CHƯƠNG I. DẤU VẾT CỦA THỊT
Hai bên dòng nước đóng băng, rừng thông đen kịt đứng cau có. Một cơn gió mới quét qua đã lột sạch lớp tuyết trắng trên những tán cây, phơi ra dáng hình đen tối của chúng - chúng dường như đang nghiêng về phía nhau, đầy hăm dọa trong ánh sáng nhạt dần. Vùng đất chìm trong một sự tĩnh lặng bao la. Tất cả chỉ là một cõi hoang tàn: không sự sống, không lay động, cô đơn và lạnh lẽo đến mức ngay cả linh hồn của nó cũng chẳng vướng chút buồn đau. Ẩn đâu đó trong đó là một chút âm hưởng của tiếng cười - nhưng đó là thứ tiếng cười còn đáng sợ hơn mọi nỗi buồn, một tiếng cười không niềm vui, giống như nụ cười của tượng nhân sư1, lạnh buốt như sương giá và mang theo cái tàn nhẫn hiển nhiên của những điều không thể nào sai lầm. Đó là sự khôn ngoan uyên thâm và bất khả truyền đạt của cõi vĩnh hằng, đang khinh khỉnh cười nhạo sự phù phiếm của sự sống và mọi nỗ lực mà sự sống dám cất lên. Đó chính là chốn Hoang dã - chốn Hoang dã man rợ, lạnh thấu xương của Vùng đất phương Bắc.
Nhưng trên vùng đất này, vẫn có sự sống - một sự sống đầy thách thức. Dọc theo dòng nước phủ băng, một đàn chó lai sói đang ì ạch bước đi. Lớp lông cứng cáp của chúng bị sương giá phủ trắng. Hơi thở vừa thoát khỏi mõm đã đóng băng ngay trong không khí, phun ra thành từng đám sương mù bám lên da lông rồi kết thành những tinh thể băng li ti. Những con chó được thắng yếm da, nối vào cỗ xe trượt tuyết bằng những sợi dây kéo cũng bằng da. Cỗ xe không hề có càng trượt2. Nó được làm bằng vỏ cây phong dày, toàn bộ mặt đáy đè sát lên tuyết. Phần đầu xe được uốn cong lên tựa như một cuộn giấy, để ép những đợt tuyết xốp đang dềnh lên như sóng phía trước xe. Trên cỗ xe, một chiếc hộp hình chữ nhật dài và hẹp được buộc thật chặt. Trên xe còn có những thứ khác - chăn, một cái rìu, một ấm cà phê, và một cái chảo rán; nhưng thứ nổi bật nhất, chiếm gần trọn không gian, chính là chiếc hộp hình chữ nhật dài và hẹp ấy.
Đi trước bầy chó, trên đôi giày tuyết bản rộng3, một người đàn ông đang nhọc nhằn bước. Phía sau cỗ xe là người đàn ông thứ hai. Còn trên cỗ xe, bên trong chiếc hộp, là người đàn ông thứ ba - người đã kết thúc mọi nỗi nhọc nhằn, một con người đã bị chốn Hoang dã đánh quỵ, khuất phục cho đến khi không bao giờ còn có thể lay động hay vật lộn được nữa. Chốn Hoang dã không ưa chuyển động. Sự sống đối với nó là một sự xúc phạm, bởi sự sống chính là chuyển động; và chốn Hoang dã luôn tìm cách tiêu diệt mọi chuyển động. Nó đóng băng dòng nước để ngăn nước chảy về biển; nó rút cạn nhựa cây đến khi nhựa đông cứng tận sâu trong lòng những thân gỗ khổng lồ; và điều hung dữ, tàn bạo nhất - chốn Hoang dã không ngừng quấy nhiễu và nghiền nát con người, ép con người phải khuất phục. Con người - sinh vật chẳng bao giờ chịu ngồi yên, luôn nổi loạn chống lại phán quyết rằng mọi chuyển động rồi cũng sẽ phải dừng.
Thế nhưng, cả phía trước lẫn phía sau, hai người đàn ông còn sống vẫn bước đi không sợ hãi, không khuất phục. Cơ thể họ được bọc kín trong lông thú và da thuộc mềm mại. Lông mi, má và môi họ bị những tinh thể từ hơi thở đông cứng phủ trắng xóa, khiến gương mặt người nào người nấy đều không còn phân biệt được. Trông họ như những chiếc mặt nạ ma quái, những phường đào huyệt trong một thế giới âm linh đang chủ trì tang lễ cho một hồn ma nào đó. Nhưng bên dưới tất cả những lớp băng giá ấy, họ vẫn là những con người dấn thân vào miền đất hoang tàn đầy chế nhạo và lặng câm - những kẻ thám hiểm tí hon đang lao mình vào một cuộc phiêu lưu vĩ đại, tự đem thân ra đọ sức với sức mạnh của một thế giới xa xôi, xa lạ và vô tri như chính những vực thẳm của không gian.
