Trong Phúc âm Matthew có chép lại dụ ngôn về mười nàng trinh nữ đi đón chú rể. Năm người khờ dại mang đèn mà quên dự trữ dầu. Năm người khôn ngoan không những mang theo bình dầu đầy, mà còn cẩn thận cắt tỉa bấc đèn thật tinh tươm.

NGỌN ĐÈN ĐÃ KHÊU BẤC

Lẽ dĩ nhiên, đồng xu nào cũng có hai mặt. Nào, ta hãy cùng lật xem mặt còn lại. Thiên hạ vẫn hay quen miệng nhắc đến những "cô gái bán hàng". Thật ra chẳng làm gì có người nào như thế. Chỉ có những cô gái làm việc trong các cửa tiệm. Họ nương vào đó để kiếm sống. Cớ sao ta lại biến cái nghề mưu sinh của họ thành một tính từ định danh? Hãy công bằng chút đi. Chúng ta đâu có gọi những tiểu thư đài các sống trên Đại lộ số Năm là những "cô gái kết hôn".

Lou và Nancy là bạn tâm giao. Họ rủ nhau lên chốn đô hội tìm việc vì quê nhà không đủ cái ăn cho ngần ấy miệng người. Nancy mười chín; Lou tròn đôi mươi. Cả hai đều là những thôn nữ xinh xắn, lanh lợi và không hề có tham vọng bước chân vào chốn sân khấu.

Tiểu thiên thần ngự trên cao đã dẫn lối đưa đường cho họ tới một khu trọ giá bèo nhưng đàng hoàng tươm tất. Cả hai đều kiếm được việc làm và chính thức có thu nhập riêng. Tình chị em vẫn thắm thiết như xưa. Khi sáu tháng đã trôi qua, tôi muốn mời bạn bước tới và làm quen với họ. Hỡi độc giả hiếu kỳ: Xin giới thiệu những cô bạn của tôi, cô Nancy và cô Lou. Trong lúc bắt tay, xin bạn hãy chú ý-nhưng nhớ là phải thật ý tứ đấy-đến y phục của họ. Vâng, phải thật ý tứ; bởi vì hai cô nàng cũng dễ nổi đóa trước một ánh nhìn soi mói chẳng kém gì một phu nhân quyền quý ngự trên lô ghế VIP tại buổi biểu diễn ngựa đâu.

Lou làm thợ ủi khoán ăn theo sản phẩm trong một tiệm giặt là thủ công. Cô nàng diện chiếc váy màu tím thùng thình, và cọng lông chim cắm trên mũ thì dài thượt quá bốn inch; nhưng bộ bao tay và tấm khăn choàng cổ bằng lông chồn ermine của cô lại có giá tận 25 đô la, trong khi những con thú đồng loại với nó sẽ bị treo mác giá 7,98 đô la bên ngoài tủ kính trước khi mùa lễ hội khép lại. Hai má cô ửng hồng, đôi mắt xanh lơ bừng sáng. Sự viên mãn toát ra từ từng đường nét trên người cô.

Hẳn bạn sẽ gọi Nancy là một cô gái bán hàng-bởi bạn đã vướng phải cái thói quen đó rồi. Chẳng có một khuôn mẫu mực thước nào cả; nhưng cái thế hệ ngang ngạnh này lại luôn mải miết đi tìm một hình mẫu; thế nên, đây chính là những gì mà hình mẫu ấy nên có. Cô nàng vấn mái tóc phồng độn cao ngất, cùng phần ngực áo ưỡn thẳng về trước. Váy cô mặc tuy là hàng rẻ tiền, nhưng độ xòe lại chuẩn xác đến từng ly. Chẳng có tấm áo lông thú nào chở che cho cô trước cái lạnh cắt da của mùa xuân, nhưng cô lại diện chiếc áo khoác len lửng của mình đầy tự tin cứ như thể nó là lông cừu Ba Tư! Trên khuôn mặt và sâu trong ánh mắt cô, hỡi những kẻ mải miết chạy theo hình mẫu khắt khe kia, là vẻ mặt điển hình của một cô gái bán hàng. Đó là ánh nhìn của một sự nổi loạn câm lặng nhưng đầy khinh bỉ nhắm vào cái phận nữ nhi bị lừa dối; của một lời sấm truyền u buồn về sự báo thù sắp sửa ập đến. Ngay cả những lúc cô cười tươi nhất, vẻ mặt ấy vẫn chực chờ nơi đó. Ánh nhìn tương tự có thể bắt gặp trong đôi mắt của những người nông dân nước Nga; và những ai trong chúng ta còn trụ lại được sẽ thấy nó vào một ngày nào đó trên gương mặt của thiên thần Gabriel1 khi ngài giáng trần để thổi bay tất cả chúng ta. Lẽ ra đó phải là một ánh nhìn khiến cánh đàn ông phải co rúm và xấu hổ cúi đầu; nhưng gã ta lại chỉ biết nhăn nhở cười cợt trước nó và tiếp tục tặng những bó hoa-kèm theo một sợi dây buộc vào chúng.

Bây giờ thì bạn hãy nhấc mũ lên và cáo từ đi, trong lúc nhận lại câu chào lanh lảnh của Lou "Hẹn gặp lại", cùng nụ cười nhếch mép, ngọt ngào của Nancy dường như, bằng một cách nào đó, bỏ qua bạn và bay lơ lửng như một con bướm đêm trắng tinh lướt qua những mái nhà để vươn tới những vì sao.

Hai người nán lại góc phố đợi Dan. Dan là người yêu của Lou. Chung thủy ư? Khỏi phải nói, anh chàng luôn kề cận cô nàng đến mức cô bé Mary trong bài đồng dao2 có khi phải thuê cả tá thừa phát lại mới mong giữ được chú cừu non của mình chặt đến thế.

