có đập vỡ nó ra thành từng mảnh-rồi sau đó
Nhào nặn lại cho gần hơn với Ước nguyện của Trái tim!'"

"Nó vỡ nát cả rồi còn đâu," Bob nói, gót giày nghiền lên một mảnh thủy tinh vỡ vụn.

Tít dưới một căn hầm nào đó, đôi tai thính như chồn của bà chủ nhà Pickens đã bắt trọn tiếng loảng xoảng.

"Lại là cậu Babbitt ngông cuồng say khướt mò về đấy," bà lầm bầm. "Thế mà cậu ta lại vớ được cô vợ nhỏ bé rõ là dễ thương chứ lị!"



  1. Tổ chức Phụ nữ Cơ Đốc giáo Đấu tranh vì Sự Điều độ (WCTU) ở Mỹ vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Các thành viên của hội này thường đeo dải ruy băng trắng làm biểu tượng để vận động chống lại việc tiêu thụ đồ uống có cồn. ↩

  2. Standard Oil là một tập đoàn sản xuất, vận chuyển, tinh chế và tiếp thị dầu mỏ độc quyền khổng lồ của Mỹ do John D. Rockefeller sáng lập. ↩

  3. Một hạt nằm ở tiểu bang New York, Mỹ. Nổi tiếng với cảnh quan thiên nhiên, đồi núi và là một địa điểm nghỉ mát mùa hè phổ biến cho người dân Thành phố New York. ↩

  4. Ám chỉ câu nói nổi tiếng được cho là của Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln: "Bạn có thể lừa tất cả mọi người trong một số lúc, và lừa một vài người trong mọi lúc, nhưng bạn không thể lừa tất cả mọi người trong mọi lúc." ↩

  5. Tác phẩm thơ nổi tiếng "Rubaiyat" của nhà toán học, thiên văn học và nhà thơ người Ba Tư Omar Khayyám. ↩

  6. Một thuật ngữ ẩm thực Pháp, có nghĩa là "theo kiểu Bordeaux". Thường dùng để chỉ các món ăn nấu với nước sốt làm từ rượu vang đỏ (đặc biệt là rượu Bordeaux), tủy xương, bơ và hẹ tây. ↩

  7. Chỉ Omar Khayyám, tác giả tập thơ Rubaiyat. Tên "Khayyám" trong tiếng Ba Tư có nghĩa là "người làm lều", vốn là nghề nghiệp truyền thống của gia đình ông. ↩

  8. Một thuật ngữ nhà hàng tiếng Pháp, nghĩa là "bàn của chủ nhà". Chỉ một bữa ăn có thực đơn cố định với nhiều món được phục vụ ở một mức giá trọn gói không đổi. ↩

  9. Lối sống Bohemia chỉ cách sống tự do, phóng túng, không tuân theo các quy tắc xã hội thông thường, thường thấy ở giới nghệ sĩ, nhà văn và những người trí thức. ↩

  10. Một liên hệ châm biếm đến "Đạo luật Thực phẩm và Thuốc tinh khiết" (Pure Food and Drug Act) của Mỹ được thông qua đầu thế kỷ 20, trong đó kiểm tra và cấm các chất bảo quản độc hại như hàn the (borax) và phóc-môn (formaldehyde) trong thực phẩm. ↩

  11. Một loại rượu vang đỏ nổi tiếng của Ý, được sản xuất tại vùng Chianti thuộc trung tâm xứ Tuscany. ↩

  12. Một điệu nhảy dân gian Pháp với nhịp độ nhanh và vui nhộn, phổ biến vào thế kỷ 17 và 18. ↩

  13. Tôm hùm Newburg là một món hải sản sang trọng của Mỹ, được làm từ thịt tôm hùm bơ, kem, rượu cognac, sherry, trứng và một chút ớt. ↩