ELSIE Ở NEW YORK

Không đâu, thưa quý độc giả thích suy diễn, câu chuyện này chẳng phải phần tiếp nối của chuỗi truyện về nàng Elsie nọ. Thế nhưng, giá như nàng Elsie của bạn từng sống ở chốn phồn hoa đô hội này của chúng ta, thì hẳn trong những cuốn sách về nàng cũng sẽ có một chương chẳng khác chuyện này là bao.

Riêng với những bước chân thanh xuân lang bạt, phố xá Manhattan lúc nào cũng giăng sẵn "những cạm bẫy và tròng lọng." Dẫu vậy, những bậc giám hộ dân sự bảo vệ giới trẻ nay đã nắm rõ những cạm bẫy của kẻ xấu. Hầu hết các nẻo đường hiểm hóc đều có nhân viên của họ ngày đêm tuần tiễu, những người luôn tìm cách kéo những kẻ đi lạc ra khỏi mối nguy hiểm đang rình rập. Và câu chuyện này sẽ kể bạn nghe cái cách họ dẫn dắt nàng Elsie của tôi an toàn vượt qua mọi hiểm nguy để tới được cái đích mà nàng hằng tìm kiếm.

Cha của Elsie vốn là thợ cắt may tại cửa hiệu áo choàng và đồ lông thú Fox & Otter đoạn cuối đại lộ Broadway. Ông là một cụ già bước đi chậm chạp và khập khiễng. Thế nên, vào một ngày nọ, giữa lúc phố phường chẳng bói ra nổi một con mồi nào lanh lẹ hơn, một gã tài xế mới học lái đã đâm sầm vào ông. Người ta đưa ông lão về nhà. Ông nằm trên giường cả năm trời rồi qua đời, để lại hai đô la rưỡi tiền mặt cùng một bức thư từ ngài Otter, trong đó hứa sẽ làm mọi thứ có thể để giúp đỡ người nhân viên già tận tụy. Lão thợ may xem bức thư ấy như một món di sản vô giá dành cho con gái, và ông đầy tự hào trao nó vào tay cô ngay khi lưỡi kéo của vị Thợ Giặt và Thợ Sửa1 đáng sợ cắt đứt sợi chỉ sinh mệnh của mình.

Và đó cũng là tín hiệu để gã chủ nhà lên sàn; hắn xuất hiện và diễn xuất sắc vai của mình trong một màn kịch đuổi nhà đậm chất sử thi. Mặc dù chẳng có trận bão tuyết nào được dàn cảnh sẵn để Elsie quấn chiếc khăn choàng len nhỏ màu đỏ quanh vai mà lén bước ra ngoài, nhưng cô vẫn rời đi, thây kệ mọi quy tắc của nghệ thuật sân khấu. Còn về phần chiếc khăn choàng đỏ ấy ư-hãy quăng nó trả lại cho Blaney2 đi! Chiếc áo khoác mùa thu màu rám nắng của Elsie tuy rẻ tiền, nhưng lại có kiểu dáng và đường nét chuẩn chỉnh chẳng kém cạnh món hàng hiệu nào ở tiệm Fox & Otter. Những vì sao may mắn còn hào phóng ban cho cô một nhan sắc kiều diễm, đôi mắt xanh biếc và trong veo như màu giấy viết thư mới nguyên. Trong tay cô lúc này chỉ còn lại đúng một đô la trích từ khoản gia tài hai đô la rưỡi nọ. Cùng với bức thư của ngài Otter. Hãy để mắt thật kỹ đến lá thư của ngài Otter nhé. Nó chính là đầu mối đấy. Tôi muốn mọi thứ phải được phơi bày tường tận khi chúng ta cùng đi tiếp. Tiểu thuyết trinh thám thời nay nhan nhản đến độ chẳng ma nào thèm rớ tới nữa rồi.