"Cậu không thấy lạnh sao, Nance?" Lou lên tiếng. "Này, cậu đúng là ngốc nghếch khi cứ chôn chân trong cái cửa tiệm cũ rích đó với mức lương tám đô la một tuần! Tuần trước mình kiếm được những mười tám rưỡi đô la đấy. Dĩ nhiên, nghề ủi đồ thì chẳng thể nào sang chảnh bằng việc đứng bán ren sau quầy, nhưng bù lại tiền rủng rỉnh. Đám thợ ủi bọn mình chẳng ai kiếm dưới mười đô cả. Vả lại, mình cũng chẳng thấy công việc đó có gì kém danh giá hơn."

"Cậu cứ việc giữ lấy," Nancy vểnh mũi đáp trả. "Mình thà nhận tám đô la một tuần và sống trong căn phòng ngủ ngoài hành lang còn hơn. Mình thích được vây quanh bởi những thứ tao nhã và những con người quý phái. Cứ nhìn cơ hội của mình mà xem! Chà, mới hôm nọ thôi, một cô bán găng tay chỗ bọn mình vừa kết hôn với một tay trùm ngành thép ở Pittsburg - hay thợ rèn gì đó đại loại thế - nắm trong tay cả triệu đô la. Biết đâu đấy, chính mình rồi cũng vớ được một anh chàng bảnh chọe. Mình chẳng phải đang khoe khoang nhan sắc hay gì đâu; nhưng mình thà thử vận may ở nơi có giải thưởng lớn. Chứ một cô gái thì mong chờ cơ hội gì ở một tiệm giặt ủi cơ chứ?"

"Chà, tiệm giặt ủi chính là nơi mình gặp Dan đấy," Lou đắc ý khoe. "Anh ấy bước vào lấy áo sơ mi và cổ áo để diện ngày Chủ nhật, rồi tình cờ thấy mình đang ủi đồ ngay bàn đầu tiên. Bọn mình ai cũng tranh nhau cái bàn ủi số một đó. Hôm ấy Ella Maginnis đổ bệnh nên mình mới được thế chỗ. Anh ấy kể rằng điều đầu tiên anh ấy chú ý chính là cánh tay của mình, khen chúng mới tròn trịa và trắng trẻo làm sao. Lúc đó mình đang xắn tay áo lên mà. Cũng có khối anh chàng bảnh bao lui tới tiệm giặt đấy nhé. Cậu có thể nhận ra họ ngay: toàn xách quần áo trong mấy chiếc vali, rồi bước qua cửa tiệm với dáng vẻ vội vã, thoăn thoắt."

"Sao cậu lại có thể khoác lên người chiếc áo cánh như thế nhỉ, Lou?" Nancy buông lời, đưa ánh mắt trĩu nặng nhìn xuống món đồ nhức mắt với vẻ khinh khỉnh đầy ngọt ngào. "Trông nó tố cáo một gu thẩm mỹ tệ hại khủng khiếp."

"Cái áo cánh này á?" Lou ré lên, trợn tròn mắt phẫn nộ. "Trời đất ơi, mình đã phải cắn răng bỏ ra mười sáu đô la cho cái áo này đấy. Giá trị thực của nó phải tới hai mươi lăm đô. Một bà khách mang tới giặt rồi mất hút, chẳng buồn quay lại lấy. Thế là ông chủ bán lại cho mình. Trên áo có đính hằng mét ren thêu tay đấy nhé. Tốt hơn hết là cậu nên tự xem lại bộ đồ phẳng lì, thô kệch mà cậu đang mặc đi thì hơn."

"Cái bộ đồ phẳng lì, thô kệch này ấy à," Nancy bình thản đáp, "là bản sao y chang bộ đầm mà phu nhân Van Alstyne Fisher từng mặc đấy. Mấy cô gái trong tiệm kháo nhau rằng năm ngoái, hóa đơn mua sắm của bà ấy ở cửa hàng lên tới mười hai ngàn đô la. Mình tự tay may bộ này đấy. Chỉ tốn vỏn vẹn một đô rưỡi. Đứng cách xa mười feet thì đố cậu phân biệt được nó với bộ đồ của phu nhân đấy."

"Ồ, thôi được rồi," Lou hớn hở chốt lại, "nếu cậu thích chịu đói để giữ cái mác đài các thì cứ tự nhiên. Còn mình, mình sẽ chọn công việc nhàn hạ lương cao; và sau giờ làm, cứ để mình diện những bộ cánh rực rỡ, hút mắt nhất mà túi tiền mình có thể kham nổi."

Vừa lúc đó, Dan xuất hiện - một chàng trai trẻ đứng đắn thắt chiếc cà vạt may sẵn, mang dáng vẻ của kẻ đứng ngoài vòng xoáy phù phiếm của chốn thị thành. Anh là một thợ điện với mức lương ba mươi đô la một tuần, kẻ luôn nhìn Lou bằng ánh mắt si tình kiểu Romeo, và tin rằng chiếc áo cánh thêu ren của cô là tấm mạng nhện mà mọi chú ruồi đều sẵn lòng sa lưới.

"Bạn của em đây, anh Owens - anh hãy bắt tay làm quen với cô Danforth đi," Lou lanh chanh giới thiệu.

"Rất hân hạnh được làm quen với cô, cô Danforth," Dan chìa tay ra. "Tôi đã nghe Lou nhắc tới cô rất nhiều lần."

"Cảm ơn anh," Nancy đáp, khẽ chạm những ngón tay mát lạnh của mình vào tay Dan. "Tôi cũng đã nghe cậu ấy nhắc về anh - một vài lần."

Lou cười khúc khích.

"Cậu học được cái kiểu bắt tay đài các đó từ phu nhân Van Alstyne Fisher phải không, Nance?" cô nàng trêu chọc.

"Nếu đúng thế thật, cậu cứ yên tâm mà học lỏm nhé," Nancy vặc lại.

"Ồ, mình thì chịu, chẳng thể nào bắt chước nổi đâu. Nó quá đỗi điệu đà so với mình. Cái kiểu giơ tay cao vót ấy chỉ cốt để phô trương mấy chiếc nhẫn kim cương thôi. Đợi đến khi nào mình sắm được vài chiếc thì mình sẽ thử."

