CHƯƠNG II. HANG Ổ

Suốt hai ngày liền, sói cái và Một Mắt cứ lởn vởn quanh khu trại của người Da Đỏ1. Sói già thì thấp thỏm, dè chừng, nhưng bạn tình của nó lại bị khu trại cuốn hút đến mức chẳng muốn bỏ đi. Vậy mà vào một buổi sáng nọ, một tiếng súng nổ đùng đoàng vang lên ngay sát bên tai, xé toạc bầu không khí tĩnh lặng. Một viên đạn cắm phập vào thân cây, chỉ cách đầu Một Mắt vài phân. Chẳng còn chút chần chừ nào nữa, cả hai lập tức phóng đi bằng những sải chân dài nhịp nhàng, mau chóng bỏ lại mối nguy hiểm xa hàng dặm phía sau.

Chúng không đi quá xa - chỉ chừng hai ngày đường. Cơn thôi thúc tìm kiếm thứ sói cái hằng khao khát giờ đây đã trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Thân hình nó mỗi lúc một trĩu nặng, và nó chỉ có thể chạy thật chậm. Có lần, khi đuổi theo một con thỏ mà bình thường nó chỉ cần vài cú vồ là tóm gọn, nó đành bỏ cuộc giữa chừng, nằm phịch xuống mà nghỉ. Một Mắt tiến lại gần bên bạn tình; nhưng vừa lúc nó nhẹ nhàng chạm mõm vào cổ sói cái, con vật liền nhe nanh gầm gừ dữ dội và nhanh như chớp, khiến sói già ngã dúi ngửa ra sau, trông thật tức cười trong cái nỗ lực luống cuống tránh né hàm răng bạn tình. Tính khí của sói cái lúc này cáu kỉnh hơn bao giờ hết; thế nhưng Một Mắt lại càng trở nên nhẫn nhịn và ân cần hơn bao giờ hết.

Rồi cuối cùng, sói cái cũng tìm thấy thứ nó đang tìm. Nơi đó cách vài dặm về phía thượng nguồn một con suối nhỏ. Vào mùa hè, dòng suối này vẫn đổ ra sông Mackenzie, nhưng giờ đây toàn bộ đều đã đóng băng cứng ngắc - từ mặt nước cho đến tận đáy đá. Một dòng suối trắng xóa, bất động từ đầu nguồn đến cuối dòng. Sói cái đang lầm lũi chạy những bước nặng nhọc, bạn tình đi sát ngay phía trước, thì nó chợt bắt gặp một bờ đất sét cao nhô ra. Nó rẽ ngang và chạy thẳng về phía đó. Mưa bão mùa xuân và những đợt tuyết tan hết năm này qua năm khác đã bào mòn, khoét rỗng bờ đất, tạo thành một cái hang nhỏ từ một khe nứt hẹp.

Sói cái dừng lại ngay trước cửa hang, cẩn thận quan sát vách đất. Rồi nó chạy dọc theo chân vách từ phía này sang phía kia, cho đến tận chỗ khối đất đá đồ sộ hòa dần vào vùng cảnh quan thoai thoải hơn. Quay trở lại hang, nó chui vào cái miệng hẹp. Trong khoảng ba feet đầu tiên, nó buộc phải cúi rạp mình xuống; nhưng rồi các vách đá bắt đầu mở rộng và vươn cao, tạo thành một căn buồng nhỏ hình tròn, đường kính gần sáu feet. Mái hang vừa đủ để nó ngẩng đầu lên. Nơi này khô ráo và ấm cúng. Sói cái tỉ mỉ xem xét từng ngóc ngách, trong khi Một Mắt, vừa quay trở lại, đứng ngay cửa hang kiên nhẫn dõi theo nó. Sói cái cúi đầu, ghé mũi sát đất và hướng về một điểm gần hai chân trước đang khép chặt, rồi chầm chậm lượn vòng quanh điểm đó vài lần. Sau cùng, với một tiếng thở dài mệt mỏi nghe gần như tiếng càu nhàu, nó cuộn tròn thân mình, thả lỏng bốn chân và nằm bẹp xuống, đầu hướng ra phía cửa. Một Mắt dựng đôi tai đầy hào hứng, vui vẻ dõi nhìn nó. Phía bên ngoài, nổi bật trên nền ánh sáng trắng, nó có thể thấy cái đuôi rậm rạp của sói già đang ngoáy tít một cách thân thiện. Còn sói cái, đôi tai nó chầm chậm ép sát ra phía sau và cụp xuống đầu trong một thoáng, miệng hé mở, lưỡi thè ra một cách thảnh thơi - qua tất cả những cử chỉ ấy, nó thể hiện niềm hài lòng và mãn nguyện sâu xa.