Và thế là chúng ta thấy nàng Elsie, với một hành trang như thế, mạnh dạn bước ra ngoài thế giới để kiếm tìm vận may. Vướng mắc duy nhất của bức thư từ ngài Otter là nó không hề ghi địa chỉ mới của công ty, vốn dĩ đã dời đi từ khoảng một tháng trước. Thế nhưng Elsie đinh ninh mình có thể lần ra được. Cô từng nghe phong thanh rằng bọn cảnh sát, hễ được hỏi han tử tế, hay bị mấy tay bên ủy ban điều tra dồn ép, đều sẽ nhả ra thông tin và địa chỉ. Do đó, cô leo lên chuyến tàu điện hướng về trung tâm ngay tại phố Một trăm bảy mươi bảy và xuôi về phía nam để tới phố Bốn mươi hai, nơi mà cô đinh ninh chắc mẩm hẳn phải là cái mỏm tận cùng của hòn đảo. Tới nơi, cô đứng tựa lưng vào tường trong bộ dạng ngập ngừng. Cảnh phố xá ồn ào và xô bồ quả thực vẫn còn quá đỗi xa lạ với cô. Bởi lẽ, cái nơi cô từng sống lại là một vùng nông thôn New York hẻo lánh, xa xôi đến mức những người giao sữa thường đánh thức người ta vào mỗi sáng sớm bằng tiếng cót két của tay bơm nước chứ chẳng phải bằng tiếng lanh canh của những chiếc can thiếc.

Một chàng trai trẻ có gương mặt hiền lành, sạm nắng, đội chiếc mũ phớt vành mềm, rảo bước ngang qua chỗ Elsie để đi vào Ga Trung tâm Grand. Đó là Hank Ross, đến từ Trang trại Hướng Dương ở tít Idaho, đang trên đường về nhà sau chuyến chu du miền Đông. Lòng Hank nặng trĩu, bởi Trang trại Hướng Dương quả là một chốn hiu quạnh khi thiếu vắng bóng dáng đàn bà. Anh vốn kỳ vọng sẽ tìm được một người bạn đời trong chuyến đi này, một người đồng điệu để san sẻ sự sung túc và tổ ấm, ngặt nỗi mấy cô nương chốn Gotham phù hoa này chẳng ai lọt vào mắt xanh của anh. Thế nhưng, ngay lúc lướt qua, trái tim anh bỗng đập rộn lên khi bắt gặp khuôn mặt ngọt ngào, ngây thơ của Elsie cùng dáng vẻ hoang mang, cô độc của cô. Bằng bản năng chân thật và chất phác của gã trai miền Tây, anh tự nhủ đây chính là một nửa đời mình. Anh thừa biết mình có thể yêu cô; và anh sẽ mang đến cho cô thật nhiều sự tiện nghi, chăm sóc cô thật cẩn thận để cô luôn hạnh phúc, và làm cho hai đóa hướng dương mọc lên trên trang trại nơi trước nay vốn chỉ có một.

Hank quay gót, bước về phía cô. Vững tin vào mục đích đoan chính chưa từng gợn chút vẩn đục của mình, anh tiến lại gần cô gái và nhã nhặn cất chiếc mũ phớt. Elsie mới chỉ kịp lướt nhìn gương mặt điển trai, cương trực của anh bằng ánh mắt rụt rè đan xen chút ngưỡng mộ e ấp, thì đùng một cái, một gã cớm to con lao xồ vào chàng trai nông phu, túm chặt cổ áo anh rồi dúi mạnh vào tường. Cách đó đúng hai dãy nhà, một tên trộm đang ung dung bước ra khỏi khu chung cư với cả túi đồ bạc lủng lẳng trên vai; nhưng sá gì cái chuyện vụn vặt ấy.

"Giở trò tán gái ngay trước mũi tôi đấy hả?" gã cớm rống lên. "Tôi sẽ dạy cho anh biết thế nào là dám buông lời chòng ghẹo các quý cô trên khu vực tôi đi tuần mà chẳng hề quen biết. Đi theo tôi!"

Elsie khẽ buông tiếng thở dài, ngoảnh mặt đi khi chàng trai trang trại bị lôi sềnh sệch đi mất. Cô thực tình khá thích sự tương phản thú vị giữa đôi mắt xanh lơ và làn da sạm nắng của anh. Cô rảo bước về hướng nam, đinh ninh rằng mình đã đặt chân đến đúng khu vực cha cô từng làm việc, lòng khấp khởi hy vọng sẽ có ai đó chỉ đường cho mình đến công ty Fox & Otter.