"Cứ học điệu bộ đó trước đi," Nancy khôn ngoan lên lớp, "rồi cậu sẽ có nhiều cơ hội kiếm được kim cương hơn đấy."

"Bây giờ, để hòa giải cuộc tranh luận này," Dan lên tiếng với nụ cười tươi tắn thường trực trên môi, "hãy để tôi đưa ra một gợi ý. Vì tôi không thể hộ tống cả hai cô đến thẳng tiệm kim hoàn Tiffany's để hành xử cho thật hào phóng, các cô nghĩ sao về việc đi xem kịch tạp kỹ? Tôi đã thủ sẵn vé đây rồi. Chúng ta không thể chạm tay vào những viên kim cương thật, vậy đi ngắm kim cương trên sân khấu thì sao?"

Thế là chàng hiệp sĩ trung thành bước ra sát mép vỉa hè; kế đến là Lou, dáng vẻ hơi vênh váo trong bộ cánh sặc sỡ và bắt mắt; còn Nancy đi ở phía trong cùng, vóc dáng mảnh khảnh, khoác trên người bộ đồ nhã nhặn tựa một chú chim sẻ, nhưng lại sải bước với phong thái đài các đúng chuẩn phu nhân Van Alstyne Fisher - cả ba cùng lên đường, tận hưởng niềm vui giải trí nho nhỏ của buổi tối hôm đó.

Chắc hẳn chẳng mấy ai coi một cửa hàng bách hóa lớn là chốn học hành giáo dưỡng. Nhưng với Nancy, nơi cô làm việc lại chính là một ngôi trường như thế. Xung quanh cô ngập tràn những món đồ tuyệt mỹ, toát lên gu thẩm mỹ và sự tinh tế. Khi sống giữa bầu không khí xa hoa, sự xa hoa ấy tự nhiên cũng thấm vào bạn, bất kể là tiền của bạn hay tiền của ai khác đã chi trả cho nó.

Khách hàng của cô đa phần là những quý bà mà cách ăn vận, cung cách cư xử và vị thế trong giới thượng lưu vốn được xem là khuôn vàng thước ngọc. Từ những người phụ nữ ấy, Nancy bắt đầu chắt lọc - gom nhặt lại những gì tinh túy nhất từ mỗi người theo cách đánh giá của riêng cô.

Từ người này, cô sao chép và tập tành một điệu bộ; từ người khác, một cái nhướng mày đầy biểu cảm. Rồi từ vô số những vị khách khác nữa, cô học lỏm dáng đi, cách cầm ví, cách mỉm cười, cách chào hỏi bạn bè, và cả cái kiểu cách chuyện trò với "kẻ dưới". Từ hình mẫu mà cô ngưỡng mộ nhất, phu nhân Van Alstyne Fisher, cô đã vay mượn được một báu vật tuyệt diệu: một chất giọng trầm ấm, mượt mà, trong trẻo như tiếng bạc va vào nhau, với cách phát âm hoàn hảo tựa tiếng hót của chim hoét. Đắm mình trong vầng hào quang của nét tinh hoa và nền giáo dục quý tộc ấy, cô không sao tránh khỏi những ảnh hưởng sâu sắc hơn từ nó. Người ta vẫn thường nói thói quen tốt còn giá trị hơn cả nguyên tắc tốt; vậy nên, biết đâu đấy, tư cách tốt lại còn đáng giá hơn cả thói quen tốt. Những lời răn dạy của mẹ cha có lẽ chẳng thể nào giữ cho cái lương tâm kiểu New England3 trong bạn sống mãi; nhưng nếu bạn ngồi ngay ngắn trên một chiếc ghế tựa lưng thẳng tắp và lẩm nhẩm liên tục những từ "lăng kính và người hành hương"4 chừng bốn chục lần, thì ma quỷ ắt hẳn cũng phải chào thua mà tránh xa. Và mỗi khi Nancy cất giọng theo kiểu của Van Alstyne Fisher, cô lại cảm nhận được sự rung cảm của nghĩa vụ quý tộc (noblesse oblige)5 ngấm vào tận xương tủy.

Lại còn một nguồn tri thức khác ở ngôi trường bách hóa rộng thênh thang này. Bất cứ khi nào bạn thấy dăm ba cô bán hàng túm tụm lại, khua khoắng mấy chiếc vòng tay kim loại rủng rỉnh như đang đệm đàn cho những câu chuyện phiếm tưởng chừng vô thưởng vô phạt, thì đừng vội nghĩ họ xúm vào chỉ để mỉa mai cái kiểu tóc tết búi sau gáy của Ethel. Cuộc họp ấy có thể thiếu đi vẻ uy nghiêm như những hội đồng nghị sự của cánh mày râu; nhưng nó lại mang tầm quan trọng chẳng kém gì cái thuở xa xưa khi Eva và cô con gái đầu lòng lần đầu chụm đầu bàn mưu tính kế, cốt để Adam hiểu rõ vị trí đúng đắn của ông ta trong gia đình. Đó đích thị là Hội nghị Phụ nữ vì Mục đích Phòng vệ Chung, nơi trao đổi những chiến lược tấn công và đánh bật cái Thế giới vốn dĩ chỉ là một Sân khấu, và Đàn ông thì lại là những Khán giả cứ khăng khăng đòi ném hoa lên đó. Phụ nữ, những sinh linh yếu ớt nhất trong muôn loài - mang vẻ yêu kiều của nai tơ nhưng lại thiếu đi sự lanh lẹ; mang vẻ sặc sỡ của loài chim nhưng lại chẳng biết vỗ cánh vút bay; mang trên mình gánh nặng mật ngọt của loài ong nhưng lại chẳng có... Ôi dào, thôi bỏ qua cái sự so sánh ấy đi - hẳn là có vài gã trong số chúng ta đã từng bị ong đốt rồi.