Cơn đói đang gặm nhấm Một Mắt. Dù đã nằm ngủ ngay cửa hang, giấc ngủ của nó vẫn chẳng yên. Nó chập chờn tỉnh rồi lại thiếp, đôi tai không ngừng vểnh lên đón lấy mọi âm thanh từ thế giới rực rỡ bên ngoài - nơi mặt trời tháng Tư đang trút xuống những tia nắng chói lòa trên mặt tuyết trắng. Mỗi khi nó thiu thiu chìm vào giấc ngủ, tiếng róc rách khe khẽ của dòng nước chảy ngầm dưới lớp băng lại len vào tai, khiến nó giật mình tỉnh giấc và lắng nghe thật chăm chú. Mặt trời đã quay về, và cả thế giới Phương Bắc đang bừng thức đang réo gọi nó. Sự sống trỗi dậy khắp nơi. Trong không khí tràn ngập hơi thở của mùa xuân - cái cảm giác sự sống đang nảy mầm dưới lớp tuyết dày, nhựa cây đang dâng lên từng thớ gỗ, những chồi non đang vươn mình phá vỡ gông cùm băng giá.

Nó thấp thỏm liếc nhìn bạn tình, nhưng sói cái chẳng hề có ý định trở dậy. Nó hướng mắt ra ngoài, nơi nửa tá chim tuyết2 vừa vụt bay ngang tầm nhìn. Nó chực đứng lên, nhưng rồi lại quay sang nhìn bạn tình, nằm xuống và thiếp đi. Một âm thanh vo ve lanh lảnh, nhỏ xíu lọt vào tai nó. Trong cơn mơ màng, nó quệt chân ngang mũi một, hai lần. Rồi nó bừng tỉnh. Ngay trước chóp mũi nó, lơ lửng giữa không trung, là một con muỗi đơn độc đang vo ve. Một con muỗi trưởng thành - suốt mùa đông dài nó đã nằm đóng băng trong một khúc gỗ khô, và giờ đây ánh mặt trời đã sưởi ấm nó sống dậy. Một Mắt không thể cưỡng lại tiếng gọi của thế giới bên ngoài thêm nữa. Hơn nữa, nó đang đói.

Nó bò đến bên bạn tình, cố thuyết phục sói cái đứng dậy. Nhưng con vật chỉ đáp lại bằng một tiếng gầm gừ, và Một Mắt đành lủi thủi bước ra ngoài dưới ánh nắng chói chang. Ngay lập tức nó nhận ra mặt tuyết dưới chân đã mềm nhão - việc di chuyển trở nên nặng nề và khó khăn. Nó men lên lòng con suối đóng băng, nơi lớp tuyết nằm dưới bóng râm của cây cối vẫn còn cứng và kết tinh. Tám tiếng đồng hồ trôi qua, và khi bóng tối buông xuống, nó quay về với cái bụng còn đói hơn cả lúc lên đường. Nó đã tìm thấy con mồi, nhưng chẳng thể nào bắt được. Nó cứ lún sụp qua lớp băng tuyết đang tan và bì bõm lội ì oạp, trong khi lũ thỏ chân tuyết3 thì nhẹ nhàng lướt đi trên bề mặt như trêu ngươi.

