CHƯƠNG II. CON SÓI CÁI

Sau bữa sáng, khi đống đồ đạc cắm trại ít ỏi đã được cột chặt lên xe trượt tuyết, hai người đàn ông quay lưng lại với ngọn lửa ấm áp rồi dấn bước vào bóng tối. Ngay lập tức, những tiếng hú vang lên - buồn bã mà dữ dội, xuyên thấu màn đêm và giá lạnh, tiếng gọi tiếng đáp đan xen không dứt. Cuộc trò chuyện của họ tắt lịm. Mãi đến chín giờ, ánh sáng ban ngày mới le lói xuất hiện. Vào giữa trưa, bầu trời phía nam ửng lên một sắc hồng ấm áp - dấu hiệu duy nhất cho thấy mặt trời buổi trưa vẫn đang tồn tại ở đâu đó, khuất sau đường cong của Trái Đất, cách xa thế giới phương bắc lạnh giá này. Nhưng sắc hồng ấy chẳng tồn tại được bao lâu. Thứ ánh sáng xám xịt còn sót lại của ban ngày cũng tàn lụi dần, và đến ba giờ thì tắt hẳn. Bức màn đêm Bắc Cực lại buông xuống, phủ kín vùng đất hoang vu trong sự cô tịch đến rợn người.

Khi bóng tối buông xuống, những tiếng hú săn mồi từ bên phải, bên trái và phía sau mỗi lúc một siết chặt vòng vây - gần đến nỗi không ít lần chúng gieo rắc nỗi kinh hoàng tột độ vào đám chó kéo xe đang nhọc nhằn lê bước, khiến cả bầy hoảng loạn trong khoảnh khắc.

Sau một đợt hoảng loạn như thế, khi anh và Henry đã đưa được bầy chó trở lại hàng dây kéo, Bill lên tiếng:

"Tôi ước gì chúng săn được con mồi nào đó ở đâu đấy, rồi bỏ đi và để chúng ta yên."

"Chúng làm căng thần kinh kinh khủng," Henry đồng tình.

Họ chẳng nói thêm lời nào cho đến khi dựng trại.

Henry đang cúi người, thả thêm đá vào nồi đậu đang sôi sùng sục, thì bỗng giật bắn mình. Một tiếng đập mạnh vang lên, kèm theo tiếng quát của Bill và tiếng gầm gừ đau đớn chói tai từ giữa bầy chó. Anh đứng thẳng dậy, vừa kịp nhìn thấy một bóng đen mờ ảo vụt qua lớp tuyết rồi tan biến vào màn đêm. Tiếp đó, anh trông thấy Bill đứng giữa bầy chó - nửa đắc thắng, nửa tiu nghỉu - một tay nắm chắc khúc cây, tay kia cầm cái đuôi và một mẩu thân cá hồi phơi nắng.

"Nó nẫng mất một nửa rồi," anh ta thông báo, "nhưng tôi cũng kịp phang cho nó một cú. Anh có nghe nó ré lên không?"

"Trông nó thế nào?" Henry hỏi.

"Không nhìn rõ lắm. Nhưng nó có bốn chân, một cái mõm, đầy lông - trông chẳng khác gì một con chó cả."

"Chắc là sói được thuần hóa, tôi đoán vậy."

"Gan thật đấy, bất kể nó là giống quái quỷ gì - dám mò vào đây đúng giờ ăn mà cuỗm mất phần cá."

Đêm hôm ấy, sau bữa tối, họ ngồi trên chiếc hộp hình chữ nhật, bập bênh tẩu thuốc. Vòng tròn những đôi mắt rực sáng trong bóng tối mỗi lúc một siết chặt, tiến lại gần hơn trước.

"Tôi ước gì chúng vồ được một bầy nai sừng tấm hay thứ gì đó, rồi bỏ đi và để chúng ta yên," Bill nói.