Xuyên suốt cái hội đồng tham mưu này, họ truyền tay nhau vũ khí, và trao đổi cho nhau những mưu mẹo mà mỗi người đã tự nặn ra và đúc rút được từ chiến trường cuộc đời.

"Tôi mới bảo thẳng mặt hắn," Sadie kể lể, "anh đúng là cái đồ vô học! Anh nghĩ tôi là hạng người nào mà dám buông mấy lời buông tuồng ấy ra? Rồi mấy bồ đoán xem hắn trả treo lại thế nào?"

Những mái đầu đủ màu - nâu, đen, bạch kim, hung đỏ, và vàng rực - nhấp nhô chụm lại; câu trả lời được xướng lên; và miếng đòn phản công cũng được quyết định, để rồi mỗi người sẽ găm làm vốn liếng phòng thân trong những cuộc đụng độ về sau với kẻ thù chung: đàn ông.

Cứ thế, Nancy đã học được nghệ thuật phòng ngự; và với đàn bà con gái, cứ phòng thủ thành công thì đã coi như là chiến thắng.

Giáo trình của trường đại học bách hóa này quả thực rất đồ sộ. Có lẽ chẳng có một ngôi trường nào khác lại có thể trang bị cho cô hành trang vững chãi đến thế để chinh phục tham vọng lớn nhất đời mình - bốc trúng một giải độc đắc trong canh bạc hôn nhân.

Vị trí cô đứng ở cửa hàng cũng là một chỗ đầy lợi thế. Gian hàng âm nhạc nằm đủ gần để cô có thể lắng nghe và trở nên quen thuộc với các kiệt tác của những nhà soạn nhạc lừng lẫy nhất - ít nhất thì cái sự quen thuộc ấy cũng đủ để được coi là khiếu cảm thụ trong cái thế giới thượng lưu mà cô đang mơ hồ, rụt rè nhưng đầy khao khát chen chân vào. Cô thẩm thấu sự giáo dưỡng từ những mặt hàng mang tính nghệ thuật, từ những súc vải đắt tiền, tinh xảo, và từ những món nữ trang vốn đã nghiễm nhiên trở thành nét văn hóa gắn liền với phái đẹp.

Đám con gái làm cùng sớm đánh hơi được tham vọng của Nancy. "Triệu phú của cô lại tới rồi kìa, Nancy," họ hay trêu cô như thế mỗi khi có gã trai nào đó trông có vẻ ra dáng nhà giàu bước tới quầy của cô. Vốn dĩ, bọn đàn ông trong lúc tha thẩn đợi vợ hay bạn gái mua sắm, thường có thói quen tản bộ ngang qua quầy khăn tay rồi nấn ná lại bên những chiếc khăn cambric vuông vắn. Chính cái cốt cách đài các học mót và nhan sắc thanh tú bẩm sinh của Nancy là thỏi nam châm thu hút bọn họ. Hết gã này đến gã khác đã tìm tới đây để ra sức thi triển sự quyến rũ của mình trước mặt cô. Trong số đó, cũng có người là triệu phú thật; nhưng phần đông thì hẳn chỉ là những kẻ đua đòi bắt chước. Nancy đã học được cách soi người. Có một ô cửa sổ nằm ngay cuối quầy; và từ đó, cô có thể nhìn xuống dãy xe cộ đang xếp hàng đợi khách mua sắm dưới phố. Cô nhìn, và rồi nhận ra rằng, mấy chiếc ô tô cũng muôn hình vạn trạng hệt như chủ nhân của chúng vậy.

Có bận, một quý ông bảnh chọe nọ đã vung tiền mua liền bốn tá khăn tay, tiện thể trổ tài tán tỉnh cô qua mặt quầy với cái phong thái bề trên hệt như Vua Cophetua6. Ngay khi gã vừa rời đi, một cô gái trong quầy bèn lên tiếng:

"Sao thế, Nance, sao cô không mặn mà gì với gã đó vậy. Tôi thấy anh chàng trông bảnh bao gớm đấy chứ."

"Tên đó ấy hả?" Nancy buông lời, kèm theo nụ cười kiểu Van Alstyne Fisher - nụ cười lạnh nhạt nhất, ngọt ngào nhất, và vô hồn nhất mà cô có; "Không phải gu của tôi. Tôi thấy hắn lái xe đỗ xịch ngoài kia. Chỉ là một con xe 12 mã lực với gã tài xế gốc Ireland! Mà cô có để ý xem hắn mua loại khăn tay gì không - khăn lụa! Còn người ngợm hắn thì nức mũi mùi nước hoa dactylis7. Đã chọn thì cho tôi hàng thật, còn không thì xin kiếu."

Hai trong số những quý cô "sành điệu" nhất nhì cửa tiệm - một nữ quản đốc và một cô thu ngân - có quen vài "người bạn trai bảnh bao", thỉnh thoảng vẫn rủ họ đi ăn tối cùng. Có bận, họ lôi kéo Nancy tham gia một chầu. Bữa tối hôm ấy được dọn ra tại một nhà hàng hào nhoáng, nơi mà muốn có bàn đêm Giao thừa thì người ta phải đặt gạch trước cả năm trời. Hai "người bạn trai" cũng xuất hiện - một gã thì đầu nhẵn thín chẳng còn lấy một sợi tóc - hậu quả của lối sống sa đọa vương giả; và chúng tôi hoàn toàn có cơ sở để chứng minh điều đó - người còn lại thì là một gã trai trẻ, kẻ mà ngay lập tức khiến người ta phải choáng ngợp bởi độ đẳng cấp và sành sỏi của anh ta thông qua hai minh chứng không thể chối cãi: anh ta quả quyết rằng đám rượu vang kia rặt toàn những chai hỏng nút bần; và anh ta đeo măng sét nạm kim cương. Gã trai trẻ này lập tức bị hớp hồn bởi sự xuất chúng không thể cưỡng lại toát ra từ Nancy. Khẩu vị của gã xưa nay vốn ưa chuộng các cô nàng bán hàng; và ở đây lại xuất hiện một cô nàng vừa sở hữu vẻ quyến rũ chân phương của giới bình dân, lại vừa điểm xuyết thêm cốt cách cùng giọng điệu của giới thượng lưu quý tộc nhà gã.