Nó khựng lại ngay cửa hang - một cảm giác nghi ngờ đột ngột xâm chiếm. Từ bên trong vọng ra những âm thanh yếu ớt, lạ lẫm. Đó không phải là âm thanh do bạn tình nó tạo ra, thế nhưng chúng lại mang một vẻ quen thuộc đến lạ kỳ. Nó thận trọng bò sát bụng vào trong và lập tức bị chặn lại bởi một tiếng gầm gừ cảnh cáo từ sói cái. Nó đón nhận điều đó một cách bình thản, chẳng hề xao động, dù vẫn ngoan ngoãn giữ khoảng cách; nhưng lòng nó vẫn đầy tò mò về những âm thanh kia - những tiếng thút thít và chùn chụt mút mát nhỏ nhoi, nghèn nghẹt.

Bạn tình cáu gắt xua nó đi, và nó đành cuộn tròn nằm ngủ ngay ở cửa hang. Khi buổi sáng đến, một luồng ánh sáng lờ mờ len lỏi tràn vào hang ổ, nó lại tìm kiếm nguồn gốc của những âm thanh quen thuộc đến lạ lùng ấy. Lần này, trong tiếng gầm gừ cảnh cáo của bạn tình có một âm điệu mới. Đó là âm điệu của sự ghen tuông, và Một Mắt hết sức cẩn trọng giữ một khoảng cách tôn trọng. Dù vậy, nó vẫn kịp nhận ra - nép mình giữa hai chân và áp sát dọc theo thân thể sói cái - năm sinh linh bé nhỏ xa lạ, vô cùng yếu ớt, vô cùng bất lực, đang cất lên những tiếng rên rỉ li ti, với đôi mắt chưa một lần mở ra đón ánh sáng. Nó sững sờ. Đây không phải là lần đầu tiên trong cuộc đời dài dặn và thành công của nó chứng kiến điều này. Nó đã xảy ra nhiều lần rồi, nhưng mỗi lần vẫn luôn là một sự kinh ngạc mới mẻ đối với nó.

Bạn tình nhìn nó đầy lo lắng. Cứ cách một chốc, sói cái lại phát ra một tiếng gầm gừ khe khẽ; và đôi khi, nếu cảm thấy Một Mắt tiến đến quá gần, tiếng gầm gừ nơi cổ họng liền dâng lên thành một tiếng gắt sắc lẹm. Bản thân nó chẳng hề có ký ức gì về sự kiện này; nhưng trong bản năng của nó - vốn là kinh nghiệm tích tụ từ tất cả những người mẹ loài sói - ẩn chứa một ký ức về những kẻ cha đã từng ăn thịt chính đàn con mới đẻ yếu ớt của mình. Nỗi sợ hãi mãnh liệt ấy đã hóa thành bản năng bảo vệ, thôi thúc nó ngăn cản Một Mắt đến gần xem xét lũ sói con mà chính sói già đã góp phần tạo ra.

Nhưng chẳng có mối nguy hiểm nào cả. Sói già Một Mắt đang cảm nhận sự thôi thúc của một xung động - mà xét cho cùng, đó cũng là một bản năng được truyền lại cho nó từ tất cả những người cha loài sói. Nó không hề thắc mắc, cũng chẳng buồn suy nghĩ về điều đó. Nó đã nằm sẵn trong từng thớ thịt của sinh mệnh nó rồi; và việc nó tuân theo bản năng ấy - quay lưng lại với gia đình mới sinh, vội vã lên đường theo dấu con mồi để duy trì sự sống - là điều tự nhiên nhất trên đời.

Cách hang ổ chừng năm, sáu dặm, dòng suối tách làm hai nhánh, tỏa ra giữa những ngọn núi tạo thành một góc vuông vức. Đi theo nhánh bên trái, nó bắt gặp một dấu chân còn mới. Nó hít ngửi và nhận ra dấu này hãy còn rất tươi, liền lập tức hạ thấp thân mình, mắt dõi về phía dấu chân đã khuất. Rồi nó chậm rãi quay đầu, rẽ sang nhánh phải. Dấu chân kia lớn hơn dấu chân của chính nó rất nhiều, và theo kinh nghiệm, nó hiểu rằng bám theo một dấu vết như thế thì chẳng kiếm được mấy miếng ăn.