Họ lặng lẽ di chuyển, dành dụm từng hơi thở cho công việc của cơ thể. Tứ phía, sự im lặng vây bủa họ như một thực thể hữu hình. Nó đè nén tâm trí họ chẳng khác gì áp suất nước sâu đè lên cơ thể người thợ lặn. Nó nghiền nát họ dưới sức nặng của sự bao la vô cùng và phán quyết không thể lay chuyển. Nó dồn ép họ lùi sâu vào tận những ngóc ngách xa thẳm nhất trong tâm trí, vắt kiệt mọi cường điệu giả tạo, mọi bồng bột và ngạo mạn thái quá của tâm hồn con người, cho đến khi họ nhận ra chính mình chỉ là những sinh linh hữu hạn và nhỏ nhoi - những đốm sáng, những hạt bụi - đang len lỏi bằng thứ khôn ngoan yếu ớt và trí tuệ bé mọn giữa cuộc giỡn đùa và va đập của những sức mạnh mù quáng, vĩ đại của tự nhiên.
Một giờ trôi qua, rồi thêm một giờ nữa. Ánh sáng nhợt nhạt của ngày đông ngắn ngủi không mặt trời đang tắt dần, thì từ trong không khí tĩnh lặng vọng lên một tiếng kêu xa xăm, mơ hồ. Nó bay vút lên cao bằng một nhịp dồn dập, đạt đến nốt đỉnh rồi lơ lửng ở đó, rung lên và căng cứng, trước khi dần dần lịm tắt. Có thể người ta sẽ tưởng đó là tiếng than khóc của một linh hồn lạc lối, nếu như nó không mang trong mình một nét hoang dại u buồn và một niềm khao khát đói cồn cào. Người đàn ông đi trước ngoảnh đầu lại, cho đến khi ánh mắt anh chạm ánh mắt của người đi sau. Rồi ngang qua chiếc hộp hình chữ nhật hẹp, mỗi người khẽ gật đầu với người kia.
Tiếng kêu thứ hai cất lên, xé toạc sự tĩnh lặng bằng một âm thanh nhói buốt tựa mũi kim. Cả hai người đều định vị được hướng của nó. Âm thanh phát ra từ phía sau, đâu đó trên dải tuyết trắng mà họ vừa đi qua. Tiếng kêu thứ ba đáp lại, cũng từ phía sau, và chếch về bên trái của tiếng kêu thứ hai.
"Chúng đang theo dấu chúng ta đấy, Bill," người đàn ông đi trước cất tiếng.
Giọng anh khàn đặc và hư ảo, và anh phải nói với một nỗ lực rõ rệt.
"Thịt đang khan hiếm lắm," người bạn đồng hành đáp lời. "Tôi không thấy dấu vết thỏ nào suốt mấy ngày nay rồi."
Rồi họ lại im lặng, dù đôi tai vẫn căng ra đón nhặt những tiếng kêu săn mồi không ngớt vang lên từ phía sau.
Khi màn đêm buông xuống, họ lùa bầy chó vào một lùm thông già nép bên mép nước đóng băng rồi dựng trại. Chiếc quan tài dài, đặt kề bên đống lửa, vừa làm ghế ngồi vừa kê làm bàn. Bầy chó lai sói quây lại phía bên kia ngọn lửa, gầm gừ và nhe nanh cắn xé lẫn nhau, nhưng không con nào tỏ vẻ muốn lang thang vào bóng tối.
"Có vẻ như chúng đang ở rất gần trại rồi, Henry ạ," Bill nhận xét.
Henry đang ngồi xổm bên đống lửa, thả một viên nước đá vào ấm pha cà phê, khẽ gật đầu. Anh chẳng buồn nói gì cho đến khi đã ngồi xuống chiếc quan tài và bắt đầu dùng bữa.
"Bọn chúng biết chỗ nào an toàn cho bộ da của mình," anh lên tiếng. "Thà ăn phần thức ăn của mình còn hơn làm mồi cho kẻ khác. Bọn chó này khôn thật đấy."
Bill lắc đầu. "Ồ, tôi chẳng biết nữa."
