CHƯƠNG III. KẺ BỊ RUỒNG BỎ
Lip-lip tiếp tục phủ bóng đen lên những ngày tháng của Nanh Trắng. Nó khiến Nanh Trắng trở nên xấu xa và hung tợn hơn cả bản tính tự nhiên vốn có. Sự hoang dại đã là một phần máu thịt của nó, nhưng sự hoang dại bị hun đúc theo cách này đã vượt xa cái gốc gác ấy. Giờ đây, ngay trong mắt lũ con vật-người1, Nanh Trắng mang tiếng là một kẻ xấu xa. Bất cứ nơi nào trong trại có rắc rối và náo động - có đánh lộn, có cãi vã, hay tiếng một người phụ nữ réo lên vì miếng thịt bị đánh cắp - thể nào họ cũng thấy Nanh Trắng dính líu vào, và thường là kẻ đứng mũi chịu sào. Họ chẳng buồn tìm hiểu căn nguyên cho hành động của nó. Họ chỉ thấy hậu quả, mà hậu quả thì quá đỗi tồi tệ. Nó là một kẻ lén lút và trộm cắp, một kẻ chuyên gây rối, một mầm mống tai ương. Những người phụ nữ giận dữ mắng thẳng vào mặt nó rằng: đồ sói hoang, đồ vô tích sự, rồi rốt cuộc mày sẽ chết một cái chết thê thảm cho mà xem. Còn nó, nó nhìn họ bằng ánh mắt cảnh giác cao độ, sẵn sàng né tránh bất kỳ vật thể nào bay vụt tới.
Nanh Trắng nhận ra mình là kẻ bị ruồng bỏ ngay giữa lòng khu trại đông đúc. Cả bầy chó non đều nghe theo sự dẫn dắt của Lip-lip. Giữa Nanh Trắng và chúng có một khoảng cách lạ lùng. Có lẽ chúng cảm nhận được dòng máu rừng sâu chảy trong huyết quản nó, và theo bản năng, thứ thù địch mà loài chó nhà dành cho chó sói cứ thế trỗi dậy. Nhưng dù là vì lẽ gì đi nữa, chúng đều hùa theo Lip-lip để bắt nạt nó. Và một khi đã thành kẻ đối đầu với nó, chúng có thừa lý do để nuôi mãi mối thù hằn ấy. Hết lần này tới lần khác, tất cả bọn chúng đều phải nếm mùi hàm răng sắc nhọn của nó. Và - phải nói là đáng khen cho Nanh Trắng - nó trả đũa nhiều hơn những gì mình phải chịu đựng. Nó đủ sức đánh bại nhiều đứa trong số chúng trong một trận tay đôi, nhưng nó lại bị tước mất cái cơ hội ấy. Bởi hễ một trận chiến tay đôi vừa chớm nở, tất cả bầy chó non trong trại liền chạy ùa tới và hùa nhau tấn công nó.
Từ những trận bắt nạt hội đồng ấy, Nanh Trắng học được hai điều trọng yếu: cách tự vệ giữa một cuộc đánh hội đồng - và làm thế nào để gây ra sát thương lớn nhất cho một con chó đơn độc trong khoảng thời gian ngắn nhất. Giữ vững đôi chân trước đám đông thù địch đồng nghĩa với sự sống còn, và nó học được bài học này rất nhanh. Khả năng giữ thăng bằng của nó trở nên linh hoạt như một con mèo rừng. Ngay cả những con chó lớn xác hơn hẳn cũng có thể hất văng nó ra sau hay sang bên bằng sức va chạm từ thân hình nặng nề của chúng. Nó sẽ bay ra sau, bay sang bên, lơ lửng giữa không trung hay trượt dài trên mặt đất - nhưng đôi chân nó luôn luôn hướng xuống, và bốn bàn chân không bao giờ rời khỏi mặt đất mẹ.