Henry lầm bầm gì đó trong cổ họng, ngữ điệu không hẳn là đồng tình. Suốt mười lăm phút sau, họ ngồi im lặng. Henry chằm chằm nhìn vào ngọn lửa. Bill thì dán mắt vào vòng tròn những đôi mắt rực cháy trong bóng tối, ngay bên ngoài rìa ánh lửa.

"Tôi ước gì chúng ta đang kéo xe vào McGurry1 ngay lúc này," anh ta lại lên tiếng.

"Ngậm miệng lại với những lời ước ao với than vãn của anh đi," Henry bùng nổ. "Dạ dày anh đang chua loét đấy. Đó là lý do anh đổ bệnh. Nuốt một thìa sô-đa đi, rồi anh sẽ ngọt ngào trở lại ngay ấy mà2 - và thành một người bạn đồng hành dễ chịu hơn nhiều."

Sáng ra, những lời chửi rủa cuồng nộ tuôn ra từ miệng Bill đã đánh thức Henry. Anh chống khuỷu tay nhổm dậy, trông thấy đồng đội mình đang sừng sững giữa bầy chó, cạnh ngọn lửa vừa được nhóm lại. Bill giơ hai tay lên trời, khuôn mặt méo xệch vì phẫn nộ tột cùng.

"Này!" Henry gọi với sang. "Chuyện gì thế?"

"Frog biến mất rồi," tiếng đáp vọng lại.

"Không thể nào."

"Tôi bảo anh là đúng thế đấy."

Henry tung chăn bật dậy, sải bước đến chỗ bầy chó. Anh đếm đi đếm lại thật kỹ, rồi hùa theo bạn đồng hành mà nguyền rủa cái sức mạnh của chốn Hoang Dã - thứ vừa cướp đi của họ thêm một con chó nữa.

"Frog là con khỏe nhất bầy," cuối cùng Bill tuyên bố.

"Và nó cũng cóc phải hạng ngu ngốc gì," Henry bồi thêm.

Thế là bản cáo phó thứ hai chỉ trong vòng hai ngày đã được ghi nhận.

Bữa sáng ảm đạm chóng vánh trôi qua. Bốn con chó còn lại được thắng vào xe trượt tuyết. Ngày hôm ấy chẳng khác gì những ngày trước đó. Hai người đàn ông lầm lũi tiến bước, không một lời trao đổi, băng qua bề mặt của thế giới đóng băng. Sự tĩnh lặng chẳng bị gì khuấy động, ngoại trừ tiếng hú của những kẻ bám đuôi - vô hình, lẩn khuất đâu đó phía sau, nhưng chẳng lúc nào chịu rời xa. Khi bóng tối buông xuống vào lúc giữa chiều, những tiếng hú vẳng đến mỗi lúc một gần hơn, bởi lũ truy đuổi cứ theo thói quen mà thu hẹp dần khoảng cách. Bầy chó trở nên kích động, hoảng sợ, lại một phen cuống cuồng làm rối tung đám dây kéo, khiến hai người đàn ông càng thêm chán chường.

"Đấy, thế là trị được lũ ngu xuẩn chúng mày rồi nhé," Bill hả hê nói vào buổi tối hôm ấy, vươn thẳng lưng sau khi hoàn tất nhiệm vụ.

Henry dừng tay nấu nướng, bước sang xem. Bạn đồng hành của anh không chỉ cột lũ chó lại - anh ta còn buộc chúng theo kiểu của người da đỏ, dùng những thanh gỗ3. Quanh cổ mỗi con chó, Bill thắt một sợi dây da. Nối vào sợi dây ấy, sát đến nỗi con chó không cách nào ngoạm tới, anh ta buộc chặt một thanh gỗ cứng dài chừng bốn hay năm feet. Đầu kia của thanh gỗ, đến lượt nó, lại được cố định vào một cái cọc cắm sâu dưới đất bằng một sợi dây da khác. Con chó không tài nào gặm đứt được sợi dây ở đầu phía nó. Thanh gỗ chắn ngang, ngăn nó với tới sợi dây buộc ở đầu bên kia.

Henry gật gù tán thành.

