CHƯƠNG IV. TIẾNG GỌI CỦA ĐỒNG LOẠI
Ngày tháng lặng lẽ trôi qua. Nơi miền Đất Phương Nam1, thức ăn dồi dào chẳng cần nhọc công kiếm tìm, Nanh Trắng béo tốt, sung túc và hạnh phúc. Nó không chỉ đặt chân đến miền Đất Phương Nam về mặt địa lý - mà còn đang bước vào miền đất phương Nam ấm áp của chính cuộc đời mình. Lòng tốt của con người tựa ánh mặt trời sưởi ấm nó, và nó vươn mình rực rỡ như một đóa hoa được ươm trồng trong mảnh đất màu mỡ.
Thế nhưng, có điều gì đó nơi nó vẫn khác biệt hẳn với những con chó khác. Nó am hiểu luật lệ còn hơn cả những con chó chưa từng nếm trải kiếp sống nào khác, và tuân thủ luật lệ một cách tỉ mỉ hơn; nhưng quanh nó vẫn luôn phảng phất một vẻ dữ tợn ngấm ngầm - tựa như chốn Hoang Dã2 vẫn còn nấn ná đâu đây, và phần sói bên trong chỉ đang lim dim say giấc.
Nó chẳng bao giờ kết bạn với những con chó khác. Nó đã quen sống cô độc giữa đồng loại, và sẽ tiếp tục như thế. Từ thuở còn là chó con, dưới sự bắt nạt của Nhép-Nhép cùng bầy chó con, rồi những tháng ngày chiến đấu dưới tay thằng Sẹp, nó đã mang trong mình một mối ác cảm cố hữu với loài chó. Dòng phát triển tự nhiên của nó đã bị bẻ lệch, và khi lánh xa đồng loại, nó lại gắn bó sâu sắc với con người.
Hơn nữa, lũ chó nơi miền Đất Phương Nam đều dõi theo nó bằng ánh mắt nghi ngại. Nó khơi dậy trong chúng nỗi sợ bản năng về chốn Hoang Dã, và chúng luôn chào đón nó bằng những tiếng gầm gừ, những chiếc nanh nhe ra cùng lòng thù hận hiếu chiến. Nhưng ngược lại, nó đã học được rằng chẳng cần phải dùng đến răng nanh với chúng. Những chiếc nanh nhe ra và đôi môi nhăn nhúm của nó luôn phát huy hiệu quả đều đặn, hiếm khi thất bại trong việc khiến bất kỳ con chó đang sủa nhăng cuồng lao tới phải khựng lại và rụt rè lùi bước.
Nhưng trong đời Nanh Trắng, có một thử thách mang tên Collie. Nàng chưa bao giờ cho nó được một phút giây yên bình. Nàng không dễ uốn nắn theo luật lệ như nó. Nàng phớt lờ mọi nỗ lực của chủ nhân nhằm khiến đôi bên trở thành bè bạn. Bên tai nó lúc nào cũng văng vẳng tiếng gầm gừ sắc lạnh và chói tai của nàng. Nàng chưa từng tha thứ cho nó về vụ án giết gà, và kiên quyết bám giữ niềm tin rằng nó luôn rắp tâm mưu đồ xấu xa. Nàng kết tội nó ngay cả trước khi hành động kịp xảy ra, rồi đối xử với nó y như thế. Nàng trở thành kẻ quấy rầy dai dẳng, như một viên cảnh sát lẽo đẽo theo sát nó quanh chuồng ngựa và đàn chó săn. Chỉ cần nó liếc nhìn tò mò một con bồ câu hay con gà, nàng sẽ lập tức ré lên những tiếng kêu phẫn nộ đầy giận dữ. Cách phớt lờ nàng mà nó ưa thích nhất là nằm xuống, gối đầu lên hai chân trước, rồi vờ như đang ngủ. Hành động này luôn khiến nàng sửng sốt mà im bặt.
Ngoại trừ Collie, mọi chuyện với Nanh Trắng đều hanh thông. Nó đã học được cách tự chủ và sự quân bình trong tâm hồn, nó thông tỏ luật lệ. Nó đạt đến trạng thái điềm tĩnh, an nhiên, cùng một lòng bao dung mang dáng dấp triết lý. Nanh Trắng không còn sống giữa một thế giới đầy thù nghịch. Hiểm nguy, đau đớn và cái chết không còn rình rập sau mỗi bụi cây, mỗi khúc quanh. Theo năm tháng, cái bóng của những điều chưa biết - từng là nỗi kinh hoàng, mối đe dọa thường trực - lặng lẽ tan đi. Cuộc sống êm đềm trôi, nhẹ như dòng suối mát. Mọi sự thuận dòng, không còn nỗi sợ hãi hay kẻ thù nào ẩn nấp bên lối.