Trong thế giới loài chó, một cuộc chiến thường mở màn bằng một nghi thức riêng - những tiếng gầm gừ trầm đục từ sâu trong cuống họng, lớp lông dựng đứng tua tủa trên sống lưng, và dáng đi nghênh ngang cứng nhắc trên bốn cái chân căng cứng như gỗ. Đó là khúc dạo đầu của bạo lực. Nhưng Nanh Trắng đã sớm học được cách bỏ qua tất thảy những màn phô trương ấy. Với nó, chậm trễ dù chỉ một thoáng thôi cũng đồng nghĩa với việc cả bầy chó non sẽ ùa tới và xâu xé nó. Nó phải ra đòn nhanh như chớp rồi lẩn đi ngay lập tức. Thế nên, nó học cách không để lộ bất kỳ dấu hiệu cảnh báo nào về ý định của mình. Nó lao vào, quật ngã, cắn xé - tất cả diễn ra trong một nhịp, không hề có lấy một tín hiệu báo trước, trước khi kẻ thù kịp nhận ra chuyện gì đang giáng xuống đầu mình. Chính nhờ lối đánh ấy, nó đã thuần thục nghệ thuật gây sát thương nhanh và hiểm. Và nó cũng thấm thía cái giá trị khủng khiếp của sự bất ngờ. Một con chó bị đánh úp, vai bị toạc ra hay tai bị xé rách trước khi kịp hiểu điều gì vừa ập đến, thì coi như đã thua một nửa trận rồi.
Hơn thế nữa, quật ngã một con chó đang mất cảnh giác là điều chẳng mấy khó khăn. Và một khi đã ngã ngửa ra đất, con chó ấy - dù chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi - buộc phải phơi bày phần dưới cổ mềm mại, nơi ẩn chứa điểm yếu chí mạng có thể đoạt lấy sinh mạng nó bất cứ lúc nào. Nanh Trắng biết rõ chỗ hiểm ấy. Đó không phải là thứ nó tự khám phá ra, mà là tri thức đã thấm sâu vào máu thịt, được truyền lại trực tiếp qua bao thế hệ sói săn mồi nơi miền hoang dã. Và từ cái vốn di truyền ấy, Nanh Trắng đã rèn giũa cho mình một phương pháp tấn công rành rọt đến lạnh lùng: trước hết, săn tìm một con chó non nào đang lẻ loi một mình; kế đến, đánh úp và quật cho nó ngã dúi xuống đất; và cuối cùng, cắm phập hàm răng vào chính phần cổ họng mềm mại ấy.
Lúc bấy giờ, thân thể nó mới chỉ phát triển được một phần. Hàm của nó chưa đủ to, cũng chưa đủ khỏe để biến mỗi cú ngoạm vào cổ họng thành một đòn kết liễu. Vậy mà, không ít con chó non trong trại đã phải lang thang khắp nơi với những vết rách toác tươm trên cổ, như những minh chứng sống cho ý đồ của Nanh Trắng. Rồi một ngày kia, khi tình cờ bắt gặp một kẻ thù đang lủi thủi một mình nơi ven rừng, nó đã lặp đi lặp lại bài học của mình: quật ngã, rồi lại quật ngã, liên hồi tấn công vào cổ họng con chó nọ cho đến khi cắn đứt phăng động mạch lớn và tước đoạt luôn mạng sống của kẻ thù. Đêm hôm ấy, cả khu trại dậy lên một trận náo loạn kinh hoàng. Hành động của nó đã có kẻ trông thấy. Tin tức bay ngay đến tai người chủ của con chó xấu số. Lũ phụ nữ trong trại thì réo lên, nhớ lại từng vụ mất trộm thịt trước đây, và chẳng mấy chốc Grey Beaver đã bị bao vây bởi vô số những giọng nói giận dữ gào thét. Nhưng ông vẫn lừng lững đứng chắn ngay cửa lều - nơi ông đã nhốt chặt kẻ gây tội vào bên trong. Và ông nhất quyết không chịu mở ra, mặc cho những kẻ trong bộ tộc đang la hét đòi báo thù.