Trèo dọc nhánh bên phải non nửa dặm đường, đôi tai thính nhạy của nó nhận ra tiếng răng nghiến gặm. Nó rón rén lần theo âm thanh và phát hiện ra một con nhím - con vật đang đứng thẳng lưng, tựa mình vào thân cây, mài thử hàm răng lên lớp vỏ xù xì. Một Mắt cẩn trọng tiến lại gần, nhưng chẳng ôm mấy hy vọng. Nó biết rõ giống loài này, dù trước nay chưa từng dụng độ chúng ở tận vùng Bắc xa xôi này; và suốt quãng đời dài dằng dặc của mình, nhím chưa một lần trở thành bữa ăn của nó. Thế nhưng, từ lâu lắm rồi, nó đã nghiệm ra rằng trên thế gian này luôn tồn tại một thứ gọi là Cơ Hội, và nó vẫn tiếp tục rút ngắn khoảng cách. Chẳng thể lường trước được điều chi sẽ xảy đến, vì với các sinh vật sống, mọi chuyện không bao giờ diễn ra giống hệt như nhau.

Con nhím lập tức cuộn tròn thành một quả cầu tua tủa những mũi gai dài và nhọn hoắt, chi chít chĩa ra tứ phía, thách thức mọi cuộc tấn công. Hồi trẻ tuổi, Một Mắt từng tò mò dí mũi ngửi quá sát một quả cầu gai tưởng chừng vô hại tương tự, để rồi bị cái đuôi quất mạnh thẳng vào mặt. Một chiếc gai cắm sâu vào mõm, nằm ì đó suốt hàng tuần ròng rã như một ngọn lửa âm ỉ đau nhức, mãi đến khi rốt cuộc cũng tự rụng ra. Bởi thế, nó phủ phục xuống, trong một tư thế nằm thoải mái, giữ mũi cách xa hơn một thước, ngoài tầm vươn của cái đuôi. Nó lặng lẽ chờ đợi, với sự kiên nhẫn tuyệt đối. Chẳng ai nói trước được điều gì. Biết đâu lại có chuyện xảy ra. Con nhím rất có thể sẽ duỗi mình tháo cuộn. Biết đâu sẽ xuất hiện một cơ hội để tung ra cú tát nhanh nhẹn và sắc lẹm, nhắm thẳng vào cái bụng mềm yếu, không chút phòng bị kia.

Nhưng sau nửa giờ đồng hồ, nó đứng dậy, gầm gừ đầy bực tức với cái quả cầu bất động, rồi bỏ đi. Trong dĩ vãng, nó đã quá nhiều lần uổng công chờ những con nhím tháo cuộn, và nó không muốn lãng phí thêm chút thời gian nào nữa. Nó tiếp tục men theo nhánh bên phải. Ngày dần trôi, và cuộc đi săn chẳng mang về thêm được gì.

Sự thôi thúc của bản năng làm cha vừa trỗi dậy đang cháy bỏng trong lồng ngực nó. Nó nhất định phải kiếm được thịt. Vào buổi xế chiều, tình cờ nó chạm trán một con gà gô4. Bước ra từ bụi rậm, nó mặt đối mặt với con chim chậm chạp. Con chim đỗ trên một khúc gỗ, chỉ cách mũi nó chưa đầy một gang tay. Cả hai cùng nhận ra nhau. Con chim hốt hoảng vỗ cánh bay lên, nhưng nó đã kịp vung chân tát một cú trời giáng, hất con chim rơi bịch xuống đất, rồi lao tới chộp lấy, ngoạm chặt bằng hàm răng trong khi con mồi còn đang quẫy đạp trên mặt tuyết, vùng vẫy hòng tung cánh bay lên một lần nữa. Răng nó nghiến nát lớp da thịt mềm mại cùng những khúc xương mảnh dẻ, và nó bắt đầu xực lấy theo bản năng. Rồi nó sực nhớ ra, quay đầu lần theo dấu vết cũ, bắt đầu trở về hang, miệng ngoạm chặt con gà gô.