Người bạn đồng hành nhìn anh đầy tò mò. "Lần đầu tiên tôi nghe thấy anh nói bọn chúng không khôn đấy."
"Này, Henry," Bill nói, chậm rãi nhai mấy hạt đậu đang ăn dở, "anh có để ý đến cái cách bọn chó làm loạn lên lúc tôi đang cho chúng ăn không?"
"Đúng là chúng đã quậy dữ hơn bình thường," Henry thừa nhận.
"Chúng ta có bao nhiêu con chó, Henry?"
"Sáu."
"À, Henry này..." Bill ngập ngừng một thoáng, cốt để lời sắp nói mang thêm sức nặng. "Như tôi vừa nói đấy, Henry, chúng ta có sáu con chó. Tôi lấy sáu con cá trong túi ra. Tôi chia mỗi con một con cá. Thế mà, Henry này, tôi lại bị thiếu mất một con cá."
"Anh đếm nhầm rồi."
"Chúng ta có sáu con chó," Bill nhắc lại, giọng ráo hoảnh. "Tôi đã lấy ra sáu con cá. One Ear4 không có con cá nào hết. Thế là sau đó tôi quay lại cái túi và lấy cá cho nó."
"Chúng ta chỉ có sáu con chó thôi mà," Henry nói.
"Henry," Bill tiếp tục. "Tôi không dám nói rằng tất cả đều là chó đâu, nhưng đã có bảy cái miệng nhận được cá."
Henry ngừng ăn và liếc qua đống lửa, đếm lại bầy chó.
"Giờ chỉ còn sáu con thôi," anh nói.
"Tôi đã thấy con kia chạy vụt qua bãi tuyết," Bill tuyên bố với một vẻ quả quyết lạnh tanh. "Tôi đã thấy bảy con."
Henry nhìn anh bằng ánh mắt pha chút thương cảm rồi nói: "Tôi sẽ mừng khôn xiết khi chuyến đi này kết thúc."
"Ý anh là sao?" Bill hỏi dồn.
"Ý tôi là cái món hàng chúng ta đang chở nó đè nặng lên thần kinh của anh đấy, và anh đang bắt đầu thấy ảo giác rồi."
"Tôi cũng đã nghĩ đến điều đó," Bill đáp lại bằng giọng nghiêm túc. "Thế nên, khi thấy nó chạy qua bãi tuyết, tôi đã nhìn xuống lớp tuyết và thấy rõ dấu chân của nó. Rồi tôi đếm lại bầy chó, vẫn nguyên sáu con. Dấu chân hãy còn in trên tuyết lúc này đây. Anh muốn ra xem không? Tôi sẽ chỉ cho anh."
Henry chẳng đáp lời, chỉ lặng lẽ nhai cho đến khi bữa ăn kết thúc và anh uống cạn ngụm cà phê cuối cùng. Anh lau miệng bằng mu bàn tay rồi nói:
"Vậy là anh đang nghĩ rằng nó là-"
Một tiếng kêu dài và thê lương đến tàn nhẫn từ một nơi nào đó trong bóng tối cắt ngang lời anh. Anh dừng lại, lắng nghe tiếng kêu ấy, rồi kết thúc câu nói bằng một cái vẫy tay về phía âm thanh vừa vọng tới, "-một trong số chúng?"
Bill gật đầu. "Tôi thà nghĩ thế còn hơn là nghĩ đến bất kỳ điều gì khác. Chính anh cũng nhận ra cái sự ầm ĩ bọn chó đã gây ra còn gì."
Tiếng tru này nối tiếp tiếng tru kia, và những tiếng đáp lời vọng về từ xa, xé toang màn tĩnh mịch thành một cơn cuồng loạn hỗn mang. Khắp bốn phía, tiếng hú dậy lên như sóng dữ, và lũ chó bày tỏ nỗi khiếp hãi bằng cách co rúm vào nhau, lết sát về phía đống lửa đến nỗi lông chúng xém khét vì hơi nóng. Bill ném thêm củi vào lửa rồi mới châm tẩu thuốc.
"Tôi đang nghĩ trông anh có vẻ hơi chán nản đấy," Henry cất lời.
"Henry này..." Bill chép miệng trầm ngâm bên chiếc tẩu một lát rồi mới nói tiếp. "Henry, tôi đang nghĩ lão ta may mắn hơn anh với tôi nhiều về sau này đấy."
Hắn hất ngón tay cái về phía chiếc hòm họ đang ngồi lên, chỉ vào kẻ thứ ba trong cuộc trò chuyện.