Nó nhớ tuyết mà chẳng hề hay biết. "Một mùa hè dài đến lạ," hẳn đó sẽ là ý nghĩ của nó, nếu như nó có thể nghĩ về điều ấy; nhưng thực ra, nó chỉ nhớ tuyết theo một cách mơ hồ dưới đáy tiềm thức. Cũng theo cách tương tự, nhất là vào những ngày hè oi ả khi bị mặt trời nung nấu, nó lại trải qua cơn thèm khát mơ hồ về miền Đất Phương Bắc xa xôi. Nhưng những cơn khát ấy chỉ để lại trong nó một cảm giác bồn chồn, bứt rứt không sao lý giải nổi.
Nanh Trắng chưa từng là kẻ giỏi bày tỏ cảm xúc. Ngoài việc rúc đầu vào lòng ngài và cất lên âm thanh thủ thỉ theo kiểu gầm gừ yêu thương, nó chẳng có cách nào khác để biểu lộ tình yêu của mình. Thế mà nó lại được ban cho cơ hội khám phá ra cách thứ ba. Từ lâu, nó vốn nhạy cảm với tiếng cười của các vị thần. Tiếng cười ấy đã từng khiến nó cuồng nộ, xô nó vào những cơn giận điên dại. Nhưng nó nào có thể nổi giận với vị chủ nhân yêu thương. Vậy nên, khi vị thần ấy chọn cách cười vào mặt nó - một kiểu trêu chọc đầy thiện ý - nó rơi vào bối rối. Nó cảm thấy mũi châm của cơn giận cũ đang cố trỗi dậy trong lồng ngực, nhưng cơn giận ấy va phải tình yêu. Nó chẳng thể tức giận; vậy mà nó phải làm một điều gì đó. Thoạt tiên, nó cố giữ vẻ nghiêm trang - và chủ nhân lại cười to hơn nữa. Rồi nó càng cố nghiêm trang hơn, và chủ nhân lại cười còn to hơn cả trước đó. Cuối cùng, ngài cười đến mức khiến nó đành phải buông bỏ lớp mặt nghiêm trang kia. Hàm nó hé mở, khóe môi nhếch lên, và trong đôi mắt nó ánh lên một biểu cảm ngượng ngập - chất chứa yêu thương nhiều hơn là hài hước. Thế là nó đã học được cách cười.
Và cũng như thế, nó học được cách nô đùa cùng chủ nhân: để mình bị vật ngã, để mình lăn tròn trên đất, và trở thành nạn nhân của vô số trò đùa thô bạo. Đáp lại, nó làm bộ làm tịch như thể đang phẫn nộ, xù lông, gầm gừ dữ tợn, và đập hai hàm răng vào nhau trong những cú đớp nhuốm đầy ý định giết chóc. Nhưng nó không bao giờ để mình mất kiểm soát. Những cú đớp ấy luôn chỉ ngoạm vào không khí. Và khi mỗi màn nô đùa lên đến cao trào - những cú quào, những cái tát, những phát ngoạm và những tiếng gầm gừ diễn ra dồn dập, điên cuồng - cả hai sẽ bỗng dưng khựng lại, đứng cách nhau vài bước chân, trân trân nhìn thẳng vào mắt nhau. Rồi, cũng bất thần như thế, tựa như vầng dương ló rạng trên một mặt biển còn đang cuộn sóng, cả hai cùng òa lên cười. Trò chơi bao giờ cũng khép lại bằng vòng tay ngài ôm lấy cổ và vai Nanh Trắng, trong khi nó khẽ khàng thủ thỉ và gầm gừ khúc hát yêu thương của riêng mình.
Nhưng chẳng một ai khác từng nô đùa với Nanh Trắng. Nó không cho phép. Nó giữ vững vẻ nghiêm trang của mình, và mỗi khi ai đó thử làm vậy, tiếng gầm gừ cảnh báo cùng bộ lông dựng đứng trên bờm nó không hề mang ý nghĩa đùa giỡn. Việc nó cho phép chủ nhân làm những điều ấy không đồng nghĩa với việc nó trở thành một con chó tầm thường, yêu thương khắp chốn, để mọi người tùy tiện nô đùa và tiêu khiển. Nó yêu bằng một trái tim duy nhất, và nó nhất quyết không hạ thấp bản thân mình hay tình yêu của mình.