Cách ngã ba suối một dặm đường về phía thượng nguồn, trong khi đang sải những bước chân êm như nhung theo thói quen, tựa một chiếc bóng lướt đi, thận trọng dò xét từng ngóc ngách mới mẻ trên lối mòn, nó bắt gặp những dấu vết còn mới hơn của chính những bàn chân lớn mà nó đã phát hiện ra vào sáng sớm. Vì dấu vết này dẫn đúng theo hướng nó đang tiến, nó liền bám theo, trong tư thế sẵn sàng đương đầu với kẻ để lại dấu chân ở mỗi khúc quanh của con suối.

Nó trườn đầu qua một mỏm đá nhô ra, nơi dòng suối uốn một khúc cua rộng lạ thường, và đôi mắt tinh nhạy của nó liền phát hiện ra một cảnh tượng lập tức khiến nó cúi rạp người xuống. Đó chính là chủ nhân của dấu chân - một con linh miêu cái5 to lớn. Con linh miêu đang phủ phục y hệt như cách Một Mắt đã phủ phục trước đó trong ngày, đối diện với nó là quả cầu gai cuộn tròn chặt cứng. Nếu trước kia nó chỉ là một chiếc bóng lướt đi, thì giờ đây nó đã hóa thành bóng ma của chính chiếc bóng ấy, khi trườn mình đi vòng, tiến đến ẩn nấp ở vị trí khuất gió của cặp đôi im lìm, bất động kia.

Nó nằm xuống nền tuyết, đặt con gà gô sang một bên, và qua đôi mắt hé mở sau những chiếc lá kim của bụi vân sam thấp lùn, nó dõi theo vở kịch sinh tử đang diễn ra trước mắt - con linh miêu cái đang phục kích, và con nhím đang chờ đợi, mỗi bên đều đặt cược tất cả vào sự sống; và trớ trêu thay, con đường sống của kẻ này lại nằm ở việc nuốt chửng kẻ kia, còn con đường sống của kẻ kia lại nằm ở việc không để bị nuốt chửng. Còn sói già Một Mắt, lúc này đang thu mình trong lùm cây, cũng đang đóng vai của mình trong cuộc chơi, chờ đợi một sự trùng hợp kỳ quặc nào đó từ Cơ Hội, thứ có thể giúp ích cho nó trên con đường săn mồi - mà cũng chính là con đường sống của nó.

Nửa giờ trôi đi, rồi một giờ trôi đi; chẳng có điều gì xảy ra. Quả bóng gai kia lặng yên như một tảng đá bất động; con linh miêu cái tựa hồ đã hóa thành bức tượng cẩm thạch; và sói già Một Mắt trông cứ ngỡ đã chết từ lâu. Thế nhưng cả ba con vật đều đang căng tràn nhựa sống đến mức gần như nhức nhối, và hiếm có giây phút nào chúng sống động mãnh liệt hơn chính cái khoảnh khắc tưởng chừng như hóa đá ấy.

Một Mắt khẽ nhúc nhích, háo hức thò đầu ra nhìn. Có chuyện gì đó đang diễn ra. Cuối cùng con nhím cũng đưa ra phán đoán rằng kẻ thù đã rời đi. Chậm rãi, thận trọng, nó bắt đầu tháo cuộn lớp áo giáp bất khả xâm phạm của mình. Chẳng có lấy một chút chấn động nào của sự phòng bị lộ ra. Thong thả, từ tốn, quả bóng gai duỗi thẳng ra và dài thêm. Một Mắt dõi theo, bỗng thấy miệng mình ươn ướt - nước bọt vô thức tứa ra vì phấn khích trước miếng thịt tươi sống đang từ từ phơi bày như một bữa tiệc ngay trước mắt nó.