Cơ mà, cô có thực sự muốn tìm gặp ông Otter không nhỉ? Cô vốn thừa hưởng phần lớn cái tính tự lập kiên cường của người thợ may già. Sẽ tuyệt biết bao nếu cô có thể tự mình kiếm được một công việc và tự nuôi sống bản thân mà chẳng phải muối mặt cậy nhờ ông ta giúp đỡ!

Elsie nom thấy một tấm biển đề "Văn phòng Việc làm" bèn rụt rè cất bước vào trong. Hàng tá các cô gái đang ngồi xếp hàng trên những chiếc ghế kê dọc theo tường, trong khi đó, dăm ba quý bà vận đồ sang trọng lướt mắt dò xét họ từ đầu tới chân. Bất chợt, một bà lão tóc bạc phơ với khuôn mặt phúc hậu, khoác bộ váy lụa đen kêu sột soạt, tất tả rảo bước tiến về phía Elsie.

"Cháu yêu," bà cất lời, giọng ngọt ngào và êm ái hết đỗi, "cháu đang kiếm việc làm phải không? Tôi ưng cái khuôn mặt và dáng vẻ của cháu lắm. Tôi đang cần một thiếu nữ vừa đỡ đần việc nhà vừa làm bạn thủ thỉ tâm tình. Cháu sẽ có một chỗ nương thân tươm tất, và tôi sẽ trả cháu ba mươi đô la một tháng."

Nhưng, ngay trước khi Elsie kịp luống cuống thốt lên lời ưng thuận đầy hàm ơn, một người phụ nữ trẻ-cặp kính gọng vàng chễm chệ trên chiếc mũi gầy guộc, hai tay thì thọc sâu vào túi áo khoác-đã chộp lấy tay cô lôi tuột sang một bên.

"Tôi là Cô Ticklebaum," cô ta dõng dạc tuyên bố, "thuộc Hiệp hội Ngăn chặn Những công việc Bị áp đặt lên Các nữ công nhân Đang tìm việc. Tuần trước, hội chúng tôi vừa mới thành công ngăn cản bốn mươi bảy cô gái nhận việc đấy. Tôi có mặt ở đây là để bảo vệ cô. Hãy cẩn trọng với bất cứ kẻ nào chào mời cô làm việc. Làm sao cô biết chắc cái bà kia không rắp tâm tống cô xuống mỏ làm thợ đập than, hay thủ tiêu cô chỉ để vặt mấy cái răng chứ? Nếu cô gật đầu nhận bất kỳ công việc nào mà chưa qua tay hiệp hội chúng tôi phê chuẩn, cô sẽ bị một trong các đặc vụ của chúng tôi tóm cổ ngay lập tức."

"Nhưng tôi phải làm sao đây?" Elsie hỏi. "Tôi không nhà cửa, cũng chẳng có tiền. Tôi phải làm cái gì đó để sống chứ. Cớ sao tôi lại không được quyền nhận hảo ý từ quý bà tốt bụng kia?"

"Tôi chịu thôi," Cô Ticklebaum nhún vai. "Đó là phần việc của Ủy ban Xóa bỏ Giới chủ của chúng tôi cơ. Bổn phận của tôi chỉ giản đơn là túc trực ở đây để đảm bảo cô không nhận được việc. Cô hãy khai tên tuổi, địa chỉ cho tôi, rồi đều đặn thứ Năm hàng tuần đến trình diện thư ký của hội. Chúng tôi đang có sẵn sáu trăm cô gái chực chờ trong danh sách, những người sau này rồi sẽ được cấp phép đi làm một khi có chỗ trống trong danh sách Các Nhà tuyển dụng Đủ tiêu chuẩn của hội, hiện chỉ đếm được lèo tèo hai mươi bảy cái tên. À, chúng tôi có tổ chức cầu nguyện, đàn hát và phục vụ nước chanh tại nhà nguyện vào Chủ nhật tuần thứ ba mỗi tháng nữa đấy."

Elsie cuống cuồng cất bước rời đi, không quên thả lại một lời cảm ơn Cô Ticklebaum vì những lời khuyên răn và cảnh báo quá đỗi kịp thời. Rốt cuộc thì, xem chừng cô chẳng còn cách nào khác ngoài việc tìm đến chỗ ông Otter.