"Độc chiêu duy nhất để giữ chân One Ear đấy," anh nói. "Nó mà gặm dây da thì ngọt như dao cắt, nhanh gấp đôi bình thường ấy chứ. Sáng mai yên tâm, cả lũ sẽ y nguyên ở đây thôi."

"Anh cứ việc cá đi," Bill quả quyết. "Nếu mất thêm con nào, tôi nhịn cà phê luôn."

"Chúng nó thừa khôn để biết là chúng ta chẳng có súng nạp đạn sẵn đâu mà bắn giết nhé," Henry nhận xét lúc chuẩn bị đi ngủ, tay chỉ vào vòng mắt sáng quắc đang khép chặt quanh họ. "Chứ găm được vài phát vào bọn này, thì trông chúng nó phải kính nể hơn nhiều. Đêm nào chúng cũng tiến lại gần thêm một chút. Che ánh lửa khỏi tầm mắt mà xem - kia kìa! Anh có thấy con đó không?"

Hai người đàn ông dành một lúc để tiêu khiển bằng cách dõi theo chuyển động của những bóng hình lờ mờ ở rìa ánh lửa. Mỗi khi họ nheo mắt nhìn chòng chọc vào nơi một cặp mắt rực cháy giữa bóng tối, đường nét của con vật lại từ từ hiện hình. Đôi lúc, họ còn có thể trông thấy những bóng hình ấy đang di chuyển.

Một âm thanh phát ra từ giữa đám chó khiến cả hai chú ý. One Ear đang phát ra những tiếng rên rỉ dồn dập, đầy háo hức. Nó lao hết chiều dài của thanh gỗ về phía bóng tối, rồi lại khựng đột ngột, điên cuồng cắn xé thanh gỗ.

"Nhìn kìa, Bill," Henry thì thầm.

Bóng một con vật giống chó đang len lỏi vào vùng sáng của ngọn lửa - dáng đi ngang, từng bước rón rén. Nó di chuyển với một thứ pha trộn kỳ lạ giữa ngờ vực và táo bạo, cẩn trọng quan sát hai người đàn ông, nhưng phần lớn sự chú ý lại đổ dồn vào bầy chó. One Ear căng mình đến tận giới hạn của thanh gỗ, vươn về phía kẻ xâm nhập mà rên rỉ khắc khoải.

"Cái con One Ear đần độn ấy có vẻ chẳng biết sợ là gì nhỉ," Bill nói, giọng trầm xuống.

"Một con sói cái đấy," Henry thì thầm đáp, "và thế là quá rõ vì sao Fatty với Frog lần lượt mất tích. Nó chính là mồi nhử của cả bầy. Nó dụ con chó tách ra, rồi tất cả lũ còn lại đồng loạt xông vào xâu xé."

Ngọn lửa nổ lách tách. Một khúc củi vỡ tung kèm theo tiếng lốp bốp lớn. Âm thanh đột ngột ấy khiến con vật lạ hoảng hốt lùi phắt vào bóng tối.

"Henry này, tôi đang nghĩ," Bill lên tiếng.

"Nghĩ gì?"

"Tôi đang nghĩ, đó chính là con sói mà tôi đã phang cho một gậy."

"Chẳng còn lấy một mảy may nghi ngờ nào nữa," Henry đáp.

"Và ngay bây giờ tôi chỉ muốn nhận xét một điều," Bill nói tiếp, "là cái sự quen thuộc của con vật đó với lửa trại thực đáng ngờ, và thật là phi đạo lý."

"Nó biết nhiều hơn mức một con sói đàng hoàng cần phải biết," Henry đồng tình. "Một con sói đủ tinh khôn để len lỏi vào giữa bầy chó đúng ngay giờ ăn, hẳn phải là một tay già đời lão luyện."

"Ol' Villan từng có một con chó chạy theo bầy sói," Bill cao giọng trầm ngâm. "Tôi phải biết chứ. Chính tay tôi đã bắn trúng nó ngay trong đám sói, ở một bãi chăn nai sừng tấm bên vùng Little Stick4. Ol' Villan đã khóc như một đứa trẻ con sau đó. Ông ấy bảo đã ba năm rồi chưa gặp lại nó. Nó sống cùng bầy sói suốt ngần ấy thời gian."