Con nhím chưa kịp tháo cuộn hoàn toàn thì đã phát hiện ra kẻ thù. Ngay trong tích tắc ấy, con linh miêu cái lao vào tấn công. Cú vồ nhanh như chớp giật. Bàn chân với những móng vuốt cứng đơ uốn cong tựa móng đại bàng, quất tới nhắm vào phần bụng mềm mại rồi giật ngược lại bằng một nhát xé toạc chớp nhoáng. Giá như con nhím tháo cuộn trọn vẹn, hay không phát hiện ra kẻ thù trước khi cú đòn giáng xuống chỉ trong một phần nhỏ của giây, thì bàn chân kia đã rút về bình an vô sự. Nhưng một cú quật đuôi ngang đã găm thẳng những chiếc gai sắc nhọn vào bàn chân đang thụt lui.

Tất cả xảy ra đồng thời - cú đánh, đòn phản công, tiếng kêu rú đau đớn của con nhím, tiếng gào rú vì đau đớn và kinh ngạc tột độ của con mèo lớn. Một Mắt nhổm nửa người dậy trong niềm phấn khích, tai dựng đứng, đuôi duỗi thẳng và run rẩy phía sau. Cơn thịnh nộ của con linh miêu cái đã hoàn toàn lấn át lý trí nó. Nó hung hăng lao vào chính thứ vừa khiến mình đau đớn. Nhưng con nhím, vừa ré lên vừa rên rỉ, với thân thể đang bị cào rách tơi tả còn yếu ớt cố gắng cuộn tròn lại thành quả bóng bảo vệ, lại vung đuôi ra thêm lần nữa. Và một lần nữa, con mèo lớn lại bật lên tiếng gào thét vì đau đớn lẫn kinh hoàng. Rồi nó lùi lại, hắt hơi liên hồi, cái mõm cắm đầy gai nhọn trông như một chiếc gối cắm kim khổng lồ. Nó dùng móng vuốt cào cấu lên mũi, cố tống khứ những mũi phi tiêu rát bỏng đi, rúc mũi vào tuyết, cọ xát vào những cành cây nhỏ, rồi liên tục nhảy chồm chồm - lao tới trước, nhảy ngang, nhảy chồm lên chồm xuống - trong cơn điên loạn của đau đớn và hoảng sợ.

Nó hắt hơi không ngừng, còn cái đuôi cộc của nó ra sức quẫy đạp bằng những cú giật nhanh và mạnh. Rồi nó ngừng hẳn trò hề điên cuồng ấy lại, và lặng đi trong một phút dài. Một Mắt vẫn đang quan sát. Và ngay cả nó cũng không thể kìm nén một cái giật mình, lông dọc sống lưng vô thức dựng đứng cả lên, khi con linh miêu cái đột ngột - chẳng một lời cảnh báo - nhảy vọt thẳng lên không trung, đồng thời bật ra một tiếng gào dài rùng rợn đến tận xương tủy. Sau đó nó phóng vụt đi, lao vút theo lối mòn, gào rú theo từng bước nhảy.

Mãi cho đến khi tiếng ồn ào của con linh miêu cái xa dần rồi tắt hẳn, Một Mắt mới dám ló mặt ra. Nó bước đi cẩn trọng như thể toàn bộ bề mặt tuyết được trải đầy gai nhím, tất cả đều chĩa thẳng lên và sẵn sàng đâm thủng lớp đệm chân mềm mại của nó. Con nhím đón nhận sự xuất hiện của nó bằng tiếng rít điên cuồng và tiếng va đập lách cách của những chiếc răng dài. Nó đã cố gắng cuộn mình lại thành một quả bóng thêm lần nữa, nhưng đó không còn là quả bóng chắc chắn như trước; cơ thể nó đã bị xé rách quá nhiều. Nó gần như bị xé toạc làm đôi, và máu vẫn tuôn xối xả không ngừng.