"Anh và tôi, Henry à, đến lúc chết đi, có khi may lắm mới kiếm nổi vài hòn đá đắp lên xác để lũ chó khỏi xơi mất."
"Nhưng chúng ta đâu có người thân, tiền bạc và đủ thứ như lão," Henry đáp. "Tang lễ đường trường là thứ anh với tôi không kham nổi đâu."
"Điều tôi thắc mắc, Henry ạ, là một gã như lão này - một lãnh chúa hay kẻ quyền thế gì đó ở xứ sở lão - chưa từng phải lo nghĩ về miếng ăn hay tấm chăn; thế quái nào lão lại lặn lội đến tận chốn khỉ ho cò gáy cùng tận của quả đất này? Điều đó tôi không tài nào hiểu nổi."
"Lão hẳn đã sống yên ổn đến già nếu cứ ở nhà," Henry tán thành.
Bill mở miệng toan nói, nhưng lại thôi. Thay vào đó, hắn chỉ tay ra phía bức tường bóng tối đang đè nặng lên họ từ bốn phương tám hướng. Trong màn đen đặc quánh, chẳng thể nhận ra một hình thù gì; duy chỉ một đôi mắt lập lòe như những hòn than hồng rực là hiển hiện. Henry hất đầu về phía đôi mắt thứ hai, rồi đôi mắt thứ ba. Một vòng tròn những đôi mắt rực sáng đã vây kín trại của họ. Đôi khi, một đôi mắt dịch chuyển, hoặc biến mất rồi lại hiện ra chỉ sau khoảnh khắc.
Lũ chó càng lúc càng bất an, chúng giẫm đạp lên nhau, rồi trong một cơn hốt hoảng bất thần, đồng loạt dồn về phía đống lửa, co dúm lại và luồn lách quanh chân hai người đàn ông. Trong cơn chen lấn hỗn loạn, một con chó bị lật ngửa ngay mép lửa, và tiếng kêu thất thanh vì đau đớn cùng sợ hãi của nó vang lên khi mùi lông cháy khét lẹt bay vào không khí. Cơn xáo động khiến vòng tròn những đôi mắt bồn chồn thoáng lùi ra xa trong giây lát, nhưng rồi chúng lại ổn định vị trí cũ ngay khi lũ chó im bặt trở lại.
"Henry, thật là xui xẻo hết chỗ nói khi hết sạch đạn."
Bill đã hút xong tẩu thuốc và đang giúp bạn đồng hành trải tấm nệm lông thú cùng chăn lên những cành thông hắn đã lót trên tuyết trước bữa tối. Henry càu nhàu, và bắt đầu tháo dây giày da đanh.
"Anh bảo còn bao nhiêu viên?" hắn hỏi.
"Ba," câu trả lời vẳng đến. "Và tôi ước gì đó là ba trăm viên. Lúc ấy tôi sẽ cho chúng biết tay, khốn kiếp!"
Hắn giận dữ vung nắm đấm về phía những đôi mắt rực sáng, rồi bắt đầu cẩn thận dựng đôi giày da đanh của mình trước đống lửa.
"Và tôi ước gì cái đợt rét căm căm này tan đi cho rồi," hắn nói tiếp. "Trời đã âm năm mươi độ suốt hai tuần nay rồi. Và tôi ước gì mình chưa từng dấn thân vào chuyến đi này, Henry ạ. Tôi không ưa cái cảnh này chút nào. Kiểu gì ấy, tôi thấy bất an lắm. Và trong lúc đang ước, tôi ước gì chuyến đi đã kết thúc êm đẹp, và anh với tôi đang ngồi bên đống lửa ở Pháo đài McGurry5 ngay lúc này, chơi bài cribbage6 - đó mới là điều tôi ước."
Henry càu nhàu rồi chui vào ổ. Đang thiu thiu chìm vào giấc ngủ, hắn bị đánh thức bởi giọng của Bill.
"Này, Henry, con kia lẻn vào và chộp được một con cá - sao lũ chó không xông vào mà cắn nó nhỉ? Điều đó làm tôi băn khoăn quá."
"Anh đang băn khoăn hơi nhiều đấy, Bill à," câu trả lời ngái ngủ vọng lại. "Trước đây anh có bao giờ như thế này đâu. Giờ im đi, ngủ đi, sáng mai anh sẽ ổn cả thôi. Dạ dày anh đang bị chua đấy, vì thế mới khó chịu."