Ngài thường hay cưỡi ngựa ra ngoài, và chạy theo ngài là một trong những phận sự chính yếu trong đời Nanh Trắng. Thuở ở vùng Đất Phương Bắc3, nó từng chứng tỏ lòng trung thành bằng cách nhọc nhằn kéo xe trượt tuyết. Nhưng miền Đất Phương Nam chẳng có xe trượt, lũ chó cũng không phải thồ hàng trên lưng. Vậy nên nó bày tỏ lòng trung thành theo một cách mới: chạy theo con ngựa của ngài. Ngày dài nhất cũng chẳng bao giờ vắt kiệt được sức Nanh Trắng. Bước chạy của nó là bước đi của loài sói - êm ái, không mệt mỏi, gần như chẳng tốn chút sức lực nào. Sau khi chạy trọn năm mươi dặm, nó vẫn hăng hái vượt lên trước đầu ngựa.
Chính trong những cuộc cưỡi ngựa dong ruổi ấy, Nanh Trắng đã đạt thêm một cách thể hiện mới mẻ - và thật đáng chú ý, bởi suốt cả cuộc đời mình, nó chỉ làm được điều này đúng hai lần. Lần đầu tiên diễn ra khi chủ nhân đang cố dạy một con ngựa thuần chủng đầy khí thế học cách mở và đóng cổng mà người cưỡi không phải xuống yên. Hết lần này đến lần khác, anh điều khiển con ngựa tiến đến sát cổng để tìm cách đóng nó lại. Lần nào con ngựa cũng hoảng hồn giật lùi và lồng lên. Nó càng lúc càng trở nên hoảng hốt và kích động. Khi nó chồm hai chân trước lên cao, chủ nhân thúc cựa vào hông nó, bắt nó hạ chân xuống đất. Tức thì nó liền tung vó đá hậu điên cuồng. Nanh Trắng dõi theo màn trình diễn ấy với nỗi lo lắng cứ mỗi lúc một dâng trào, cho đến khi không thể kìm nén thêm được nữa - nó phóng vụt ra trước mặt con ngựa và cất tiếng sủa dữ tợn đầy tính cảnh cáo.
Dẫu về sau nó thường cố sủa, và chủ nhân cũng ra sức khuyến khích, thế nhưng nó chỉ thành công vỏn vẹn thêm một lần nữa - và lần ấy không diễn ra trước mặt chủ nhân. Một cuộc phi ngựa rong ruổi trên đồng cỏ, một con thỏ rừng bất ngờ tung mình vọt lên ngay dưới vó ngựa, một cú ngoặt gấp đột ngột, một bước vấp, một cú ngã nhào xuống đất, và cái chân gãy của ngài - tất cả chính là nguyên do. Nanh Trắng điên cuồng lao thẳng vào cổ họng con ngựa gây họa, nhưng giọng nói của chủ nhân đã kịp ghì nó lại.
"Về nhà! Về nhà đi!" - ngài ra lệnh, khi đã thấu rõ mức chấn thương của mình.
Nanh Trắng không đành lòng bỏ mặc anh. Ngài thoáng nghĩ đến việc viết một mẩu giấy, nhưng lục lọi khắp các túi mà chẳng tìm ra giấy bút. Anh lại ra lệnh cho Nanh Trắng về nhà.
Nó nhìn ngài đầy lưu luyến, khẽ cất bước, rồi lại quay trở lại, cất tiếng rên rỉ nghẹn ngào. Ngài nói với nó bằng giọng dịu dàng mà nghiêm túc, và nó vểnh tai lên, chăm chú lắng nghe trong nỗi đau đớn tột cùng.
"Không sao đâu, cậu bạn già," cuộc trò chuyện tiếp diễn. "Cậu cứ chạy về nhà đi. Về nhà và báo cho họ biết chuyện gì đã xảy ra với ta. Về nhà đi, con sói của ta. Về nhà mau lên!"
Nanh Trắng hiểu ý nghĩa của từ "nhà", và dẫu không hiểu phần còn lại trong ngôn ngữ của chủ nhân, nó vẫn biết: ý muốn của ngài là nó phải về nhà. Nó quay đầu, lững thững bước đi trong nỗi miễn cưỡng ngập tràn. Rồi nó dừng lại, lưỡng lự, ngoái nhìn qua vai.
"Về nhà!" - mệnh lệnh dứt khoát vang lên. Và lần này, nó đã tuân lệnh.
Gia đình đang quây quần nơi mái hiên, tận hưởng làn gió mát dịu của buổi chiều muộn, thì Nanh Trắng trở về. Nó bước vào giữa vòng người, thở hổn hển, bộ lông phủ đầy bụi đất đường xa.