Một Mắt xúc từng ngụm tuyết thấm đẫm máu, nhai, nếm rồi nuốt. Thứ này khác nào món khai vị, càng khiến cơn đói của nó bùng lên dữ dội. Nhưng nó đã quá sành sỏi trên đời để có thể quên đi sự cảnh giác. Nó chờ đợi. Nó nằm xuống và chờ đợi, trong khi con nhím nghiến răng kèn kẹt, phát ra những tiếng gầm gừ, nức nở và thỉnh thoảng là những tiếng rít nhỏ lanh lảnh. Một lúc sau, Một Mắt nhận thấy những chiếc gai bắt đầu rũ xuống và cơ thể con nhím co giật dữ dội. Cơn co giật kết thúc đột ngột. Một tiếng va đập thách thức cuối cùng của những chiếc răng dài vang lên. Sau đó, tất cả gai nhọn đều rủ hẳn xuống, và thân thể mềm nhũn, bất động, không còn chút sự sống nào.

Với bàn chân rụt rè và cảnh giác, Một Mắt duỗi thẳng con nhím ra hết chiều dài rồi lật ngửa nó lên. Chẳng có chuyện gì xảy ra. Nó chắc chắn đã chết. Nó chăm chú quan sát con vật thêm một lát, rồi cẩn thận ngoạm chặt bằng răng, bắt đầu đi xuôi dòng suối, vừa mang vừa kéo con nhím, đầu ngoảnh sang một bên để tránh giẫm phải khối gai nhọn. Nó chợt nhớ ra điều gì đó, bèn buông con mồi xuống và chạy vội về nơi đã bỏ lại con gà gô. Nó không do dự lấy một giây. Nó biết rõ mình phải làm gì, và thực hiện ngay lập tức - bằng cách ăn ngấu nghiến con gà gô. Sau đó nó quay lại và tiếp tục mang theo chiến lợi phẩm của mình.

Khi nó kéo thành quả của một ngày đi săn vào hang, sói cái quan sát con mồi, quay mõm về phía nó và khẽ liếm nhẹ lên cổ bạn tình. Nhưng ngay giây tiếp theo, nó lại cảnh cáo xua bạn tình ra xa khỏi bầy con non bằng một tiếng gầm gừ - lần này bớt chói tai hơn thường lệ, và mang ý nghĩa hối lỗi nhiều hơn là đe dọa. Nỗi sợ hãi theo bản năng của sói cái đối với cha của những đứa con mình đã dịu bớt. Nó đang cư xử đúng như một người cha loài sói, và không hề bộc lộ chút ham muốn tà ác nào muốn ăn thịt những sinh mệnh nhỏ bé mà sói cái vừa mang đến thế giới này.



  1. Chỉ những cư dân bản địa ở khu vực Bắc Mỹ (trong bối cảnh truyện thường là các bộ tộc sống bằng nghề săn bắn ở vùng Tây Bắc Canada). Sự hiện diện của con người đánh dấu ranh giới mong manh giữa thế giới hoang dã và nền văn minh. 

  2. Từ gốc 'snow-bird'. Đây là tên gọi chung cho một số loài chim dạng sẻ nhỏ ở Bắc Mỹ (chẳng hạn như dark-eyed junco). Sự bay lượn của chúng giữa lúc băng tan là một trong những dấu hiệu sinh thái đặc trưng báo hiệu mùa xuân đang về ở Phương Bắc. 

  3. Dịch từ 'snowshoe rabbit' (hay snowshoe hare). Loài thỏ này có bàn chân sau rất lớn đóng vai trò như những chiếc 'giày đi tuyết' tự nhiên, giúp chúng phân tán trọng lượng cơ thể để dễ dàng chạy nhảy trên mặt tuyết mềm nhão mà không bị lún sâu như loài sói. 

  4. Nguyên gốc là 'ptarmigan', một loài chim thuộc họ Trĩ sống ở vùng lãnh nguyên Bắc Cực và cận Bắc Cực. Chúng có đặc tính sinh thái đặc biệt là thay đổi màu lông sang màu trắng toát vào mùa đông để ngụy trang hoàn hảo vào lớp tuyết. 

  5. Nguyên gốc 'lynx'. Linh miêu Canada là loài thú ăn thịt họ Mèo đặc hữu của các khu rừng tuyết phương Bắc, nổi tiếng với bản tính hung dữ, khả năng ẩn nấp tài tình và kỹ năng vồ mồi chớp nhoáng.