Những người đàn ông chìm vào giấc ngủ, hơi thở nặng nề, nằm cạnh nhau dưới cùng một tấm chăn. Đống lửa tàn dần, và vòng tròn những đôi mắt rực sáng siết chặt lại gần khu trại hơn. Lũ chó co cụm vào nhau trong nỗi sợ hãi, thỉnh thoảng gầm gừ đe dọa mỗi khi một đôi mắt tiến đến quá gần. Có một lần, tiếng ồn ào của chúng trở nên quá lớn, đánh thức Bill dậy. Hắn rời ổ một cách cẩn trọng, cố không làm phiền giấc ngủ của bạn đồng hành, rồi ném thêm củi vào đống lửa. Khi lửa bùng lên, vòng tròn những đôi mắt lùi ra xa hơn. Hắn thản nhiên liếc nhìn lũ chó đang co rúm vào nhau. Hắn dụi mắt và nhìn kỹ hơn. Rồi hắn lại chui vào trong chăn.
"Henry," hắn cất tiếng. "Ờ, Henry."
Henry rên rỉ khi lần mò từ cơn ngủ trở về với thực tại, và hỏi: "Giờ lại có chuyện gì nữa đây?"
"Chẳng có gì," câu trả lời vọng đến; "chỉ là lại còn bảy con thôi. Tôi vừa đếm xong."
Henry xác nhận đã nhận được thông tin bằng một tiếng càu nhàu, rồi chuyển thành tiếng ngáy khi hắn chìm trở lại vào giấc ngủ.
Sáng hôm ấy, Henry là người dậy trước tiên và lay gọi người bạn đồng hành của mình trở dậy. Còn những ba tiếng nữa trời mới hửng sáng, dù kim đồng hồ đã điểm sáu giờ; và trong màn đêm dày đặc, Henry lần mò chuẩn bị bữa điểm tâm, trong khi Bill cuộn chăn màn rồi sửa soạn xe trượt tuyết sẵn sàng để buộc dây.
"Này Henry," Bill đột ngột lên tiếng, "anh bảo bầy chó mình có mấy con nhỉ?"
"Sáu."
"Sai rồi," Bill tuyên bố với vẻ đắc thắng.
"Lại bảy con à?" Henry ngờ vực hỏi.
"Không, năm thôi; một con đã biến mất dạng rồi."
"Khỉ thật!" Henry giận dữ thốt lên, bỏ dở nồi niêu đang nấu để bước tới đếm lại lũ chó.
"Anh nói đúng đấy, Bill," anh kết luận. "Fatty7 mất tiêu rồi."
"Thế mà nó vụt đi nhanh như một tia chớp vậy. Nhanh đến mức chẳng thấy gì ngoài một luồng khói mờ."
"Làm gì có cơ hội nào thoát được," Henry nhận định. "Bọn chúng nuốt sống nó thôi. Tôi dám chắc nó còn kêu rên réo lên khi trôi tuột xuống cổ họng lũ sói, khỉ thật!"
"Xưa nay nó vốn là một con chó ngu ngốc mà," Bill nói.
"Nhưng chẳng có con chó ngu ngốc nào lại đáng phải ngu đến mức tự ý bỏ đi và tự sát theo cái cách ấy cả." Henry đưa mắt nhìn lướt qua những con còn lại trong bầy với ánh nhìn sắc sảo, chỉ trong thoáng chốc đã đánh giá được từng nét nổi bật của mỗi con vật. "Tôi cá là chẳng còn con nào khác dại dột làm cái trò ấy đâu."
"Có lấy gậy mà đuổi chúng nó cũng chẳng chịu rời khỏi đống lửa ấy chứ," Bill tán đồng. "Với lại, tôi vẫn luôn nghĩ là có điều gì đó không ổn ở Fatty."
Và đó chính là tấm bia mộ của một con chó đã bỏ xác trên con đường mòn Phương Bắc - một tấm bia mộ còn tồi tàn hơn cả bia mộ của biết bao con chó khác, của biết bao kiếp người.