"Tôi đoán là anh nói trúng phóc rồi, Bill ạ. Con sói đó nguyên là một con chó, và nó đã từng ăn cá biết bao lần từ chính tay con người."

"Và nếu tôi có cơ hội, cái giống sói-chó ấy sẽ chỉ còn là miếng mồi ngon thôi," Bill tuyên bố. "Chúng ta không thể mất thêm bất kỳ con vật nào nữa."

"Nhưng anh chỉ còn đúng ba viên đạn thôi," Henry phản đối.

"Tôi sẽ đợi một phát chắc ăn," là câu trả lời.

Sáng hôm sau, Henry nhóm lửa và nấu bữa điểm tâm trong lúc tiếng ngáy của bạn đồng hành vang rền bên tai.

"Anh ngủ ngon lành quá nhỉ," Henry cất tiếng, vừa kéo Bill dậy để ăn sáng. "Tôi chẳng nỡ đánh thức anh."

Bill lờ đờ ngồi dậy, ăn trong cơn ngái ngủ. Đưa tay với chiếc ấm cà phê, anh ta sực nhận ra cốc mình trống rỗng. Cái ấm nằm ngoài tầm tay, ngay bên cạnh Henry.

"Này, Henry," Bill nhẹ nhàng trách, "hình như anh quên gì rồi thì phải?"

Henry cẩn trọng đưa mắt nhìn quanh rồi lắc đầu. Bill giơ cao chiếc cốc không.

"Anh không có cà phê đâu," Henry tuyên bố.

"Hết rồi sao?" Bill lo lắng hỏi.

"Không."

"Anh không nghĩ nó làm hỏng bụng dạ tôi đấy chứ?"

"Không."

Một luồng máu nóng giận dữ đỏ ửng lan khắp mặt Bill.

"Thế thì tôi đang rất sốt ruột và nóng lòng chờ anh giải thích đây," anh ta nói.

"Spanker mất rồi," Henry đáp.

Không hề vội vã, mang dáng vẻ của một kẻ đã quen cam chịu trước tai ương, Bill quay đầu lại và ngay từ chỗ mình ngồi, lặng lẽ đếm bầy chó.

"Chuyện xảy ra thế nào?" anh ta hỏi, giọng hờ hững.

Henry nhún vai. "Chẳng biết nữa. Trừ phi One Ear đã gặm đứt dây cởi trói cho nó. Chứ tự nó thì chắc chắn không thể làm được."

"Đồ khốn nạn." Bill buông lời chậm rãi và nghiêm nghị, bên ngoài chẳng để lộ chút giận dữ nào của cơn cuồng nộ đang sục sôi bên trong. "Chỉ vì bản thân không gặm nổi dây tự giải thoát, nó bèn quay sang cởi trói cho Spanker."

"Chà, rắc rối của Spanker thế là hết rồi; tôi đoán giờ này nó đã được tiêu hóa xong xuôi và đang nhảy tung tăng bên trong dạ dày của dăm chục con sói khác nhau rồi," Henry trịnh trọng đọc điếu văn cho con chó mới mất tích nhất. "Uống cà phê đi, Bill."

Nhưng Bill lắc đầu.

"Thôi nào," Henry nài nỉ, chìa chiếc ấm ra.

Bill gạt cốc mình sang một bên. "Tôi đã thề là sẽ không uống. Tôi nói rồi, nếu mất thêm bất kỳ con chó nào, tôi sẽ không uống, và tôi giữ lời."

"Cà phê thơm ngon lắm đấy," Henry cất giọng dụ dỗ.

Nhưng Bill hết sức ngoan cố. Anh ta ăn bữa sáng khô khốc, nuốt trôi cùng những tiếng chửi rủa làu bàu nhắm vào One Ear và trò bịp bợm mà nó đã giở ra.

