THEO LÝ TƯỞNG CỦA HỌ

Đâu đó dưới tầng đáy của chốn thị thành rộng lớn này, nơi đám cặn bã nhốn nháo luôn bị xáo trộn vào nhau, chàng thanh niên Murray và ngài Đại úy đã tình cờ hội ngộ và kết giao bằng hữu. Cả hai đều đang chạm đến tận cùng của đáy sâu số phận; đều từng rơi rụng từ một cõi Thiên đường bậc trung nào đó, nơi họ đã sống đời đoan chính và đầy vẻ vang. Hơn thế, cả hai đều là những sản phẩm tiêu biểu nhào nặn từ thứ chương trình giáo dục xã hội quái đản và kệch cỡm của cái chốn đô thành vốn kiêu kỳ, ngạo mạn này.

Đại úy giờ chẳng còn mang hàm đại úy nữa. Một trong những cơn đại hồng thủy đạo đức thỉnh thoảng vẫn quét qua thành phố đã quật ngã ông khỏi chiếc ghế béo bở đầy quyền uy ở Sở Cảnh sát, tước sạch sành sanh từ tấm huy hiệu cho đến từng chiếc cúc áo. Nó cuốn phăng tuốt tuột những khối bất động sản vững chãi mà ông đã tằn tiện chắt bóp mới có được, quẳng tất cả vào tay đám luật sư. Cơn lũ rút đi, bỏ lại ông trơ trọi, nhẵn túi. Một tháng sau khi bị tước quyền, một gã chủ quán rượu đã túm cổ áo ông lôi tuột khỏi quầy đồ ăn miễn phí, hệt như một con mèo mướp quắp lấy con mèo con đi lạc ném ra khỏi ổ, rồi quẳng ông chúi nhủi xuống mặt đường nhựa. Tình cảnh ấy tưởng chừng đã đủ thê thảm lắm rồi. Thế nhưng sau đó, ông lại tậu hẳn một đôi giày gaiter cài khuy bằng vải chéo, rồi cặm cụi viết những lá thư phàn nàn gửi báo chí. Sau đó, ông còn gây gổ với người gác cổng tại Trạm cư trú cho người vô gia cư của Thành phố chỉ vì anh ta cố bắt ông đi tắm. Lần đầu tiên Murray nhìn thấy ông, ông đang nắm lấy tay một người đàn bà Ý bán táo và tỏi trên phố Essex, miệng ngâm nga những ca từ trong một cuốn sách bài hát.

Cú ngã của Murray thì mang dáng dấp của quỷ Lucifer1 hơn, dù chẳng rùm beng bằng. Cậu từng sở hữu mọi món đồ trang sức nhỏ bé, kiêu kỳ của chốn Gotham2 này. Gã đàn ông cầm loa phóng thanh trên chiếc xe buýt tham quan còn phải gầm lên để thu hút sự chú ý của bạn vào dinh thự nhà chú cậu, tọa lạc trên một đại lộ rực rỡ và danh giá. Nhưng rồi một trận cãi vã ầm ĩ về chuyện gì đó đã nổ ra, và vị hoàng tử trẻ bị gã quản gia áp giải ra tận cửa - một hành động mà, ở cái đại lộ danh giá kể trên, uy lực cũng chẳng kém gì cú đá đít từ ông chú. Trở thành một chàng Hoàng tử Hal3 yếu ớt, chẳng có quyền thừa kế cũng chẳng có gươm giáo phòng thân, cậu trôi dạt xuống tận đáy xã hội để tao ngộ với gã Falstaff4 kém khiếu hài hước của đời mình, và cùng ông nhặt nhạnh từng mẩu bánh mì vụn vương vãi trên hè phố.