Nhưng mới rảo bước thêm vài khu nhà, cô chợt thấy tấm biển "Cần thu ngân" treo trước cửa kính một tiệm bánh kẹo. Cô vội bước vào ứng tuyển, không quên liếc nhanh ra sau lưng để đoan chắc cái kẻ chuyên đi phá đám chuyện tìm việc kia không còn bám gót mình nữa.

Ông chủ tiệm kẹo là một bô lão hiền từ, người toát ra thứ hương vị bạc hà dễ chịu. Sau khi dò hỏi đôi câu cặn kẽ, ông kết luận Elsie chính là cô gái mình đang tìm. Cửa tiệm đang khát người phụ việc, thế nên với cõi lòng ngập tràn biết ơn, Elsie cởi phăng chiếc áo khoác màu rám nắng, rục rịch trèo lên chiếc ghế đẩu dành riêng cho thu ngân.

Thế nhưng, chưa kịp yên vị, một người phụ nữ gầy gò, cứng đờ như thép, đeo cặp kính gọng kim loại cùng đôi găng tay đen nhánh đã lù lù xuất hiện trước mặt cô. Bà ta chĩa thẳng ngón tay dài ngoẵng về phía Elsie và thét lên: "Khoan đã, cô gái!"

Elsie giật mình khựng lại.

"Cô có biết," người phụ nữ gầy gò gằn giọng, "rằng nếu nhận cái ghế này, chỉ ngay trong hôm nay thôi, cô có thể gián tiếp tước đi sinh mạng của hàng trăm con người trong tột cùng đau đớn thể xác, và đẩy bấy nhiêu linh hồn đó xuống tận đáy địa ngục hay không?"

"Sao lại thế cơ chứ," Elsie hoảng hốt thốt lên. "Làm sao tôi có thể gây ra chuyện tày đình đó được?"

"Rượu rum," bà ta rít lên - "thứ rượu rum ma quỷ. Cô có biết nguyên cớ vì đâu mà vô khối người phải bỏ mạng mỗi khi có rạp hát bốc cháy không? Chính là kẹo bi nhân rượu3! Thứ chất lỏng ma quỷ đó rình rập ẩn mình trong những viên kẹo bi. Các quý bà thượng lưu của chúng ta ngồi nhàn tản trong rạp, say khướt mướt chỉ vì nhấm nháp thứ kẹo chứa đầy rượu này. Vậy nên khi ngọn lửa hung thần ập xuống, họ đâu còn chút sức tàn nào mà tháo chạy. Đám tiệm kẹo này chính là những lò chưng cất rượu của ác quỷ. Nếu cô giúp phân phát những món đồ ngọt đầy xảo trá này, nghĩa là cô đang tiếp tay hủy hoại cả thể xác lẫn linh hồn của đồng loại, góp phần làm đầy thêm nhà tù, nhà thương điên và cả các trại tế bần. Hãy suy nghĩ lại đi, cô gái, trước khi cô chạm vào những đồng tiền kiếm được từ việc buôn bán kẹo bi ngâm rượu."

"Trời đất thánh thần ơi," Elsie cuống quýt đáp. "Tôi đâu có biết bên trong kẹo bi lại chứa rượu rum cơ chứ. Nhưng mà tôi vẫn phải sống, phải kiếm cơm bằng cách nào đó. Tôi phải làm sao bây giờ?"

"Hãy chối bỏ công việc này đi," người phụ nữ dõng dạc, "và đi theo tôi. Tôi sẽ chỉ cho cô biết phải làm thế nào."

Sau khi phân trần với bác thợ làm kẹo rằng mình đã đổi ý không nhận chân thu ngân nữa, Elsie vội vã tròng áo khoác vào rồi lẽo đẽo theo người phụ nữ ra tận lề đường, nơi một cỗ xe ngựa victoria lộng lẫy đang đỗ sẵn.

"Hãy đi tìm một công việc khác," người phụ nữ gầy gò phán, "và chung tay đập tan con quỷ rượu rum chín đầu4 kia." Nói đoạn, bà ta bước tót lên xe ngựa rồi phóng vút đi.

"Tôi đoán chuyện này lại đẩy mình về với cái ông Otter một lần nữa mất thôi," Elsie ngậm ngùi than thở, rẽ bước xuống phố. "Tiếc đứt cả ruột, vì tôi vẫn thích tự lực cánh sinh hơn là phải đi nhờ vả người ta."