-
Nhân sư (Sphinx) là sinh vật thần thoại có đầu người mình sư tử trong văn hóa Ai Cập cổ. Nụ cười của tượng nhân sư thường tượng trưng cho sự bí ẩn, vô cảm và quyền uy tuyệt đối, ở đây ám chỉ sự lạnh lùng, tàn nhẫn của thiên nhiên hoang dã trước số phận mỏng manh của con người. ↩
-
Nguyên tác mô tả loại xe trượt 'toboggan' truyền thống của người bản địa Bắc Mỹ. Khác với xe kéo (sled) thông thường, nó có mặt phẳng làm bằng ván gỗ đè sát xuống tuyết và không có các thanh càng trượt (runners), giúp xe lướt trên bề mặt tuyết mềm mà không bị lún kẹt. ↩
-
Giày đi tuyết (snowshoes) có thiết kế khung rộng đan lưới giúp phân tán trọng lượng cơ thể người mang, chống lún khi đi trên bề mặt lớp tuyết dày xốp. Đây là công cụ di chuyển và sinh tồn thiết yếu của người dân vùng Bắc Mỹ. ↩
-
Nghĩa đen là 'Một Tai'. ↩
-
Một trạm giao thương (trading post) hư cấu nằm sâu trong vùng phương Bắc hoang dã. Đối với những người đi đường, nó tượng trưng cho nền văn minh, sự an toàn, chỗ trú ẩn ấm áp giữa muôn trùng băng giá. ↩
-
Cribbage là một trò chơi đánh bài chiến thuật rất phổ biến ở Bắc Mỹ thời kỳ này, sử dụng một bàn gỗ nhỏ đục lỗ cắm các chốt để tính điểm. Nó là trò tiêu khiển quen thuộc giúp những người thợ săn và dân khai hoang giết thời gian trong những đêm đông dài dằng dặc. ↩
-
Nghĩa đen là 'Mập'. ↩
CHAPTER I THE TRAIL OF THE MEAT
Dark spruce forest frowned on either side the frozen waterway. The trees had been stripped by a recent wind of their white covering of frost, and they seemed to lean towards each other, black and ominous, in the fading light. A vast silence reigned over the land. The land itself was a desolation, lifeless, without movement, so lone and cold that the spirit of it was not even that of sadness. There was a hint in it of laughter, but of a laughter more terrible than any sadness-a laughter that was mirthless as the smile of the sphinx, a laughter cold as the frost and partaking of the grimness of infallibility. It was the masterful and incommunicable wisdom of eternity laughing at the futility of life and the effort of life. It was the Wild, the savage, frozen-hearted Northland Wild.
But there was life, abroad in the land and defiant. Down the frozen waterway toiled a string of wolfish dogs. Their bristly fur was rimed with frost. Their breath froze in the air as it left their mouths, spouting forth in spumes of vapour that settled upon the hair of their bodies and formed into crystals of frost. Leather harness was on the dogs, and leather traces attached them to a sled which dragged along behind. The sled was without runners. It was made of stout birch-bark, and its full surface rested on the snow. The front end of the sled was turned up, like a scroll, in order to force down and under the bore of soft snow that surged like a wave before it. On the sled, securely lashed, was a long and narrow oblong box. There were other things on the sled-blankets, an axe, and a coffee-pot and frying-pan; but prominent, occupying most of the space, was the long and narrow oblong box.
In advance of the dogs, on wide snowshoes, toiled a man. At the rear of the sled toiled a second man. On the sled, in the box, lay a third man whose toil was over,-a man whom the Wild had conquered and beaten down until he would never move nor struggle again. It is not the way of the Wild to like movement. Life is an offence to it, for life is movement; and the Wild aims always to destroy movement. It freezes the water to prevent it running to the sea; it drives the sap out of the trees till they are frozen to their mighty hearts; and most ferociously and terribly of all does the Wild harry and crush into submission man-man who is the most restless of life, ever in revolt against the dictum that all movement must in the end come to the cessation of movement.
But at front and rear, unawed and indomitable, toiled the two men who were not yet dead. Their bodies were covered with fur and soft-tanned leather. Eyelashes and cheeks and lips were so coated with the crystals from their frozen breath that their faces were not discernible. This gave them the seeming of ghostly masques, undertakers in a spectral world at the funeral of some ghost. But under it all they were men, penetrating the land of desolation and mockery and silence, puny adventurers bent on colossal adventure, pitting themselves against the might of a world as remote and alien and pulseless as the abysses of space.
They travelled on without speech, saving their breath for the work of their bodies. On every side was the silence, pressing upon them with a tangible presence. It affected their minds as the many atmospheres of deep water affect the body of the diver. It crushed them with the weight of unending vastness and unalterable decree. It crushed them into the remotest recesses of their own minds, pressing out of them, like juices from the grape, all the false ardours and exaltations and undue self-values of the human soul, until they perceived themselves finite and small, specks and motes, moving with weak cunning and little wisdom amidst the play and inter-play of the great blind elements and forces.