Một buổi tối, họ ngồi trên một băng ghế trong khu công viên nhỏ ở trung tâm thành phố. Thân hình đồ sộ của Đại úy, dường như lại càng phình ra vì nạn đói khát-một nghịch lý trớ trêu luôn chuốc lấy những lời mỉa mai thay vì lòng trắc ẩn mỗi khi ông ngửa tay xin giúp đỡ-đổ phịch xuống tay vịn ghế thành một khối lùng nhùng vô định hình. Khuôn mặt đỏ gay, điểm xuyết những chùm râu lởm chởm rực màu hung đỏ đã mọc bám rễ suốt cả tuần, đầu lại còn đội thêm chiếc mũ rơm trắng bạc phếch xệ hẳn xuống. Trong bóng tối, trông ông chẳng khác nào một khối hình kỳ dị mà thi thoảng bạn vô tình thấy sau cửa kính mờ mịt trên Đại lộ Số Ba, thách thức trí tưởng tượng của bạn phải căng ra để phán đoán xem đó là kiểu mũ phụ nữ đời mới hay là một chiếc bánh dâu tây. Chiếc thắt lưng thít chặt-chút tàn dư cuối cùng của sự chải chuốt thời còn làm quan-tạo thành một rãnh sâu hoắm chia đôi cái bụng phệ của ông. Đôi giày của Đại úy đã rụng sạch cúc. Bằng cái giọng ồm ồm nghèn nghẹt, ông rủa xả ngôi sao chiếu mệnh xui xẻo của mình.

Murray, ở bên cạnh ông, co rúm người lại trong bộ đồ vải serge màu xanh đã xỉn màu và sờn rách. Cậu kéo sụp vành mũ xuống; ngồi im lìm, nhạt nhòa, hệt như một bóng ma vất vưởng vừa bị tước đoạt mất chốn nương thân.

"Tôi đói," Đại úy gầm gừ-"Thề có miếng thịt thăn của con Bò tót xứ Bashan5, tôi đang chết đói đây. Ngay lúc này tôi có thể ngấu nghiến cả một cái nhà hàng ở Bowery, ăn sạch cho đến tận cái ống khói trong hẻm. Cậu không nghĩ ra được diệu kế nào sao, Murray? Cậu cứ ngồi đó so vai rụt cổ, làm bộ y hệt ngài Reginald Vanderbilt6 đang chễm chệ lái cỗ xe ngựa hào nhoáng-nhưng cái vẻ ta đây chết tiệt ấy giờ có ích gì cho cậu cơ chứ? Nghĩ xem có chỗ nào để chúng ta kiếm được chút gì nhét vào dạ dày đi."

"Ông quên mất rồi, Đại úy thân mến của tôi," Murray đáp lời mà người không hề nhúc nhích, "rằng lần trước chúng ta đi tìm chỗ ăn là do tôi đề xuất."

"Chắc chắn là vậy rồi," Đại úy rên rỉ, "cậu cứ tin chắc là vậy đi. Cậu còn ý tưởng nào thiên tài cỡ đó nữa không-hả?"

"Tôi thừa nhận chúng ta đã trắng tay," Murray thở dài. "Tôi những tưởng Malone sẽ cho thêm một bữa trưa miễn phí, sau cái cách ông ta bàn luận về bóng chày với tôi vào lần cuối cùng tôi tiêu một đồng xu ở quán của ông ta."

"Tôi đã vươn bàn tay này," Đại úy nói, chìa cái bộ phận kém may mắn ra-"Tôi đã vươn bàn tay này chộp lấy cái đùi của một con gà tây và hai chiếc bánh mì kẹp cá mòi thì đám bồi bàn đó tóm cổ chúng ta."

"Tôi chỉ còn cách mấy quả ô liu đúng hai inch," Murray tiếc rẻ. "Ô liu nhồi cơ đấy. Cả năm trời nay tôi chưa được nếm thử mùi vị của quả nào."

"Chúng ta phải làm sao đây?" Đại úy làu bàu. "Chúng ta không thể chết đói được."

"Không thể sao?" Murray nói khẽ. "Tôi rất vui khi nghe ông nói vậy. Tôi thì đang e là chúng ta có thể chết đói đấy."

"Cậu cứ đợi ở đây," Đại úy nói, chật vật đứng dậy một cách khó nhọc. "Tôi sẽ đi thử vận may lần nữa. Cậu ở yên đây chờ đến khi tôi quay lại nhé, Murray. Tôi đi không quá nửa tiếng đâu. Nếu trúng quả này, tôi sẽ về với rủng rỉnh tiền bạc."