Nanh Trắng trở thành cái gai chọc vào mắt của tất thảy - từ con người cho đến lũ chó. Trong suốt quãng đời trưởng thành này, chưa một khoảnh khắc nào nó được nếm trải cảm giác an toàn. Móng vuốt của mọi con chó đều nhằm vào nó, bàn tay của mọi người đàn ông cũng sẵn sàng giáng xuống. Lời chào đón nó là những tràng gầm gừ căm hận từ đồng loại, là những câu chửi rủa và những hòn đá ném tới từ những vị thần độc ác2 của nó. Nó sống trong một bầu không khí căng như dây đàn. Lúc nào nó cũng trong tư thế phòng thủ, sẵn sàng phản công, cảnh giác trước mọi đòn tấn công có thể ập đến bất kỳ lúc nào, mắt láo liên dò chừng những vật thể bất ngờ bay tới, chuẩn bị hành động nhanh như chớp và lạnh lùng như băng - hoặc lao vào cắn xé, hoặc bật lùi kèm theo một tiếng gầm gừ đe dọa.
Về khoản gầm gừ, không con chó nào trong trại - dù non hay già - có thể sánh được với nó. Tiếng gầm gừ vốn mang mục đích cảnh báo hoặc hăm dọa, và đòi hỏi một sự phán đoán tinh tường để biết lúc nào nên tung ra. Nanh Trắng thông thạo cả hai: cách tạo ra âm thanh ấy lẫn thời khắc thích hợp để sử dụng. Nó dồn vào tiếng gầm gừ của mình tất thảy những gì hiểm độc nhất, tàn nhẫn nhất và đáng sợ nhất. Với cái mũi nhăn nhúm co giật liên hồi, bộ lông dựng ngược từng đợt như sóng cồn, chiếc lưỡi đỏ lòm thò ra thụt vào y hệt một con rắn, đôi tai cụp sát xuống, ánh mắt lóe lên tia căm thù sâu thẳm, đôi môi trễ hẳn về phía sau để phơi bày những chiếc nanh sắc nhọn đầm đìa dãi nhớt - nó có thể khiến gần như bất kỳ kẻ tấn công nào cũng phải khựng lại. Một cái khựng tạm thời, khi kẻ thù mất cảnh giác trong tích tắc, trao cho nó giây phút quý giá để suy tính và định đoạt đường đi nước bước. Nhưng thường thì khoảng lặng có được ấy cứ thế kéo dài cho đến khi kẻ thù buông bỏ hẳn ý định tấn công. Và trước vô số những con chó to xác hơn mình, tiếng gầm gừ của Nanh Trắng đã giúp nó có thể rút lui một cách bình an vô sự.
Bản thân là kẻ bị cả bầy chó non ruồng bỏ, nhưng Nanh Trắng đã buộc chúng phải trả giá đắt cho sự bắt nạt ấy bằng những phương thức đẫm máu và hiệu quả đến kinh ngạc. Từ đó nảy sinh một tình thế trớ trêu: không một thành viên nào trong bầy được phép tách ra chạy một mình. Nanh Trắng sẽ không cho phép điều đó xảy ra. Với những chiến thuật phục kích và những cú cắn trộm chớp nhoáng, nó khiến lũ chó non sợ hãi đến mức không dám rời bầy. Ngoại trừ Lip-lip, cả đám buộc phải túm tụm lại với nhau để tự vệ trước kẻ thù khủng khiếp mà chính chúng đã tạo ra. Một con chó con lẻ loi bên bờ sông đồng nghĩa với một con chó con sẽ chết - hoặc một con chó con sẽ làm náo loạn cả khu trại bằng những tiếng kêu la đau đớn và kinh hãi khi tháo chạy khỏi con sói non đã mai phục sẵn.