An hour went by, and a second hour. The pale light of the short sunless day was beginning to fade, when a faint far cry arose on the still air. It soared upward with a swift rush, till it reached its topmost note, where it persisted, palpitant and tense, and then slowly died away. It might have been a lost soul wailing, had it not been invested with a certain sad fierceness and hungry eagerness. The front man turned his head until his eyes met the eyes of the man behind. And then, across the narrow oblong box, each nodded to the other.
A second cry arose, piercing the silence with needle-like shrillness. Both men located the sound. It was to the rear, somewhere in the snow expanse they had just traversed. A third and answering cry arose, also to the rear and to the left of the second cry.
“They’re after us, Bill,” said the man at the front.
His voice sounded hoarse and unreal, and he had spoken with apparent effort.
“Meat is scarce,” answered his comrade. “I ain’t seen a rabbit sign for days.”
Thereafter they spoke no more, though their ears were keen for the hunting-cries that continued to rise behind them.
At the fall of darkness they swung the dogs into a cluster of spruce trees on the edge of the waterway and made a camp. The coffin, at the side of the fire, served for seat and table. The wolf-dogs, clustered on the far side of the fire, snarled and bickered among themselves, but evinced no inclination to stray off into the darkness.
“Seems to me, Henry, they’re stayin’ remarkable close to camp,” Bill commented.
Henry, squatting over the fire and settling the pot of coffee with a piece of ice, nodded. Nor did he speak till he had taken his seat on the coffin and begun to eat.
“They know where their hides is safe,” he said. “They’d sooner eat grub than be grub. They’re pretty wise, them dogs.”
Bill shook his head. “Oh, I don’t know.”
His comrade looked at him curiously. “First time I ever heard you say anything about their not bein’ wise.”
“Henry,” said the other, munching with deliberation the beans he was eating, “did you happen to notice the way them dogs kicked up when I was a-feedin’ ’em?”
“They did cut up more’n usual,” Henry acknowledged.
“How many dogs ’ve we got, Henry?”
“Six.”
“Well, Henry . . . ” Bill stopped for a moment, in order that his words might gain greater significance. “As I was sayin’, Henry, we’ve got six dogs. I took six fish out of the bag. I gave one fish to each dog, an’, Henry, I was one fish short.”
“You counted wrong.”
“We’ve got six dogs,” the other reiterated dispassionately. “I took out six fish. One Ear didn’t get no fish. I came back to the bag afterward an’ got ’m his fish.”
“We’ve only got six dogs,” Henry said.
“Henry,” Bill went on. “I won’t say they was all dogs, but there was seven of ’m that got fish.”
Henry stopped eating to glance across the fire and count the dogs.
“There’s only six now,” he said.
“I saw the other one run off across the snow,” Bill announced with cool positiveness. “I saw seven.”
Henry looked at him commiseratingly, and said, “I’ll be almighty glad when this trip’s over.”
“What d’ye mean by that?” Bill demanded.
“I mean that this load of ourn is gettin’ on your nerves, an’ that you’re beginnin’ to see things.”
“I thought of that,” Bill answered gravely. “An’ so, when I saw it run off across the snow, I looked in the snow an’ saw its tracks. Then I counted the dogs an’ there was still six of ’em. The tracks is there in the snow now. D’ye want to look at ’em? I’ll show ’em to you.”
Henry did not reply, but munched on in silence, until, the meal finished, he topped it with a final cup of coffee. He wiped his mouth with the back of his hand and said:
“Then you’re thinkin’ as it was-”
A long wailing cry, fiercely sad, from somewhere in the darkness, had interrupted him. He stopped to listen to it, then he finished his sentence with a wave of his hand toward the sound of the cry, “-one of them?”
Bill nodded. “I’d a blame sight sooner think that than anything else. You noticed yourself the row the dogs made.”
Cry after cry, and answering cries, were turning the silence into a bedlam. From every side the cries arose, and the dogs betrayed their fear by huddling together and so close to the fire that their hair was scorched by the heat. Bill threw on more wood, before lighting his pipe.
“I’m thinking you’re down in the mouth some,” Henry said.
“Henry . . . ” He sucked meditatively at his pipe for some time before he went on. “Henry, I was a-thinkin’ what a blame sight luckier he is than you an’ me’ll ever be.”
He indicated the third person by a downward thrust of the thumb to the box on which they sat.
“You an’ me, Henry, when we die, we’ll be lucky if we get enough stones over our carcases to keep the dogs off of us.”
“But we ain’t got people an’ money an’ all the rest, like him,” Henry rejoined. “Long-distance funerals is somethin’ you an’ me can’t exactly afford.”
“What gets me, Henry, is what a chap like this, that’s a lord or something in his own country, and that’s never had to bother about grub nor blankets; why he comes a-buttin’ round the Godforsaken ends of the earth-that’s what I can’t exactly see.”