Thế nên, vào ngày hôm sau, gã mò đến tận cửa hàng và trịnh trọng ngỏ lời cầu hôn cô ngay phía trên một hộp khăn lanh trắng viền vắt sổ của Ireland. Nancy đã cự tuyệt. Một cô ả tóc nâu uốn phồng đứng cách đó chừng chục thước đã huy động tối đa cả mắt lẫn tai để hóng chuyện. Ngay khi gã si tình vừa bị chối từ quay lưng bước đi, cô ả lập tức trút cả rổ lời quở trách lẫn kinh hãi lên đầu Nancy.

"Cô đúng là đồ đại ngốc! Gã đó là một triệu phú đấy - cháu trai của chính lão Van Skittles chứ chẳng đùa. Mà anh ta lại còn nghiêm túc nữa. Cô bị điên rồi hả, Nance?"

"Tôi điên á?" Nancy đáp trả. "Tôi đâu có lấy gã ta, đúng không? Chẳng qua gã cũng đâu phải loại triệu phú nứt đố đổ vách gì cho cam. Gia đình gã ta mỗi năm chỉ ném cho gã hai vạn đô la để tiêu vặt. Cái gã đầu hói hôm bữa tối còn mang chuyện đó ra trêu chọc gã kia kìa."

Cô ả tóc nâu uốn phồng xấn lại gần, đôi mắt nheo nheo đầy soi mói.

"Này, thế rốt cuộc là cô muốn cái gì?" cô ả xỉa xói, giọng the thé đặc sệt kiểu mấy kẻ nhai kẹo cao su nhai bỏm bẻm. "Thế vẫn chưa đủ với cô chắc? Cô muốn gia nhập phái Mormon8, rồi lấy Rockefeller, Gladstone Dowie, Vua Tây Ban Nha, và rinh tuốt tuồn tuột đám bọn họ về làm chồng hay sao? Hai vạn đô la một năm chưa đủ tốt với cô à?"

Nancy thoáng ửng hồng hai gò má trước cái nhìn chằm chằm soi mói của đôi mắt đen láy và nông cạn nọ.

"Cũng không hẳn là vì tiền đâu, Carrie," cô giải thích. "Bạn của gã đã tóm gọn việc gã nói dối trơ trẽn ngay bữa tối hôm nọ. Chuyện là về một cô gái mà gã thề thốt rằng chưa từng đưa đi xem kịch. Chà, tôi thì chúa ghét loại người dối trá. Gộp tất cả lại - tôi không ưa gã; chỉ đơn giản vậy thôi. Khi tôi định giá bán mình, thì chắc chắn đó sẽ không phải vào một ngày đại hạ giá nào cả. Dù thế nào đi nữa, tôi cũng phải có được một người biết ngồi ngay ngắn trên ghế cho ra dáng một người đàn ông. Đúng, tôi đang săn tìm một món hời; nhưng cái món hời ấy ít nhất cũng phải làm được trò trống gì đó chứ không chỉ biết kêu xủng xoảng như con heo đất đồ chơi."

"Cái thứ tâm lý học chập mạch ấy là dành cho cô đấy!" cô ả tóc nâu uốn phồng hừ nhạt, rồi ngoảy mông bỏ đi.

Chính những suy tưởng cao vời này, hay đúng hơn là một thứ lý tưởng, đã được Nancy tiếp tục nuôi dưỡng bằng mức lương cỏn con tám đô la một tuần. Cô hạ trại mai phục, lần theo dấu vết của "món hời" lớn chưa lộ diện kia, ngày ngày gặm bánh mì khô và thắt lưng buộc bụng. Đọng trên gương mặt cô là một nụ cười mờ nhạt, ngoan cường, đầy ngọt ngào nhưng cũng thật nghiệt ngã - nụ cười của một kẻ đi săn đàn ông bẩm sinh. Cửa hàng chính là khu rừng của cô; và đã bao bận cô nâng súng nhắm vào con mồi với cặp sừng nom có vẻ đồ sộ; nhưng rồi luôn có một thứ bản năng mách bảo sâu kín không thể nhầm lẫn-có lẽ là bản năng của một nữ thợ săn, hay chăng là bản năng của một người phụ nữ-đã níu tay cò, buộc cô ngừng nổ súng để tiếp tục kiên nhẫn lần theo dấu vết.

Lou phất lên trông thấy ở tiệm giặt ủi. Từ mức lương 18,50 đô la mỗi tuần, cô trích ra sáu đô la lo tiền phòng và ăn uống. Khoản còn lại, cô vung tay chủ yếu vào áo quần. Cơ hội để cô gọt giũa gu thẩm mỹ và phong thái mỏng manh hơn Nancy rất nhiều. Trong cái không khí mù mịt hơi nước của tiệm giặt, chẳng có gì khác ngoài công việc, công việc, và những mộng tưởng miên man về các cuộc vui buổi tối đang chờ. Biết bao súc vải đắt tiền, lộng lẫy đã lướt qua dưới sức nóng từ bàn ủi của cô; và biết đâu chăng, chính cái khối kim loại dẫn nhiệt ấy đã âm thầm truyền sang cô cả niềm đam mê chưng diện ngày một lớn dần.

Mỗi khi xong việc trong ngày, Dan lại đứng đợi cô bên ngoài, như một cái bóng trung thành bất kể cô đứng dưới thứ ánh sáng nào.

Đôi lúc, anh ném một cái nhìn thẳng thắn nhưng đầy phiền muộn vào những bộ cánh của Lou, thứ rực rỡ phô trương nhiều hơn là phong cách. Dẫu vậy, đây chẳng phải là sự phai nhạt tình cảm; anh chỉ không ưng cái cách mà những bộ đồ ấy hút chặt lấy ánh nhìn của thiên hạ trên phố đổ dồn vào cô.