Ông vất vả làm vài động tác vụng về hệt như một con voi đang cố chải chuốt lại vẻ ngoài của mình cho bảnh bao hơn. Ông đưa tay vuốt ngược bộ ria mép bốc lửa của mình cong vút lên trời; lôi ra một cặp măng sét viền đen, và làm hằn sâu thêm cái nếp gấp giữa bụng bằng cách thít chặt thắt lưng thêm một nấc, rồi cất bước lên đường. Ông lạch bạch vênh váo như một con tê giác bị nhốt trong sở thú, lê bước băng qua đầu phía nam của khu công viên.

Khi bóng vị Đại úy khuất hẳn, Murray cũng rời khỏi công viên, rảo bước vội vã về hướng đông. Cậu dừng chân trước một tòa nhà có hai ngọn đèn xanh lục thắp sáng hai bên bậc thềm.

"Một đại úy cảnh sát tên Maroney," cậu cất lời với viên trung sĩ trực ban, "đã bị đuổi khỏi ngành sau khi hầu tòa với các cáo buộc từ ba năm trước. Tôi tin rằng bản án ấy đã được treo. Xin hỏi hiện tại người đàn ông này có bị cảnh sát truy nã không?"

"Anh hỏi để làm gì?" viên trung sĩ cau mày.

"Tôi nghĩ hẳn sẽ có một khoản tiền thưởng," Murray nhẹ tênh giải thích. "Tôi rành người đàn ông đó lắm. Hiện giờ có vẻ như ông ta đang trốn chui trốn nhủi. Tôi có thể tóm cổ ông ta bất cứ lúc nào. Nếu có tiền thưởng-"

"Chẳng có khoản thưởng nào ráo," viên trung sĩ cộc lốc ngắt ngang. "Người đàn ông đó không bị truy nã. Cả anh cũng vậy. Thế nên, cút đi. Anh làm bạn với người ta, rồi bây giờ anh định bán đứng người ta. Biến ra ngoài mau lên, không thì tôi cho anh một trận nhừ tử bây giờ."

Murray nhìn viên cảnh sát với dáng vẻ trang nghiêm, thanh thản và đầy đạo mạo.

"Tôi sẽ chỉ đơn thuần làm trọn nghĩa vụ của một công dân và một quý ông," cậu nghiêm giọng nói, "nếu tôi có thể hỗ trợ pháp luật tóm gọn một kẻ vi phạm."

Murray hối hả quay lại băng ghế trong công viên. Cậu khoanh tay trước ngực và co rúm người lại trong bộ quần áo mang dáng dấp của một bóng ma.

Mười phút sau, Đại úy tới chỗ hẹn, ồn ào và gầm thét như một trận cuồng phong mùa hè ở Kansas. Cổ áo ông bị xé toạc; chiếc mũ rơm méo mó bẹp rúm; chiếc áo sơ mi sọc màu đỏ thẫm rách toạc đến tận eo. Từ đầu xuống đầu gối, ông ướt sũng thứ chất lỏng nhớp nháp bốc mùi hôi thối, sặc sụa mùi tỏi lên men và rác rưởi nhà bếp.

"Vì Chúa, Đại úy," Murray khịt mũi, "tôi e rằng mình đã không đứng đợi nếu biết ông tuyệt vọng tới mức phải chúi đầu vào thùng nước gạo. Tôi..."

"Thôi đi," Đại úy gắt gỏng. "Tôi chưa đến mức ăn tạp đâu. Tất cả chỉ dính bên ngoài thôi. Tôi vừa đến phố Essex và cầu hôn Catrina, cô nàng có cửa tiệm trái cây ở đó. Chà, cửa hàng ấy có thể mở rộng làm ăn được đấy. Cô ả đúng là một mỹ nhân nếu tính theo chuẩn Ý. Tuần trước, tôi cứ đinh ninh mình đã tán đổ nàng rồi cơ. Thế mà nhìn xem cô ả làm gì tôi này! Có lẽ tôi đã quá sỗ sàng. Chà, lại thêm một mánh nữa hỏng bét."