"Tối nay tôi sẽ cột chúng cách xa nhau ra," Bill nói khi cả hai bắt đầu lên đường.

Đi chưa đầy một trăm thước, Henry - người đang dẫn đầu - cúi xuống nhặt một vật gì đó mà chiếc giày trượt tuyết của anh vừa va phải. Trời tối đen, anh không thể nhìn thấy nó, nhưng ngón tay chạm vào là nhận ra ngay. Anh tiện tay quẳng nó ra phía sau, để nó đập vào xe trượt tuyết rồi nảy lên, cho đến khi vướng lại trên giày trượt tuyết của Bill.

"Có khi anh sẽ cần cái này đấy," Henry nói.

Bill kêu lên một tiếng. Đó là tất cả những gì còn sót lại của Spanker - thanh gỗ mà nó từng bị buộc vào.

"Chúng xơi sạch rồi, ăn cả da," Bill thông báo. "Thanh gỗ nhẵn thín như liếm. Gặm sạch lớp da ở cả hai đầu. Bọn chúng đói khủng khiếp lắm rồi, Henry à, và trước khi chuyến đi này kết thúc, chúng sẽ còn khiến anh và tôi phải toát mồ hôi hột."

Henry bật cười, giọng đầy thách thức. "Tôi chưa bao giờ bị bầy sói bám đuôi kiểu này trước đây, nhưng tôi đã từng trải qua những chuyện tồi tệ hơn thế nhiều mà vẫn sống nhăn răng. Phải cần nhiều hơn một nhúm sinh vật phiền toái đó mới quật ngã nổi tôi đấy, Bill, anh bạn của tôi ạ."

"Tôi không biết đâu, không dám chắc đâu," Bill làu bàu đầy điềm gở.

"Chà, rồi anh sẽ khá hơn thôi, khi chúng ta kéo được xe vào tới McGurry."

"Tôi chẳng thấy hào hứng tí nào," Bill khăng khăng.

"Anh không được khỏe, vấn đề là ở chỗ đó," Henry quả quyết. "Thứ anh cần là ký ninh5, và tôi sẽ cho anh uống một liều thật mạnh ngay khi đến McGurry."

Bill càu nhàu, tỏ vẻ không đồng tình với lời chẩn đoán ấy, rồi chìm vào im lặng. Ngày hôm đó cũng chẳng khác gì mọi ngày trước. Ánh sáng ló dạng vào lúc chín giờ. Mười hai giờ trưa, chân trời phía nam được sưởi ấm bởi mặt trời vô hình; rồi sau đó là cái lạnh lẽo xám xịt của buổi chiều bắt đầu buông xuống, hòa quyện vào màn đêm chỉ ba tiếng sau.

Ngay sau nỗ lực hiện hình vô vọng của mặt trời, Bill rút khẩu súng trường từ bên dưới đám dây buộc xe trượt tuyết và nói:

"Anh cứ đi tiếp đi, Henry, để tôi vòng ra xem có thấy gì không."

"Tốt hơn hết là anh nên bám lấy xe trượt tuyết," bạn đồng hành phản đối. "Anh chỉ có ba viên đạn thôi, mà chẳng ai biết chuyện gì có thể xảy ra."

"Giờ thì ai mới là kẻ than vãn đây?" Bill vặn lại, giọng đắc thắng.

Henry không đáp, lầm lũi bước tiếp một mình, dù vẫn thường xuyên liếc những ánh nhìn lo âu về phía khoảng tĩnh lặng xám xịt nơi bạn đồng hành vừa khuất bóng. Một giờ sau, tận dụng những con đường tắt mà xe trượt tuyết phải đi vòng, Bill đã quay trở lại.

"Chúng tản ra và dàn trải trên diện rộng," anh ta kể. "Vừa bám theo chúng ta, vừa đồng thời săn mồi. Anh thấy đấy, chúng chắc chắn muốn tóm được chúng ta, chỉ có điều chúng biết phải chờ thời. Nhưng trong lúc này, chúng sẵn sàng vớ bất cứ thứ gì ăn được vớ được trên đường đi."