Và Lou cũng một lòng trung thành với cô bạn thân chẳng kém. Cứ như một luật bất thành văn, Nancy luôn đi cùng họ trong mọi cuộc dạo chơi mà cả hai vẽ ra. Dan gánh lấy cái "gánh nặng" dư thừa ấy một cách chân thật và đầy vui vẻ. Có thể nói rằng Lou mang đến sắc màu, Nancy góp thêm âm sắc, còn Dan chính là điểm tựa vững chãi của bộ ba đi tìm thú tiêu khiển. Chàng hộ tống ấy, trong bộ vest may sẵn gọn gàng nhưng rập khuôn, thắt chiếc cà vạt cũng may sẵn nọ, cùng khiếu hài hước luôn thường trực, vui tươi, chẳng bao giờ khiến người ta phải giật mình hay xích mích. Anh thuộc tuýp người tốt bụng mà bạn có thể dễ dàng quên bẵng đi khi họ đang ở đó, nhưng lại nhớ rõ mồn một hễ họ vừa cất bước rời đi.

Với gu thẩm mỹ tinh tế của Nancy, dư vị từ những cuộc vui dọn sẵn này đôi khi lại hơi chát chúa. Nhưng cô còn trẻ; và tuổi trẻ thường giống một kẻ phàm ăn, nhất là khi nó chưa đủ tầm để làm một người sành sỏi.

"Dan lúc nào cũng muốn mình cưới anh ấy ngay lập tức," một lần Lou tâm sự. "Nhưng tại sao mình phải làm thế chứ? Mình đang độc lập cơ mà. Mình có thể làm bất cứ thứ gì mình muốn với những đồng tiền tự tay mình kiếm ra; và anh ấy sẽ chẳng bao giờ chịu để mình tiếp tục đi làm sau khi cưới đâu. Mà này Nance, cậu cứ muốn bám trụ ở cái cửa hàng cũ rích đó làm gì, để rồi phải chịu cảnh nhịn ăn nhịn mặc? Mình có thể xin cho cậu một chân trong tiệm giặt ngay bây giờ nếu cậu qua đó. Chắc cậu cũng bớt làm cao đi một chút nếu cậu kiếm được nhiều tiền hơn đấy."

"Mình không nghĩ là mình đang làm cao đâu, Lou," Nancy đáp, "nhưng mình thà sống với một nửa khẩu phần ăn và ở lại nơi mình đang làm còn hơn. Chắc là mình quen với nó mất rồi. Đó chính là cơ hội mà mình hằng mong đợi. Mình không định sẽ đứng sau quầy hàng mãi đâu. Ngày nào mình cũng học được đôi ba điều mới mẻ. Mình luôn được tiếp xúc với những con người tinh tế và giàu có-dù chỉ là phục vụ họ thôi; và mình chẳng bao giờ bỏ lỡ bất cứ manh mối nào đang phảng phất quanh mình."

"Thế cậu đã tóm được anh triệu phú nào chưa?" Lou hỏi, nở một nụ cười trêu chọc.

"Mình chưa chọn ai cả," Nancy thản nhiên trả lời. "Mình vẫn đang xem xét."

"Trời đất! Cứ làm như cậu được quyền chọn bọn họ ấy! Đừng bao giờ để tuột mất ai nhé Nance-kể cả khi anh ta có thiếu mất vài đô la. Nhưng tất nhiên là cậu đang đùa rồi-những tay triệu phú chẳng bao giờ để mắt tới mấy cô gái đi làm công ăn lương như chúng mình đâu."

"Sẽ tốt hơn cho họ nếu họ làm vậy đấy," Nancy buông lời với sự khôn ngoan điềm tĩnh. "Một vài người trong chúng ta có thể dạy họ cách quản lý tiền bạc của chính họ."

"Nếu có ai đó bắt chuyện với mình," Lou cười phá lên, "chắc mình sướng phát điên lên mất."

"Đó là vì cậu không biết ai trong số họ thôi. Sự khác biệt duy nhất giữa giới thượng lưu và những người còn lại là cậu phải quan sát họ kỹ hơn một chút. Cậu không nghĩ lớp lót lụa đỏ đó hơi quá chói so với chiếc áo khoác kia sao, Lou?"

Lou cúi nhìn chiếc áo khoác màu xanh ô liu xỉn màu, trơn tuột của bạn mình.

"Chà, không đâu-nhưng trông nó có vẻ thế khi đặt cạnh cái mớ đồ nhợt nhạt mà cậu đang mặc."

"Chiếc áo khoác này," Nancy nói với vẻ tự mãn, "có đường cắt và độ ôm y hệt chiếc mà phu nhân Van Alstyne Fisher đã mặc hôm nọ. Tiền vải tốn của mình có 3,98 đô la. Mình đoán chiếc của bà ấy đắt hơn khoảng một trăm đô la là ít."

"Ồ, thôi được rồi," Lou nói nhẹ tênh, "nó không khiến mình ấn tượng như một thứ mồi nhử triệu phú đâu. Cũng chẳng có gì ngạc nhiên nếu mình tóm được một anh trước cậu đấy."

Quả thực sẽ cần đến cả một triết gia để cân đong đo đếm giá trị những triết lý mà hai cô bạn đang theo đuổi. Lou, thiếu đi sự kiêu hãnh và tính cầu kỳ cẩn trọng vốn giữ chân hàng lớp những cô gái chấp nhận mức lương chết đói ở các cửa hàng và bàn giấy, vẫn ngày ngày vui vẻ nện chiếc bàn ủi của mình trong tiệm giặt ủi ồn ào và ngột ngạt. Tiền lương của cô đủ nuôi sống cô vượt xa mức gọi là thoải mái; nhờ thế mà tủ quần áo của cô cũng được tươm tất, cho đến một lúc nào đó, cô lại liếc nhìn đầy sốt ruột vào bộ cánh gọn gàng nhưng kém phần thanh lịch của Dan-Dan, người đàn ông kiên định, người đàn ông bất biến, người đàn ông chẳng hề lay chuyển.