"Đừng nói với tôi là," Murray nhìn ông với vẻ khinh bỉ tột độ, "ông định kết hôn với người phụ nữ đó chỉ để tự cứu mình khỏi hoàn cảnh đáng hổ thẹn này đấy nhé!"

"Tôi á?" Đại úy đáp. "Tôi sẵn sàng cưới Hoàng hậu Trung Hoa chỉ đổi lấy một bát chop suey. Tôi sẽ giết người vì một đĩa bò hầm. Tôi sẽ giật luôn chiếc bánh quy từ tay một đứa trẻ lang thang. Tôi sẵn lòng theo đạo Mormon chỉ để có một bát súp nghêu."

"Tôi nghĩ," Murray nói, tựa đầu lên hai tay, "rằng tôi sẽ hóa thành Judas7 chỉ với giá một ly rượu whisky. Vì ba mươi đồng bạc8, tôi sẽ..."

"Ồ, thôi nào!" Đại úy thốt lên kinh ngạc. "Cậu sẽ không làm thế đâu, Murray! Tôi vẫn luôn cho rằng việc thằng Kike chỉ điểm ông chủ mình là trò đê tiện nhất trần đời. Một kẻ bán đứng bạn bè còn tồi tệ hơn cả quân cướp biển."

Băng qua công viên, một gã đàn ông bệ vệ sải bước tới, soi mói từng chiếc băng ghế nằm dưới luồng ánh sáng đèn điện.

- Là anh đấy à, Mac? - gã lên tiếng, khựng lại trước hai kẻ bần cùng. Chiếc đinh ghim cà vạt bằng kim cương của gã chói lóa. Dây đồng hồ cũng nạm kim cương, càng điểm xuyết thêm cho cái vẻ bóng lộn ấy. Gã to con, mày râu nhẵn nhụi, nom rõ là một kẻ no cơm ấm cật. - Vâng, tôi thấy đúng là anh rồi, - gã tiếp lời. - Bọn ở quán Mike bảo tôi có thể tìm thấy anh quanh đây. Qua đây nói chuyện vài phút nào, Mac.

Đại úy rướn mình nhổm dậy, cất tiếng càu nhàu vẻ sốt sắng. Nếu Charlie Finnegan đã cất công mò xuống tận cái đáy bần cùng này để tìm ông, ắt hẳn phải có chuyện chẳng lành. Charlie khoác tay dẫn ông vào một góc khuất chìm trong bóng tối.

- Anh biết đấy, Mac, - gã mở lời, - người ta đang lôi Thanh tra Pickering ra xét xử vì tội tham nhũng.

- Ông ấy từng là thanh tra của tôi, - Đại úy cất giọng.

- O'Shea đang dòm ngó cái ghế đó, - Finnegan tiếp tục. - Anh ta phải lấy được nó. Đây là vì lợi ích chung của tổ chức. Pickering phải bị phế truất. Lời khai của anh sẽ ấn định chuyện này. Ông ta chính là 'người chống lưng' cho anh hồi anh còn làm trong lực lượng. Tiền đút lót của ông ta đã từng chảy qua tay anh. Anh phải ra hầu tòa và làm chứng chống lại ông ta.

- Ông ấy đã... - Đại úy ngập ngừng.

- Khoan đã, - Finnegan ngắt lời. Một xấp tiền ánh lên sắc vàng được gã móc ra từ túi áo trong. - Năm trăm đô cho anh. Hai trăm rưỡi trao tay ngay tắp lự, và phần còn lại...

- Tôi đã nói ông ấy là bạn của tôi! - Đại úy nói dứt câu. - Tôi thà nhìn thấy anh, cái băng đảng của anh, cái thành phố lẫn bè phái này chìm trong ngọn lửa địa ngục còn hơn là phải đứng ra làm chứng chống lại Dan Pickering. Tôi có thể đang mạt vận, nhưng tôi không phải kẻ phản bội lại người từng là bạn mình - Giọng Đại úy vang lên, vỡ toác như âm thanh của một chiếc kèn trombone bị nứt. - Cút khỏi cái công viên này ngay, Charlie Finnegan, nơi mà lũ trộm cắp, rác rưởi lang thang và bợm nhậu bọn tôi còn tử tế chán so với loại người như anh. Cút đi và mang theo cả mấy đồng tiền dơ bẩn của anh nữa!