Loanh quanh khu phố Mười Bốn, mắt Elsie va phải một tấm áp phích ghim ngay trên khung cửa: "Tuyển gấp năm mươi cô gái, thợ may khéo tay, làm trang phục sân khấu. Trả lương hậu hĩnh."

Cô vừa định đẩy cửa bước vào thì một người đàn ông mặt mày nghiêm nghị, vận đồ đen tuyền từ đầu đến chân, đưa tay cản cô lại.

"Cô gái thân mến," ông cất giọng, "tôi khẩn thiết nài xin cô chớ bước vào cái phòng thay đồ của quỷ dữ ấy."

"Trời đất ơi!" Elsie bật thốt, bắt đầu bực dọc. "Cứ làm như quỷ dữ đang thâu tóm mọi ngóc ngách làm ăn ở cái đất New York này không bằng. Ở đó thì có gì sai trái cơ chứ?"

"Nơi đây chính là," người đàn ông nghiêm nghị đáp, "xưởng sản xuất phục trang cho quỷ Satan-nói cách khác, là những bộ cánh mặc trên sân khấu. Sân khấu chính là nẻo đường dẫn thẳng đến sự suy đồi và diệt vong. Lẽ nào cô lại muốn đẩy linh hồn mình vào chốn hiểm nguy chỉ để dùng đôi bàn tay lao động mà tiếp tay cho nó sao? Cô có biết không, cô gái thân mến, nhà hát rốt cuộc sẽ dẫn con người ta đến đâu không? Cô có biết đám diễn viên kia sẽ đi về đâu sau khi bức màn nhung của rạp hát buông xuống bọc lấy họ lần cuối cùng không?"

"Biết chứ," Elsie thản nhiên đáp. "Vào mấy gánh kịch tạp kỹ chứ đâu. Nhưng bộ ông nghĩ việc tôi kiếm chút tiền độ nhật bằng nghề may vá là xấu xa lắm sao? Tôi phải tìm một việc gì đó để làm thật sớm thôi."

"Cám dỗ vật chất!" vị mục sư đáng kính rên rỉ, hai tay giơ bổng lên trời. "Tôi van cô, con ơi, hãy quay lưng lại ngay với chốn tội lỗi và gian ác này."

"Thế tôi sẽ lấy gì bỏ vào bụng để sống đây?" Elsie vặn lại. "Tôi cũng chẳng thiết tha gì trò may vá cho mấy vở hài kịch nhạc kịch này đâu, nếu đúng là nó rác rưởi như ông nói; nhưng tôi bắt buộc phải kiếm được một công việc."

"Chúa sẽ an bài," người đàn ông nghiêm nghị quả quyết. "Có một lớp học Kinh Thánh hoàn toàn miễn phí vào mỗi chiều Chủ nhật dưới tầng hầm của cửa tiệm xì gà ngay cạnh nhà thờ. Bình an cho cô. Amen. Tạm biệt."

Elsie lại tiếp bước lên đường. Chẳng mấy chốc, cô đã dạt đến khu thương mại sầm uất, nơi những xí nghiệp mọc lên san sát. Gắn trên mặt tiền một tòa nhà gạch đồ sộ là tấm biển mạ vàng chói lọi: "Posey & Trimmer, Hoa Giả." Ngay bên dưới là một tấm bạt chăng ngang hãy còn mới tinh với dòng chữ: "Cần năm trăm nữ học việc. Lương khởi điểm cao. Đăng ký tại lầu một."

Elsie rụt rè tiến về phía cửa vào. Ngay gần đó, ngót nghét đôi ba chục cô gái đang túm năm tụm ba xì xào. Bất chợt, một cô ả to con, đầu đội chiếc mũ rơm đen sụp kín mít che khuất cả đôi mắt, sấn sổ bước ra ngáng đường cô.

"Này, cô kia," cô ả cất giọng, "cô định chui vào đó xin việc à?"

"Đúng vậy," Elsie đáp; "tôi đang cần một công việc."