"Ý anh là chúng nghĩ chúng chắc chắn tóm được chúng ta," Henry sắc sảo sửa lại.

Nhưng Bill phớt lờ lời anh. "Tôi đã nhìn thấy vài con trong số chúng. Gầy lắm. Tôi đoán cả tuần nay chúng chẳng có miếng gì vào bụng, ngoại trừ mấy con Fatty, Frog với Spanker; mà số lượng đông thế kia thì chừng ấy chẳng thấm tháp vào đâu. Gầy trơ xương. Xương sườn lòi ra như những tấm ván giặt, bụng dính ép vào tận xương sống. Tôi nói cho anh biết, chúng đang tuyệt vọng lắm rồi. Bọn chúng sắp phát điên lên đấy, anh cứ liệu hồn mà coi chừng."

Vài phút sau, Henry - lúc này đang đi phía sau xe trượt tuyết - phát ra một tiếng huýt sáo cảnh báo khe khẽ. Bill quay lại nhìn, rồi lặng lẽ cho bầy chó dừng bước. Phía sau lưng họ, từ chỗ vòng cua cuối cùng hiện ra rõ mồn một ngay trên chính dấu vết họ vừa đi qua, một bóng hình đầy lông lá đang lững thững tiến tới, dáng điệu lén lút. Mũi nó dí sát xuống dấu vết, từng bước di chuyển bằng một dáng trượt dài uyển chuyển đến kỳ lạ. Khi họ dừng lại, nó cũng dừng, ngóc đầu lên và chằm chằm nhìn họ đầy vững vàng, hai lỗ mũi giật giật khi nó bắt lấy và nghiên cứu mùi của họ.

"Con sói cái đấy," Bill cất tiếng.

Bầy chó đã nằm phủ phục xuống nền tuyết. Bill bước qua chúng để đến đứng sát bên bạn đồng hành ở chỗ xe trượt tuyết. Cả hai cùng quan sát con vật lạ lùng đã bám đuôi họ suốt nhiều ngày và đã hoàn thành xuất sắc việc tiêu diệt phân nửa đội chó kéo xe.

Sau một hồi xem xét kỹ lưỡng, con vật lững thững bước tới vài bước. Rồi nó lặp lại như thế nhiều lần, cho đến khi chỉ còn cách một quãng ngắn chừng một trăm thước. Nó dừng lại, đầu ngước cao, ngay sát một lùm vân sam, vừa dùng thị giác vừa dùng khứu giác để nghiên cứu nhóm những người đàn ông đang đứng quan sát. Nó nhìn họ với một vẻ thèm muốn khác thường, mang dáng dấp của loài chó; nhưng trong sự thèm muốn ấy chẳng hề có chút gắn bó nào của loài chó. Đó là sự thèm muốn sinh ra từ cơn đói - tàn nhẫn như chính răng nanh của nó, không khoan nhượng như chính cái giá lạnh.

Nó khá to lớn đối với một con sói. Khung xương hốc hác của nó phơi bày những đường nét của một con vật thuộc hàng lớn nhất trong loài.

"Đứng sát vai chắc phải gần hai feet rưỡi," Henry nhận định. "Và tôi dám cá nó dài không dưới năm feet."

"Màu sắc hơi lạ đối với một con sói," Bill góp lời. "Tôi chưa từng thấy con sói đỏ nào trước đây. Với tôi, nom nó gần như màu quế."

Con vật chắc chắn không phải màu quế. Bộ lông của nó là bộ lông sói đích thực. Màu chủ đạo là màu xám, ấy vậy mà vẫn có một sắc đỏ mờ nhạt phảng phất - một sắc màu đánh lừa thị giác, lúc ẩn lúc hiện, tựa như một ảo ảnh quang học: khi thì xám, xám rành rành trước mắt, khi lại gợi lên những tia lấp lánh của một sắc đỏ mơ hồ, không thể phân loại theo kinh nghiệm thông thường.