Về phần Nancy, hoàn cảnh của cô cũng giống như hàng chục ngàn cô gái khác. Lụa là, trang sức, đăng ten, đồ trang trí cùng hương nước hoa và những giai điệu của thế giới tinh tế, có học thức và gu thẩm mỹ thanh cao-những thứ này sinh ra là dành cho phụ nữ; chúng là đặc quyền chính đáng của phái đẹp. Hãy để cô ấy được sống trong ánh hào quang ấy nếu đó là một phần hơi thở của cô, và nếu cô thực lòng khao khát. Cô ấy chẳng phải là kẻ tự bán rẻ chính mình, như Esau năm xưa9; bởi lẽ cô vẫn giữ trọn quyền thừa kế của mình, dẫu cho bát súp đậu lăng mà cô đổi lấy thường vô cùng ít ỏi.

Nancy thuộc về bầu không khí ấy; và cô thăng hoa trong nó, nhấm nháp những bữa ăn đạm bạc và toan tính cho những chiếc váy rẻ tiền bằng một tâm trí kiên định và mãn nguyện. Cô đã thấu hiểu phụ nữ; và giờ đây, cô đang mổ xẻ đàn ông, cái giống loài ấy, cả về thói quen lẫn sự phù hợp của họ. Sẽ có một ngày cô hạ gục được con mồi mà mình mong muốn; nhưng cô tự hứa với lòng rằng, đó phải là con mồi trông vĩ đại và tuyệt vời nhất đối với cô, chứ tuyệt đối không được kém cỏi hơn.

Vì vậy, cô luôn giữ cho ngọn đèn của mình được cắt tỉa và thắp sáng rực rỡ để đón chú rể khi anh ta xuất hiện.

Nhưng, cô cũng đã học được một bài học khác, có lẽ là một cách vô thức. Hệ quy chiếu giá trị của cô bắt đầu dịch chuyển và đổi thay. Đôi khi, ký hiệu đô la bỗng trở nên nhạt nhòa trong tâm trí cô, và dần biến thành những chữ cái xếp thành các từ như "sự thật", "danh dự" và thi thoảng chỉ đơn thuần là "lòng tốt". Hãy thử vẽ ra bức chân dung của một người thợ săn nai sừng tấm hay nai sừng xám giữa một khu rừng già hùng vĩ. Anh ta bắt gặp một thung lũng nhỏ, phủ đầy rêu phong và bóng cây râm mát, nơi một con suối nhỏ chảy róc rách, ngân nga với anh bài ca về sự bình yên và thanh thản. Vào những khoảnh khắc ấy, ngay cả ngọn giáo của thần săn bắn Nimrod10 cũng trở nên cùn mòn.

Thế nên, Nancy đôi khi tự hỏi, liệu lớp lông cừu Ba Tư có luôn được báo giá theo đúng giá trị thị trường của những trái tim mà nó đang ấp ủ hay không.

Vào một buổi tối thứ Năm, Nancy rời cửa hàng, quẹo sang Đại lộ số Sáu rồi đi về hướng tây để đến tiệm giặt ủi. Theo kế hoạch, cô sẽ cùng Lou và Dan đi xem một vở hài kịch âm nhạc.

Đúng lúc cô tới nơi thì Dan cũng vừa bước ra khỏi cửa tiệm. Gương mặt anh lộ rõ vẻ căng thẳng, kỳ lạ.

"Anh nghĩ mình nên tạt qua xem người ta có tin tức gì của cô ấy chưa," anh cất lời.

"Tin tức của ai cơ?" Nancy ngơ ngác. "Lou không có ở trong đó à?"

"Anh cứ tưởng em phải biết rồi chứ," Dan đáp. "Cô ấy chẳng tới tiệm, cũng không về nhà trọ từ hôm thứ Hai. Đồ đạc thì đã dọn sạch sành sanh. Cô ấy còn khoe với mấy cô thợ giặt rằng có khi mình sẽ đi Châu Âu."

"Thế không một ai nhìn thấy cậu ấy ở đâu sao?" Nancy sốt sắng.

Dan nhìn cô, quai hàm bặm lại đầy giận dữ, một tia nhìn sắc lạnh như thép lóe lên trong đôi mắt xám vốn điềm tĩnh của anh.

"Mấy người trong tiệm giặt kể với anh," anh nói, giọng gay gắt, "rằng hôm qua họ thấy cô ấy đi ngang qua đây-trên một chiếc ô tô. Chắc hẳn là đang đi cùng với một gã triệu phú nào đó, cái loại mà em và Lou lúc nào cũng tốn công tơ tưởng đến đấy."

Lần đầu tiên trong đời, Nancy thấy nao núng trước một người đàn ông. Cô đặt bàn tay đang run rẩy nhè nhẹ lên ống tay áo Dan.

"Anh không có quyền nói với em những lời như thế, Dan-cứ làm như em có liên can tới chuyện này vậy!"

"Anh không có ý đó," Dan vội dịu giọng. Anh lục lọi trong túi áo gi lê.

"Anh lỡ mua vé cho buổi diễn tối nay rồi," anh cất tiếng, cố gượng tỏ ra hào hiệp để xua đi bầu không khí ngột ngạt. "Nếu em-"

Xưa nay Nancy vẫn luôn ngưỡng mộ lòng can đảm mỗi khi cô bắt gặp nó.

"Em sẽ đi cùng anh, Dan," cô khẽ nói.

Ba tháng ròng rã trôi qua trước khi Nancy gặp lại Lou.

Vào một buổi chạng vạng nọ, cô gái bán hàng đang tất tả cuốc bộ về nhà dọc theo rìa một công viên nhỏ yên tĩnh. Chợt nghe có tiếng gọi tên mình, cô quay ngoắt lại vừa vặn đón lấy Lou đang lao tới ôm chầm lấy mình.