Nhưng những đòn trả thù của Nanh Trắng không dừng lại ở đó, ngay cả khi lũ chó non đã học được bài học xương máu rằng phải luôn ở cạnh nhau. Hễ bắt gặp con nào đi lẻ, nó liền tấn công; còn khi chúng tụ thành bầy, chúng lại quay sang tấn công nó. Chỉ cần thoáng thấy bóng nó thôi cũng đủ để cả bầy chó đồng loạt lao vào đuổi bắt. Những lúc ấy, sự nhanh nhẹn thường đưa nó đến nơi an toàn. Nhưng khốn khổ thay cho con chó nào dám chạy nhanh hơn đồng bọn trong cơn hăng máu! Nanh Trắng đã học được cách bất ngờ quay ngoắt lại, ngoạm lấy kẻ truy đuổi háo thắng đang lao lên phía trước và xé xác nó một cách tàn bạo trước khi cả bầy kịp ập đến. Chuyện này xảy ra thường xuyên như cơm bữa, bởi một khi đã tru lên ầm ĩ, lũ chó rất dễ đánh mất mình trong cơn phấn khích của cuộc rượt đuổi. Nanh Trắng thì không bao giờ mất tỉnh táo. Vừa chạy, nó vừa lén liếc nhìn ra sau, luôn trong tư thế sẵn sàng quay phắt lại và hạ gục gã truy đuổi quá khích nào dám bỏ xa đồng bọn.
Lũ chó non vốn ham chơi. Từ những tình thế sống còn ấy, chúng nhìn ra trò chơi của mình trong cuộc chiến tranh giả tưởng này. Thế là cuộc săn lùng Nanh Trắng trở thành trò chơi chính của chúng - một trò chơi chết chóc, và bao giờ cũng là một trò chơi đầy nghiêm trọng. Về phần mình, Nanh Trắng là kẻ chạy nhanh nhất, và nó chẳng ngại mạo hiểm đặt chân đến bất cứ đâu. Trong suốt quãng thời gian chờ đợi mẹ quay về trong vô vọng, nó đã dẫn cả bầy chó vào vô số cuộc rượt đuổi điên cuồng xuyên qua những khu rừng lân cận. Nhưng lũ chó không bao giờ theo kịp dấu nó. Tiếng ồn và tiếng sủa của chúng báo cho nó biết vị trí của chúng; còn nó thì chạy một mình, những bước chân êm như nhung, lặng lẽ tuyệt đối - một cái bóng lướt qua giữa những thân cây, y hệt như cách cha mẹ nó đã từng. Hơn thế nữa, nó gắn bó với vùng Hoang dã sâu sắc hơn lũ chó kia rất nhiều. Nó thuộc lòng vô số bí mật và mưu mẹo của chốn này. Một trong những mánh khóe ưa thích của nó là giấu dấu vết dưới dòng nước chảy, rồi nằm im lìm trong một bụi rậm gần đó, mặc cho những tiếng sủa hoang mang của bầy chó vang lên khắp xung quanh.
Đồng loại căm ghét nó. Con người căm ghét nó. Nhưng nó vẫn bất khuất. Liên tục hứng chịu những đòn tấn công và cũng liên tục gieo rắc chiến sự, sự phát triển của nó diễn ra nhanh chóng và phiến diện. Đây không phải là mảnh đất để lòng tử tế và tình yêu thương nảy nở. Về những điều như thế, trong tâm trí nó không có lấy một tia nhận thức mờ nhạt nào. Quy tắc mà nó học được là phục tùng kẻ mạnh và áp bức kẻ yếu3. Grey Beaver là một vị thần, và mạnh mẽ - vì vậy Nanh Trắng phục tùng ông. Nhưng những con chó nhỏ hơn hay non hơn nó đều yếu đuối, là những kẻ cần phải bị tiêu diệt.
Sự phát triển của nó nghiêng hẳn về hướng sức mạnh. Để đối mặt với nguy cơ thương tích và thậm chí là cái chết luôn rình rập, những bản năng săn mồi và tự vệ của nó phát triển vượt bậc. Nó trở nên nhanh nhẹn hơn những con chó khác, đôi chân thoăn thoắt hơn, ranh mãnh hơn, nguy hiểm hơn, mềm dẻo hơn, gầy guộc hơn với cơ bắp và gân cốt như sắt thép, bền bỉ hơn, tàn nhẫn hơn, hung tợn hơn và thông minh hơn. Nó buộc phải trở thành tất cả những thứ ấy, nếu không nó sẽ không thể giữ được mạng sống hay sinh tồn trong môi trường thù địch mà nó đang sống.