"Trông y hệt một con chó kéo xe husky to xác," Bill nói. "Tôi mà thấy nó vẫy đuôi thì cũng chẳng lấy làm lạ."

"Này, con husky kia!" anh ta réo gọi. "Lại đây! Mày tên gì cũng được."

"Nó chẳng sợ anh một chút nào," Henry cười.

Bill vung tay về phía nó đầy đe dọa và hét lớn; nhưng con vật chẳng để lộ chút sợ hãi nào. Sự thay đổi duy nhất mà họ có thể nhận ra là mức độ cảnh giác của nó tăng lên. Nó vẫn nhìn họ bằng sự thèm muốn tàn nhẫn của cơn đói. Họ là thịt, và nó đang đói; và nó hẳn đã muốn xông vào ăn thịt họ nếu nó dám.

"Nhìn đây, Henry," Bill nói, bất giác hạ giọng xuống thành tiếng thì thầm bởi điều anh ta sắp làm. "Chúng ta có ba viên đạn. Nhưng đây là một phát bắn chí mạng. Không thể trượt được. Nó đã mang đi ba con chó của chúng ta rồi, và ta phải chấm dứt chuyện này. Anh nghĩ sao?"

Henry gật đầu đồng ý. Bill thận trọng rút khẩu súng từ bên dưới dây buộc xe trượt tuyết. Khẩu súng đang trên đường đưa lên ngang vai anh ta, nhưng nó chẳng bao giờ chạm tới đích. Bởi ngay khoảnh khắc đó, con sói cái vọt ngang khỏi dấu vết, lao vào lùm vân sam và biến mất.

Hai người đàn ông nhìn nhau. Henry huýt sáo một hơi dài đầy thấu hiểu.

"Đáng lẽ tôi phải biết trước điều đó," Bill lên tiếng trách cứ bản thân, vừa cất khẩu súng trở lại. "Dĩ nhiên một con sói đủ khôn ngoan để lẻn vào giữa bầy chó đúng ngay giờ ăn, thì cũng rành rẽ súng ống như ai. Tôi nói thẳng với anh ngay lúc này, Henry, con vật đó chính là nguồn cơn của mọi rắc rối mà chúng ta gặp phải. Nếu không vì nó, giờ này chúng ta đã có sáu con chó, thay vì ba. Và tôi nói thẳng với anh luôn, Henry, tôi sẽ bắt cho bằng được nó. Nó quá tinh khôn để có thể bắn hạ giữa chỗ trống trải. Nhưng tôi sẽ phục kích nó. Tôi sẽ phục kích nó, chắc như tên tôi là Bill vậy."

"Anh không cần phải đi chệch xa quá để làm chuyện đó đâu," bạn đồng hành khuyên nhủ. "Nhỡ cả bầy bắt đầu nhảy bổ vào anh, thì ba viên đạn đó cũng chẳng giá trị gì hơn ba tiếng la hét dưới địa ngục. Lũ thú đó đang chết đói đấy, và một khi chúng bắt đầu thì chúng chắc chắn sẽ tóm được anh, Bill ạ."

Họ hạ trại sớm vào đêm hôm ấy. Ba con chó chẳng thể kéo xe trượt tuyết nhanh hay bền bỉ như sáu con, và chúng đã lộ rõ những dấu hiệu kiệt sức không thể che giấu. Hai người đàn ông cũng đi ngủ sớm. Trước khi chìm vào giấc ngủ, Bill kiểm tra kỹ lũ chó, buộc chúng xa nhau đủ để không con nào cắn xé được con nào.

Nhưng bầy sói mỗi lúc một táo tợn hơn. Hai người đàn ông bị đánh thức không chỉ một lần trong đêm. Bầy sói mon men đến quá gần, khiến lũ chó phát cuồng trong cơn hoảng sợ, và họ buộc phải liên tục ném thêm củi vào lửa - hết lần này đến lần khác - chỉ để giữ lũ kẻ cướp liều lĩnh ấy ở một khoảng cách an toàn hơn.