Sau cái ôm vồ vập đầu tiên, cả hai rụt đầu lại như những con rắn thường làm, trong tư thế sẵn sàng tấn công hoặc quyến rũ, với hàng ngàn câu hỏi run rẩy chực trào trên đầu lưỡi liến thoắng. Và rồi Nancy nhận ra sự giàu sang đã trút xuống người Lou, hiện rõ mồn một qua chiếc áo lông thú đắt tiền, những viên đá quý lấp lánh, cùng muôn vàn tuyệt tác nghệ thuật từ bàn tay các thợ may.

"Cái đồ ngốc này!" Lou kêu lên, to tiếng mà đầy âu yếm. "Mình thấy cậu vẫn đang chôn chân trong cái cửa hàng đó, và vẫn tàn tạ như mọi khi. Thế còn mẻ cá lớn mà cậu định cất thì sao - vẫn trắng tay à, mình đoán thế?"

Và rồi đến lượt Lou nhìn, và cô thấy có một điều gì đó còn tuyệt vời hơn cả sự giàu sang đã tìm đến với đời Nancy - một điều gì đó tỏa sáng rực rỡ trong ánh mắt cô hơn mọi viên ngọc, thắm đỏ trên gò má cô hơn bất kỳ đóa hồng nào, và nhảy múa như một dòng điện khao khát tuôn trào khỏi đầu lưỡi cô.

"Đúng vậy, mình vẫn ở cửa hàng," Nancy đáp lời, "nhưng tuần tới mình sẽ nghỉ việc. Mình đã tóm được con mồi của mình rồi - con mồi lớn nhất thế gian. Cậu sẽ không để bụng đâu Lou, phải không? - Mình sắp kết hôn với Dan rồi - với Dan! - anh ấy là Dan của mình bây giờ - ôi, Lou!"

Bên góc công viên, một chàng cảnh sát trẻ măng vừa ra trường đang rảo bước tuần tra, mang theo gương mặt nhẵn nhụi làm dịu bớt vẻ cứng nhắc của lực lượng an ninh - ít nhất là đối với mắt nhìn. Anh ta thấy một người phụ nữ khoác áo lông thú đắt tiền, đôi bàn tay lấp lánh những chiếc nhẫn kim cương đang thu mình tựa vào hàng rào sắt của công viên mà nức nở dữ dội, trong khi một cô gái làm công ăn lương mảnh khảnh, ăn vận tuềnh toàng đang cúi sát vào, ra sức dỗ dành cô ấy. Nhưng viên cảnh sát có dáng dấp hệt như tranh vẽ của Gibson11 này, một đại diện cho thế hệ mới, đã lặng lẽ bước đi, vờ như không mảy may chú ý. Anh ta đủ khôn ngoan để hiểu rằng những vấn đề thế này nằm ngoài tầm can thiệp của thứ quyền lực mà anh ta đại diện, dẫu cho anh ta có nện chiếc gậy tuần tra xuống vỉa hè đến mức âm thanh vang dội tới tận những vì sao xa xôi nhất đi chăng nữa.



  1. Trong các tôn giáo khởi thủy từ Abraham, Gabriel là một vị tổng lãnh thiên thần. Chi tiết "thổi bay tất cả chúng ta" ám chỉ niềm tin rằng Gabriel sẽ thổi kèn báo hiệu Ngày Phán Xét cuối cùng. ↩

  2. Ám chỉ bài đồng dao nổi tiếng của tiếng Anh "Mary Had a Little Lamb" (Mary có một chú cừu non), trong đó chú cừu luôn lẽo đẽo đi theo Mary mọi lúc mọi nơi. ↩

  3. "New England conscience" là cụm từ ám chỉ hệ đạo đức vô cùng khắt khe, nghiêm ngặt của những người Thanh giáo (Puritans) định cư ở vùng New England (Mỹ), nơi họ luôn tự dằn vặt về những tội lỗi dù là nhỏ nhất. ↩

  4. Trong nguyên tác, cụm từ này là "prunes and prism" (mận khô và lăng kính), bắt nguồn từ tiểu thuyết Little Dorrit của Charles Dickens. Đây là một bài tập luyện phát âm phổ biến nhằm giúp các quý cô thời Victoria có được khuôn miệng chúm chím và phong thái đoan trang. ↩

  5. Một khái niệm tiếng Pháp, ngụ ý rằng những người sinh ra trong tầng lớp quý tộc hoặc có địa vị cao trong xã hội phải có nghĩa vụ hành xử cao thượng, hào phóng và có trách nhiệm với những người ở tầng lớp dưới. ↩

  6. Nhân vật trong một truyền thuyết châu Phi, vị vua nổi tiếng vì đã đem lòng yêu và cưới một cô gái ăn mày (the Beggar Maid). ↩

  7. Một loại nước hoa (chiết xuất từ phấn hoa cỏ) rất thịnh hành vào đầu thế kỷ 20, có mùi thơm nồng đậm đặc trưng. ↩

  8. Đạo Mormon (Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô) trong thời kỳ đầu có thực hành chế độ đa thê (một người đàn ông có nhiều vợ). ↩

  9. Nhân vật trong Kinh Thánh, người đã bán quyền trưởng nam (quyền thừa kế) của mình cho người em sinh đôi Jacob chỉ để đổi lấy một bát súp đậu lăng vì quá đói. Cụm từ ám chỉ việc đánh đổi những giá trị to lớn, lâu dài để lấy cái lợi nhỏ nhoi, trước mắt. ↩

  10. Một nhân vật trong Kinh Thánh, được miêu tả là một "thợ săn dũng mãnh trước mặt Chúa". Tên của ông thường được dùng như một danh từ chung để chỉ những thợ săn tài ba. ↩

  11. Ám chỉ hình mẫu "Gibson Man" (hoặc "Gibson Girl"), chuẩn mực về vẻ đẹp thể chất của thanh niên Mỹ đầu thế kỷ 20 do họa sĩ Charles Dana Gibson sáng tạo ra. "Gibson Man" thường có thân hình vạm vỡ, gương mặt góc cạnh và nhẵn nhụi. ↩