Finnegan rảo bước theo một lối đi khác. Đại úy quay lại chỗ ngồi của mình.

- Tôi vô tình nghe được cả rồi, - Murray lên tiếng bằng một giọng ảm đạm. - Tôi nghĩ ông là gã ngốc nhất mà tôi từng thấy trên đời.

- Thế nếu là cậu, cậu sẽ làm gì? - Đại úy hỏi.

- Đóng đinh lão Pickering lên cây thánh giá, - Murray đáp ráo hoảnh.

- Này chàng trai, - Đại úy cất giọng khàn khàn nhưng không hề hờn giận. - Cậu và tôi khác nhau. New York được chia làm hai nửa - phía trên con phố Bốn Mươi Hai và phía dưới phố Mười Bốn9. Cậu đến từ phần bên kia. Chẳng qua cả hai chúng ta đều đang hành xử theo đúng những lý tưởng của riêng mình mà thôi.

Một tháp đồng hồ rực sáng xuyên qua tán cây báo hiệu mười một giờ rưỡi đêm. Cả hai người đàn ông cùng đứng dậy khỏi băng ghế, sải bước bên nhau như thể bị dẫn dắt bởi chung một ý niệm. Họ băng qua công viên, đi dọc theo một con phố ngang chật hẹp rồi đổ ra đại lộ Broadway. Giờ này, con đường chìm trong bóng tối, im lìm và hoang vắng hệt như một ngõ nhỏ ở tàn tích Pompeii10.

Rẽ sang hướng bắc, họ lọt vào tầm mắt của một viên tuần cảnh. Dẫu dáng vẻ lôi thôi và lấm lét của họ dễ bề khơi dậy sự tò mò và ngờ vực vào bất cứ lúc nào hay ở nơi đâu khác, viên cảnh sát bỗng chốc kiềm lại sự chú ý. Bởi lẽ, trên khắp nẻo đường quanh khu vực này của thành phố, những nhân ảnh rách rưới, lén lút khác cũng đang hối hả lê bước về cùng một tụ điểm-nơi chẳng có đài tưởng niệm nào đánh dấu ngoại trừ mặt vỉa hè nhẵn thín, mòn vẹt bởi hàng chục nghìn gót giày chờ đợi.

Đến đoạn giao với phố Số Chín, một gã đàn ông cao lớn đội mũ dạ bước xuống từ chiếc xe điện Broadway, quay mặt đi về hướng tây. Bất chợt, gã bắt gặp Murray, bèn lao đến chộp lấy cánh tay cậu và lôi tuột tới dưới ánh đèn đường. Đại úy lạch bạch lết ra góc phố, nom như một con gấu lụ khụ mang thương tích, vừa chờ đợi vừa gầm gừ cáu bẳn.

"Jerry!" gã đội mũ kêu lên. "May mắn thật đấy! Tôi định sáng mai sẽ bắt đầu bổ đi tìm cậu. Ông cụ chịu thua rồi. Cậu sắp lấy lại được ân sủng đây. Xin chúc mừng nhé. Cứ ghé qua văn phòng vào sáng mai và rút bao nhiêu tiền tùy thích. Tôi đã nhận được những chỉ thị hết sức hào phóng về khoản đó rồi."

"Thế còn cái thỏa thuận hôn nhân bé cỏn con đó thì sao?" Murray uể oải hỏi, đầu ngoảnh sang một bên.

"Chà-ờ-chà, tất nhiên rồi, chú của cậu cũng ngầm hiểu-hay đúng hơn là kỳ vọng rằng lễ đính hôn giữa cậu và cô Vanderhurst sẽ-"

"Chúc ngủ ngon," Murray khẽ gạt đi, toan cất bước.