"Weedon đã về kìa," mẹ của Weedon cất tiếng báo.
Lũ trẻ reo hò mừng rỡ, ùa ra chào đón Nanh Trắng. Nó khéo léo né tránh, len mình men theo mái hiên, nhưng bọn trẻ đã nhanh chân dồn nó vào góc kẹt giữa chiếc ghế bập bênh và lan can. Nó gầm gừ, cố lách mình thoát khỏi đám trẻ. Mẹ chúng hướng ánh mắt về phía ấy, nét mặt thoáng chút e ngại.
"Mẹ thú thật, có con sói này ở gần bọn trẻ khiến mẹ lúc nào cũng thấy bất an," bà nói. "Mẹ sợ một ngày nào đó, nó sẽ bất thần quay sang cắn chúng mất."
Bằng một tiếng gầm gừ dữ tợn, Nanh Trắng phóng vọt ra khỏi góc, xô ngã cả cậu bé lẫn cô bé. Bà vội gọi chúng lại gần, dỗ dành và dặn chúng đừng trêu chọc Nanh Trắng nữa.
"Sói thì mãi là sói thôi!" Thẩm phán Scott nhận định. "Có bao giờ tin tưởng nổi đâu."
"Nhưng nó đâu phải là sói hoàn toàn," Beth chen lời, đứng ra bênh vực thay cho anh trai khi anh vắng mặt.
"Con chỉ biết mỗi ý kiến của Weedon về việc đó thôi," vị thẩm phán đáp. "Anh con chỉ phỏng đoán rằng Nanh Trắng có chút dòng máu chó trong người; nhưng chính anh ấy cũng từng nói với con là anh ấy chẳng biết chắc điều gì về chuyện đó cả. Còn nhìn vẻ ngoài của con sói này thì-"
Ông chưa kịp nói hết câu. Nanh Trắng đã sừng sững đứng ngay trước mặt ông, gầm gừ dữ dằn.
"Đi ra chỗ khác! Nằm xuống, mi!" Thẩm phán Scott quát lớn.
Nanh Trắng liền quay sang người vợ của chủ nhân yêu thương. Cô thét lên kinh hãi khi nó ngoạm chặt lấy váy cô, kéo mạnh cho đến khi mảnh vải mỏng manh rách toạc. Giờ đây, mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía nó.
Nó đã thôi gầm gừ, đứng lặng đó, đầu ngẩng cao, nhìn thẳng vào từng gương mặt. Cổ họng nó giật lên từng cơn co thắt, nhưng không một âm thanh nào thoát ra, trong khi toàn thân nó vùng vẫy, run lên trong nỗ lực tống khứ một điều gì đó không thể thốt nên lời đang chực trào ra từ bên trong.
"Mẹ chỉ mong nó không phát điên," mẹ của Weedon thốt lên. "Mẹ đã bảo Weedon là mẹ e rằng khí hậu ấm áp sẽ không hợp với một con vật Bắc Cực mà."
"Con tin rằng nó đang cố nói điều gì đó," Beth lên tiếng.
Đúng khoảnh khắc ấy, Nanh Trắng cất tiếng - tuôn trào trong một tràng sủa vang dội.
"Có chuyện gì đó đã xảy ra với Weedon," vợ anh quả quyết.
Tất thảy bọn họ đều bật dậy, và Nanh Trắng lao xuống bậc thang, ngoái đầu lại chờ họ bước theo. Lần thứ hai, và cũng là lần cuối cùng trong đời, nó đã sủa - và khiến cho người ta hiểu được mình.
Sau sự kiện ấy, nó đã có được một chỗ ấm áp hơn trong trái tim những con người ở Sierra Vista, đến nỗi ngay cả người giữ ngựa từng bị nó cắn nát cánh tay cũng thừa nhận rằng, dù là sói, nhưng nó quả là một con vật khôn ngoan. Riêng Thẩm phán Scott vẫn khăng khăng giữ nguyên quan điểm của mình, và minh chứng cho điều đó - một cách chẳng mấy thuyết phục - bằng những số đo cùng mô tả trích từ bách khoa toàn thư và vô số tài liệu về lịch sử tự nhiên4.