-
Nguyên gốc là "man-animals". Thay vì gọi con người một cách thông thường, Jack London sử dụng từ ghép này để đặt độc giả vào điểm nhìn (point of view) của loài vật. ↩
-
Khái niệm "thần" (gods) được tác giả dùng xuyên suốt để mô tả con người qua lăng kính của loài vật. Con người có quyền sinh sát, biết tạo ra lửa và ban phát thức ăn, nên được tôn thờ như những thế lực siêu nhiên. ↩
-
Tư tưởng này bắt nguồn từ thuyết "Kẻ mạnh sinh tồn" (Survival of the fittest) của Herbert Spencer và sự tiếp thu thuyết tiến hóa Darwin của Jack London. ↩
CHAPTER III THE OUTCAST
Lip-lip continued so to darken his days that White Fang became wickeder and more ferocious than it was his natural right to be. Savageness was a part of his make-up, but the savageness thus developed exceeded his make-up. He acquired a reputation for wickedness amongst the man-animals themselves. Wherever there was trouble and uproar in camp, fighting and squabbling or the outcry of a squaw over a bit of stolen meat, they were sure to find White Fang mixed up in it and usually at the bottom of it. They did not bother to look after the causes of his conduct. They saw only the effects, and the effects were bad. He was a sneak and a thief, a mischief-maker, a fomenter of trouble; and irate squaws told him to his face, the while he eyed them alert and ready to dodge any quick-flung missile, that he was a wolf and worthless and bound to come to an evil end.
He found himself an outcast in the midst of the populous camp. All the young dogs followed Lip-lip’s lead. There was a difference between White Fang and them. Perhaps they sensed his wild-wood breed, and instinctively felt for him the enmity that the domestic dog feels for the wolf. But be that as it may, they joined with Lip-lip in the persecution. And, once declared against him, they found good reason to continue declared against him. One and all, from time to time, they felt his teeth; and to his credit, he gave more than he received. Many of them he could whip in single fight; but single fight was denied him. The beginning of such a fight was a signal for all the young dogs in camp to come running and pitch upon him.
Out of this pack-persecution he learned two important things: how to take care of himself in a mass-fight against him-and how, on a single dog, to inflict the greatest amount of damage in the briefest space of time. To keep one’s feet in the midst of the hostile mass meant life, and this he learnt well. He became cat-like in his ability to stay on his feet. Even grown dogs might hurtle him backward or sideways with the impact of their heavy bodies; and backward or sideways he would go, in the air or sliding on the ground, but always with his legs under him and his feet downward to the mother earth.
When dogs fight, there are usually preliminaries to the actual combat-snarlings and bristlings and stiff-legged struttings. But White Fang learned to omit these preliminaries. Delay meant the coming against him of all the young dogs. He must do his work quickly and get away. So he learnt to give no warning of his intention. He rushed in and snapped and slashed on the instant, without notice, before his foe could prepare to meet him. Thus he learned how to inflict quick and severe damage. Also he learned the value of surprise. A dog, taken off its guard, its shoulder slashed open or its ear ripped in ribbons before it knew what was happening, was a dog half whipped.
Furthermore, it was remarkably easy to overthrow a dog taken by surprise; while a dog, thus overthrown, invariably exposed for a moment the soft underside of its neck-the vulnerable point at which to strike for its life. White Fang knew this point. It was a knowledge bequeathed to him directly from the hunting generation of wolves. So it was that White Fang’s method when he took the offensive, was: first to find a young dog alone; second, to surprise it and knock it off its feet; and third, to drive in with his teeth at the soft throat.
Being but partly grown his jaws had not yet become large enough nor strong enough to make his throat-attack deadly; but many a young dog went around camp with a lacerated throat in token of White Fang’s intention. And one day, catching one of his enemies alone on the edge of the woods, he managed, by repeatedly overthrowing him and attacking the throat, to cut the great vein and let out the life. There was a great row that night. He had been observed, the news had been carried to the dead dog’s master, the squaws remembered all the instances of stolen meat, and Grey Beaver was beset by many angry voices. But he resolutely held the door of his tepee, inside which he had placed the culprit, and refused to permit the vengeance for which his tribespeople clamoured.