"Cậu mất trí rồi!" gã kia kêu lên, cuống cuồng tóm lấy cánh tay cậu. "Cậu định ném toẹt hai triệu đô la qua cửa sổ chỉ vì-"

"Anh đã nhìn kỹ cái mũi của cô ta bao giờ chưa, ông bạn?" Murray hỏi với vẻ trịnh trọng.

"Nhưng lý trí chút đi nào, Jerry. Cô Vanderhurst là một nữ thừa kế giàu sụ, và-"

"Anh đã thấy cái mũi đó bao giờ chưa?"

"Có, tôi thừa nhận là mũi của cô ấy trông chẳng-"

"Chúc ngủ ngon!" Murray ngắt lời. "Bạn tôi đang đứng đợi. Tôi xin mượn lại lời của ông ấy mà ủy quyền cho anh về bẩm báo lại rằng: 'không có chuyện đó đâu'. Chúc ngủ ngon."

Một hàng người chờ đợi rồng rắn trải dài từ một cánh cửa trên phố Mười ra tít ngoài Broadway, bám sát mép vỉa hè. Đại úy và Murray nhập vào đuôi của con rết khổng lồ đang không ngừng cựa quậy ấy.

"Dài hơn đêm qua tận hai mươi feet," Murray lên tiếng, ngước nhìn mặt đồng hồ tháp Nhà thờ Grace.

"Phải nửa tiếng nữa," Đại úy càu nhàu, "mới đến lượt chúng ta nhận phần bánh mì của mình."

Đồng hồ thành phố bắt đầu khua vang mười hai tiếng; hàng người nhận bánh mì từ từ nhích lên phía trước, tiếng những đôi giày da lê trên mặt đá lát nghe như tiếng rắn rít, khi những kẻ đã sống theo lý tưởng của mình khép chặt hàng ngũ ở phía sau.



  1. Trong thần thoại Công giáo, Lucifer vốn là một thiên thần quyền năng trên thiên đàng nhưng vì kiêu ngạo nên đã bị Thượng đế trừng phạt và đày xuống địa ngục. ↩

  2. Tên gọi thân mật của thành phố New York, được nhà văn Washington Irving sử dụng lần đầu vào năm 1807 để châm biếm. Ngày nay, cái tên này thường được độc giả biết đến nhiều nhất qua truyện tranh Người Dơi (Batman). ↩

  3. Nhân vật trong vở kịch của William Shakespeare (sau này là Vua Henry V của nước Anh). Khi còn trẻ, Hoàng tử Hal nổi tiếng với lối sống phóng túng, thường la cà tụ tập với tầng lớp dưới đáy xã hội. ↩

  4. Nhân vật hiệp sĩ mập mạp, tham ăn, khoác lác và thích đàn đúm cùng Hoàng tử Hal trong kịch Shakespeare. ↩

  5. Điển tích từ Kinh Thánh. Bashan là một vùng đất màu mỡ nổi tiếng với những đàn gia súc to lớn, khỏe mạnh. ↩

  6. Thành viên của gia tộc Vanderbilt - một trong những gia tộc giàu có và quyền lực nhất nước Mỹ thời bấy giờ, nổi tiếng với lối sống xa hoa và đam mê môn thể thao đua ngựa. ↩

  7. Một trong mười hai tông đồ của Chúa Jesus. Theo Kinh Thánh, Judas đã phản bội và bán đứng Chúa cho giới cầm quyền để lấy ba mươi đồng bạc. ↩

  8. Cái giá mà Judas đã nhận để chỉ điểm Chúa Jesus. Cụm từ này ám chỉ cái giá rẻ mạt của sự phản bội. ↩

  9. Ám chỉ sự phân hóa giai cấp rõ rệt ở New York đầu thế kỷ 20. "Phía trên phố 42" (Uptown) là khu vực của giới thượng lưu, giàu có, trong khi "phía dưới phố 14" (Downtown) là khu ổ chuột, nghèo khó của tầng lớp lao động và những người vô gia cư. ↩

  10. Thành phố cổ của Đế quốc La Mã, bị chôn vùi hoàn toàn dưới lớp tro bụi sau vụ phun trào của núi lửa Vesuvius vào năm 79 sau Công nguyên. ↩