"Thôi, đừng có vào đó," cô ả gằn giọng. "Tôi là chủ tịch Ủy ban Chống Kẻ Phá Đình Công của hội chúng tôi đây. Cả bốn trăm chị em chúng tôi đang bị khóa trái cửa nhốt bên ngoài chỉ vì dám đứng lên đòi tăng lương thêm năm mươi xu một tuần, đòi cấp nước đá, và yêu cầu gã quản đốc phải cạo quách cái bộ ria mép của hắn đi. Trông cô quá đỗi xinh xắn để đi làm cái trò phá bĩnh đám đình công đấy. Cô có phiền giúp đỡ chúng tôi một tay bằng cách đi tìm việc ở chỗ khác không, hay là cô muốn bị nện cho nát bét cái mặt ra?"

"Tôi sẽ thử đi tìm ở nơi khác," Elsie vội vã đáp lời.

Cô rảo bước vô định về hướng đông trên đại lộ Broadway. Trái tim cô bỗng đập rộn lên khi nhìn thấy tấm biển "Fox & Otter" trải dài ngang qua toàn bộ mặt tiền của một tòa nhà cao tầng. Dường như có một người dẫn đường vô hình nào đó đã dắt lối cô qua những ngóc ngách của cuộc tìm kiếm việc làm vô ích để đến được nơi này.

Cô hối hả chạy ùa vào cửa hàng. Nhờ một nhân viên thư ký, cô gửi đến ông Otter tên mình cùng lá thư mà chính tay ông đã viết cho cha cô khi xưa. Ngay lập tức, cô được dẫn thẳng vào phòng làm việc riêng của ông chủ.

Vừa thấy Elsie bước vào, ông Otter liền đứng dậy khỏi bàn, nắm lấy hai tay cô cùng một nụ cười chào đón chân thành. Đó là một người đàn ông trạc tuổi trung niên, dáng người hơi phát tướng và có chút hói. Đeo kính gọng vàng, phong thái lịch thiệp cùng bộ âu phục chỉn chu, ông toát lên vẻ rạng rỡ.

"Chà chà, vậy ra đây là cô con gái nhỏ của anh Beatty! Cha cháu từng là một trong những nhân viên đắc lực và được trân quý nhất của chúng tôi đấy. Ông ấy không để lại chút vốn liếng nào sao? Tội nghiệp quá. Chà chà. Tôi hy vọng chúng tôi vẫn chưa quên đi những cống hiến tận tụy của ông ấy. Tôi chắc chắn hiện đang có một suất trống trong đội người mẫu của cửa tiệm. Ồ, một công việc nhàn hạ thôi-chẳng có gì dễ dàng hơn thế đâu."

Ông Otter gõ nhẹ một tiếng chuông. Một gã thư ký với cái mũi dài thò nửa người qua ngưỡng cửa.

"Cho cô Hawkins vào đây," ông Otter cất lời. Cô Hawkins lập tức bước vào.

"Cô Hawkins," ông Otter ra lệnh, "mang cho cô Beatty đây thử một trong những chiếc áo khoác lông chồn zibelin của Nga, và-để xem nào-cả một chiếc mũ tuyn đen mẫu mới nhất có đính lông chóp trắng nữa nhé."

Đứng trước tấm gương soi toàn thân, hai gò má Elsie ửng hồng, hơi thở gấp. Đôi mắt cô sáng lấp lánh như những vì sao mờ. Cô thật đẹp. Chao ôi! Cô thật đẹp.

Tôi ước gì mình có thể gác lại câu chuyện ngay tại đây. Chết tiệt thật! Chắc tôi sẽ làm thế mất. Nhưng không; câu chuyện này phải được kể cho trọn vẹn. Tôi chẳng hề bịa đặt ra điều gì. Tôi chỉ đang thuật lại đúng những gì đã diễn ra.

Tôi muốn tung những bó hoa tán dương viên cảnh sát mẫn cán nọ, và quý bà thích giải cứu các Cô Gái khỏi Công Việc, rồi cả bà lão bài trừ rượu đang ra sức đập nát những viên kẹo bi, cùng vị giáo sĩ nghiêm nghị lên án thứ trang phục dành cho những kẻ diễn trò (và bao nhiêu người khác nữa). Tôi cũng muốn ngợi ca hàng ngàn con người tốt bụng đang ngày đêm vắt kiệt sức mình để bảo vệ giới trẻ khỏi những cạm bẫy của chốn phồn hoa đô hội; để rồi khép lại câu chuyện bằng cách chỉ ra rằng chính họ đã trở thành chiếc cầu nối đưa Elsie đến với ân nhân của cha mình, một người bạn hiền từ và đấng cứu thế đưa cô thoát khỏi cảnh bần hàn. Nếu viết thế, hẳn đây sẽ là một câu chuyện kinh điển tuyệt hay về Elsie. Tôi muốn làm thế lắm chứ; nhưng khốn nỗi, câu chuyện vẫn còn vài lời phía sau.