“He might have lived to a ripe old age if he’d stayed at home,” Henry agreed.
Bill opened his mouth to speak, but changed his mind. Instead, he pointed towards the wall of darkness that pressed about them from every side. There was no suggestion of form in the utter blackness; only could be seen a pair of eyes gleaming like live coals. Henry indicated with his head a second pair, and a third. A circle of the gleaming eyes had drawn about their camp. Now and again a pair of eyes moved, or disappeared to appear again a moment later.
The unrest of the dogs had been increasing, and they stampeded, in a surge of sudden fear, to the near side of the fire, cringing and crawling about the legs of the men. In the scramble one of the dogs had been overturned on the edge of the fire, and it had yelped with pain and fright as the smell of its singed coat possessed the air. The commotion caused the circle of eyes to shift restlessly for a moment and even to withdraw a bit, but it settled down again as the dogs became quiet.
“Henry, it’s a blame misfortune to be out of ammunition.”
Bill had finished his pipe and was helping his companion to spread the bed of fur and blanket upon the spruce boughs which he had laid over the snow before supper. Henry grunted, and began unlacing his moccasins.
“How many cartridges did you say you had left?” he asked.
“Three,” came the answer. “An’ I wisht ’twas three hundred. Then I’d show ’em what for, damn ’em!”
He shook his fist angrily at the gleaming eyes, and began securely to prop his moccasins before the fire.
“An’ I wisht this cold snap’d break,” he went on. “It’s ben fifty below for two weeks now. An’ I wisht I’d never started on this trip, Henry. I don’t like the looks of it. I don’t feel right, somehow. An’ while I’m wishin’, I wisht the trip was over an’ done with, an’ you an’ me a-sittin’ by the fire in Fort McGurry just about now an’ playing cribbage-that’s what I wisht.”
Henry grunted and crawled into bed. As he dozed off he was aroused by his comrade’s voice.
“Say, Henry, that other one that come in an’ got a fish-why didn’t the dogs pitch into it? That’s what’s botherin’ me.”
“You’re botherin’ too much, Bill,” came the sleepy response. “You was never like this before. You jes’ shut up now, an’ go to sleep, an’ you’ll be all hunkydory in the mornin’. Your stomach’s sour, that’s what’s botherin’ you.”
The men slept, breathing heavily, side by side, under the one covering. The fire died down, and the gleaming eyes drew closer the circle they had flung about the camp. The dogs clustered together in fear, now and again snarling menacingly as a pair of eyes drew close. Once their uproar became so loud that Bill woke up. He got out of bed carefully, so as not to disturb the sleep of his comrade, and threw more wood on the fire. As it began to flame up, the circle of eyes drew farther back. He glanced casually at the huddling dogs. He rubbed his eyes and looked at them more sharply. Then he crawled back into the blankets.
“Henry,” he said. “Oh, Henry.”
Henry groaned as he passed from sleep to waking, and demanded, “What’s wrong now?”
“Nothin’,” came the answer; “only there’s seven of ’em again. I just counted.”
Henry acknowledged receipt of the information with a grunt that slid into a snore as he drifted back into sleep.
In the morning it was Henry who awoke first and routed his companion out of bed. Daylight was yet three hours away, though it was already six o’clock; and in the darkness Henry went about preparing breakfast, while Bill rolled the blankets and made the sled ready for lashing.
“Say, Henry,” he asked suddenly, “how many dogs did you say we had?”
“Six.”
“Wrong,” Bill proclaimed triumphantly.
“Seven again?” Henry queried.
“No, five; one’s gone.”
“The hell!” Henry cried in wrath, leaving the cooking to come and count the dogs.
“You’re right, Bill,” he concluded. “Fatty’s gone.”
“An’ he went like greased lightnin’ once he got started. Couldn’t ’ve seen ’m for smoke.”
“No chance at all,” Henry concluded. “They jes’ swallowed ’m alive. I bet he was yelpin’ as he went down their throats, damn ’em!”
“He always was a fool dog,” said Bill.
“But no fool dog ought to be fool enough to go off an’ commit suicide that way.” He looked over the remainder of the team with a speculative eye that summed up instantly the salient traits of each animal. “I bet none of the others would do it.”
“Couldn’t drive ’em away from the fire with a club,” Bill agreed. “I always did think there was somethin’ wrong with Fatty anyway.”
And this was the epitaph of a dead dog on the Northland trail-less scant than the epitaph of many another dog, of many a man.