"Tôi từng nghe mấy tay thủy thủ kể về cá mập bám theo tàu," Bill nhận xét khi anh ta lại chui vào trong chăn sau một lần ném củi như thế. "Chà, tôi nói với anh, lũ sói này chính là cá mập trên cạn đấy6. Chúng rành rẽ công việc của mình hơn cả chúng ta, và chúng không bám riết theo dấu chân ta kiểu này vì lý do sức khỏe đâu. Chúng sẽ tóm được chúng ta thôi. Chắc chắn chúng sẽ tóm được chúng ta, Henry ạ."

"Thì chúng đã tóm được một nửa của anh rồi còn gì, với cái kiểu anh nói năng như thế," Henry quát lại, giọng gay gắt. "Một người đàn ông đã thua một nửa trận chiến ngay khi anh ta thốt ra những lời như vậy. Và anh đang bị nuốt chửng một nửa rồi, xét theo cách anh đang xử sự đấy."

"Chúng đã hạ gục những người đàn ông giỏi giang hơn anh và tôi nhiều," Bill đáp.

"Ồ, im cái miệng than vãn của anh lại đi! Anh làm tôi mệt mỏi đến tận xương tủy rồi."

Henry tức giận lăn người sang một bên, nhưng thật ngạc nhiên là Bill chẳng hề có phản ứng giận dữ đáp trả. Đó không phải là kiểu của Bill, bởi anh ta vốn là người dễ bị những lời châm chọc sắc lẹm chọc cho nổi đóa. Henry nằm suy nghĩ rất lâu về điều đó trước khi chìm vào giấc ngủ, và khi đôi mi mắt anh nặng trĩu khép xuống, lúc anh đang thiu thiu thiếp đi, ý nghĩ cuối cùng vụt qua trong đầu anh là: "Không thể nhầm lẫn được rồi. Bill đang chán nản tột độ. Ngày mai mình phải vực dậy tinh thần cho cậu ấy mới được."



  1. Fort McGurry là một trạm buôn bán lông thú và tiền đồn văn minh nằm sâu trong vùng hoang dã. Những khu định cư như vậy là ánh sáng hy vọng và là điểm tựa sinh tồn cho những người đi rừng giữa mùa đông khắc nghiệt. 

  2. Chơi chữ tinh tế của nguyên tác. Bột baking soda (chất kiềm) được những người đi rừng dùng như bài thuốc dân gian trị chứng ợ chua (sour stomach). Ở đây, Henry mỉa mai rằng sô-đa không chỉ làm dịu dạ dày mà còn giúp tính tình cáu bẳn của Bill trở nên "ngọt ngào" dễ chịu hơn. 

  3. Kỹ thuật đặc trưng của thổ dân Bắc Mỹ. Họ dùng một thanh gỗ (stick-tie) nối vào vòng cổ để giữ khoảng cách, ngăn lũ chó kéo xe (vốn bán hoang dã và rất dữ tợn) dùng răng cắn đứt dây da để xổng ra ngoài hoặc cắn xé lẫn nhau. 

  4. Tên một khu vực hoang dã ở miền Bắc Canada. "Stick" trong ngôn ngữ địa phương thường chỉ những khu vực có rừng cây gỗ mọc dày (timberline), trái ngược với vùng lãnh nguyên (tundra) trơ trọi. 

  5. Ký ninh (quinine) vốn là thuốc đặc trị sốt rét, nhưng vào thời kỳ này, nó thường được sử dụng như một loại thuốc bổ đa năng để trị các chứng sốt, cảm lạnh và suy nhược cơ thể. 

  6. Phép ẩn dụ rùng rợn nhưng chân thực, so sánh bầy sói đói bám theo xe trượt tuyết với loài cá mập bám theo những con tàu biển chờ chực thủy thủ gặp nạn. Sự chầm chậm, kiên nhẫn bám đuôi con mồi là nỗi khiếp sợ lớn nhất đối với người đi rừng.