White Fang became hated by man and dog. During this period of his development he never knew a moment’s security. The tooth of every dog was against him, the hand of every man. He was greeted with snarls by his kind, with curses and stones by his gods. He lived tensely. He was always keyed up, alert for attack, wary of being attacked, with an eye for sudden and unexpected missiles, prepared to act precipitately and coolly, to leap in with a flash of teeth, or to leap away with a menacing snarl.
As for snarling he could snarl more terribly than any dog, young or old, in camp. The intent of the snarl is to warn or frighten, and judgment is required to know when it should be used. White Fang knew how to make it and when to make it. Into his snarl he incorporated all that was vicious, malignant, and horrible. With nose serrulated by continuous spasms, hair bristling in recurrent waves, tongue whipping out like a red snake and whipping back again, ears flattened down, eyes gleaming hatred, lips wrinkled back, and fangs exposed and dripping, he could compel a pause on the part of almost any assailant. A temporary pause, when taken off his guard, gave him the vital moment in which to think and determine his action. But often a pause so gained lengthened out until it evolved into a complete cessation from the attack. And before more than one of the grown dogs White Fang’s snarl enabled him to beat an honourable retreat.
An outcast himself from the pack of the part-grown dogs, his sanguinary methods and remarkable efficiency made the pack pay for its persecution of him. Not permitted himself to run with the pack, the curious state of affairs obtained that no member of the pack could run outside the pack. White Fang would not permit it. What of his bushwhacking and waylaying tactics, the young dogs were afraid to run by themselves. With the exception of Lip-lip, they were compelled to hunch together for mutual protection against the terrible enemy they had made. A puppy alone by the river bank meant a puppy dead or a puppy that aroused the camp with its shrill pain and terror as it fled back from the wolf-cub that had waylaid it.
But White Fang’s reprisals did not cease, even when the young dogs had learned thoroughly that they must stay together. He attacked them when he caught them alone, and they attacked him when they were bunched. The sight of him was sufficient to start them rushing after him, at which times his swiftness usually carried him into safety. But woe the dog that outran his fellows in such pursuit! White Fang had learned to turn suddenly upon the pursuer that was ahead of the pack and thoroughly to rip him up before the pack could arrive. This occurred with great frequency, for, once in full cry, the dogs were prone to forget themselves in the excitement of the chase, while White Fang never forgot himself. Stealing backward glances as he ran, he was always ready to whirl around and down the overzealous pursuer that outran his fellows.
Young dogs are bound to play, and out of the exigencies of the situation they realised their play in this mimic warfare. Thus it was that the hunt of White Fang became their chief game-a deadly game, withal, and at all times a serious game. He, on the other hand, being the fastest-footed, was unafraid to venture anywhere. During the period that he waited vainly for his mother to come back, he led the pack many a wild chase through the adjacent woods. But the pack invariably lost him. Its noise and outcry warned him of its presence, while he ran alone, velvet-footed, silently, a moving shadow among the trees after the manner of his father and mother before him. Further he was more directly connected with the Wild than they; and he knew more of its secrets and stratagems. A favourite trick of his was to lose his trail in running water and then lie quietly in a near-by thicket while their baffled cries arose around him.
Hated by his kind and by mankind, indomitable, perpetually warred upon and himself waging perpetual war, his development was rapid and one-sided. This was no soil for kindliness and affection to blossom in. Of such things he had not the faintest glimmering. The code he learned was to obey the strong and to oppress the weak. Grey Beaver was a god, and strong. Therefore White Fang obeyed him. But the dog younger or smaller than himself was weak, a thing to be destroyed. His development was in the direction of power. In order to face the constant danger of hurt and even of destruction, his predatory and protective faculties were unduly developed. He became quicker of movement than the other dogs, swifter of foot, craftier, deadlier, more lithe, more lean with ironlike muscle and sinew, more enduring, more cruel, more ferocious, and more intelligent. He had to become all these things, else he would not have held his own nor survive the hostile environment in which he found himself.