Trong lúc Elsie còn đang say sưa ngắm nhìn bóng mình trong gương, ông Otter bước vào bốt điện thoại và quay một dãy số. Đừng hỏi tôi đó là số mấy.

"Oscar," ông ta hạ giọng, "tôi muốn anh giữ lại cho tôi cái bàn cũ vào tối nay. … Gì cơ? Chứ sao nữa, cái bàn trong căn phòng phong cách Moorish5 nằm bên trái lùm cây ấy. … Đúng vậy; hai người. … Đúng, cứ lấy nhãn hiệu thường lệ; và chuẩn bị chai Johannisburger đời '856 dùng kèm với món nướng nhé. Nếu không ướp đúng nhiệt độ, tôi sẽ bẻ cổ anh đấy. … Không; không phải cô nàng mọi khi đâu … Không hề … Một đào mới toanh-một trái đào tơ mọng nước7, Oscar ạ, một trái đào tơ mọng nước!"

Thưa độc giả đang mệt mỏi và chán chường, tôi xin phép được khép lại bằng một đoạn diễn giải từ vài lời mà hẳn các bạn vẫn còn nhớ là do ông ấy viết ra-người đàn ông của vùng Đồi Gad, người mà nếu bạn không ngả mũ chào khi đứng trước mặt, bạn sẽ phải đứng đó với một cái đầu bí ngô trùm kín-phải đấy, thưa ngài, một cái đầu bí ngô.

Sa ngã rồi, thưa Ngài. Sa ngã rồi, hỡi các Hiệp hội và Tổ chức. Sa ngã rồi, hỡi các Mục sư chân chính cùng những kẻ rao giảng lầm lạc ở mọi tầng lớp. Sa ngã rồi, hỡi những Nhà cải cách và Nhà lập pháp, những người sinh ra với lòng trắc ẩn ngự trị trong tim, nhưng tận sâu trong linh hồn lại mải mê tôn thờ đồng tiền. Và cứ thế, những sự sa ngã vẫn diễn ra quanh chúng ta mỗi ngày.



  1. Tác giả chơi chữ khi gọi Tử thần là "Thợ Giặt và Thợ Sửa" (Cleaner and Repairer), đi kèm với hành động dùng kéo "cắt đứt sợi chỉ sinh mệnh". ↩

  2. Charles E. Blaney là một nhà sản xuất và viết kịch nổi tiếng ở Mỹ đầu thế kỷ 20, chuyên trị thể loại bi kịch cường điệu (melodrama). ↩

  3. Nguyên gốc là 'brandy drops', một loại kẹo ngọt bên trong có nhân rượu thật rất phổ biến thời bấy giờ, thường bị các phong trào bài trừ rượu (Temperance movement) chỉ trích kịch liệt. ↩

  4. Ám chỉ quái vật Hydra chín đầu trong thần thoại Hy Lạp, hễ bị chặt đầu này thì mọc ra đầu khác. ↩

  5. Phong cách kiến trúc và trang trí của người Moor (người Hồi giáo ở Bắc Phi và Tây Ban Nha). Các nhà hàng sang trọng thời bấy giờ thường thiết kế những góc tối mang phong cách này để tạo không gian bí ẩn, riêng tư cho các cuộc hẹn hò mờ ám. ↩

  6. Một loại rượu vang trắng cao cấp và đắt tiền của Đức. Phiên bản được sản xuất vào năm 1885 (đời '85) rất hiếm có. ↩

  7. Nguyên gốc là 'a peach' - một từ lóng phổ biến ở Mỹ đầu thế kỷ 20, dùng để miêu tả một cô gái trẻ trung, xinh đẹp và đầy sức hấp dẫn. ↩