Ngày nối ngày trôi qua, ánh nắng vẫn chan hòa bất tận trên Thung lũng Santa Clara. Thế rồi những ngày bắt đầu ngắn lại, và khi mùa đông thứ hai của Nanh Trắng nơi vùng Đất Phương Nam kéo đến, nó nhận ra một điều thật lạ lùng. Răng của Collie chẳng còn sắc nhọn nữa. Trong những cú cắn của nàng giờ đây ẩn chứa một sự đùa giỡn, một nét dịu dàng khiến chúng không còn làm nó thực sự đau đớn. Nó đã quên mất rằng nàng từng biến cuộc đời nó thành một gánh nặng; và mỗi khi nàng nhảy múa vòng quanh, nó lại trang nghiêm đáp trả, cố gắng bắt chước trò đùa của nàng, nhưng kết quả chỉ khiến bản thân trở nên lố bịch mà thôi.
Rồi một ngày kia, nàng dụ nó vào một cuộc rượt đuổi dài băng qua bãi cỏ chăn thả phía sau, tiến sâu vào khu rừng. Đó là buổi chiều mà chủ nhân định cưỡi ngựa ra ngoài, và Nanh Trắng biết rõ điều ấy. Con ngựa đã được thắng yên, đứng chờ sẵn ngoài cửa. Nanh Trắng chần chừ. Nhưng trong sâu thẳm lòng nó, có một thứ gì đó mạnh mẽ hơn tất thảy những luật lệ nó từng học, hơn những thói quen đã nhào nặn nên nó, hơn cả tình yêu nó dành cho ngài, hơn cả chính ý chí sinh tồn của bản thân nó; và vào đúng khoảnh khắc do dự ấy, Collie cắn nhẹ nó một cái rồi phóng đi, nó liền quay ngoắt lại và lao theo. Chủ nhân cưỡi ngựa đi một mình trong ngày hôm ấy; còn trong rừng sâu, kề vai sát cánh, Nanh Trắng đang sải bước bên Collie, y hệt như mẹ nó, Kiche, và lão Một Mắt đã từng chạy bên nhau trong khu rừng tĩnh lặng nơi vùng Đất Phương Bắc thuở nào.
-
Bản gốc tiếng Anh là 'Southland', trong bối cảnh các tác phẩm của Jack London thường chỉ vùng đất ấm áp ở phía Nam (như California ở Mỹ), đối lập với 'Northland' (vùng Bắc Cực lạnh giá). Khái niệm này không chỉ mang ý nghĩa địa lý mà còn tượng trưng cho môi trường của nền văn minh nhân loại, sự dư dả và sự thuần hóa. ↩
-
Bản gốc tiếng Anh là 'the Wild'. Tác giả Jack London thường xuyên viết hoa và nhân cách hóa khái niệm này để chỉ sức mạnh nguyên thủy, khắc nghiệt, bí ẩn và tàn nhẫn của thiên nhiên hoang sơ, đối lập hoàn toàn với sự an toàn và trật tự của con người. ↩
-
Bản gốc 'Northland', chỉ vùng đất băng giá ở cực Bắc lục địa châu Mỹ (như lãnh thổ Yukon, Alaska). Trong hệ thống biểu tượng của tác giả, nơi đây đại diện cho môi trường thiên nhiên khắc nghiệt tột cùng, nơi mọi sinh vật bị chi phối bởi quy luật sinh tồn nguyên thủy. ↩
-
Bản gốc 'natural history'. Vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, thuật ngữ này được dùng phổ biến để chỉ một ngành khoa học nghiên cứu bao quát về thế giới tự nhiên, bao gồm động vật học, thực vật học và khoáng vật học, mang tính chất quan sát và miêu tả thực chứng hơn là thực nghiệm. ↩
CHAPTER IV THE CALL OF KIND
The months came and went. There was plenty of food and no work in the Southland, and White Fang lived fat and prosperous and happy. Not alone was he in the geographical Southland, for he was in the Southland of life. Human kindness was like a sun shining upon him, and he flourished like a flower planted in good soil.
And yet he remained somehow different from other dogs. He knew the law even better than did the dogs that had known no other life, and he observed the law more punctiliously; but still there was about him a suggestion of lurking ferocity, as though the Wild still lingered in him and the wolf in him merely slept.
He never chummed with other dogs. Lonely he had lived, so far as his kind was concerned, and lonely he would continue to live. In his puppyhood, under the persecution of Lip-lip and the puppy-pack, and in his fighting days with Beauty Smith, he had acquired a fixed aversion for dogs. The natural course of his life had been diverted, and, recoiling from his kind, he had clung to the human.
Besides, all Southland dogs looked upon him with suspicion. He aroused in them their instinctive fear of the Wild, and they greeted him always with snarl and growl and belligerent hatred. He, on the other hand, learned that it was not necessary to use his teeth upon them. His naked fangs and writhing lips were uniformly efficacious, rarely failing to send a bellowing on-rushing dog back on its haunches.
But there was one trial in White Fang’s life-Collie. She never gave him a moment’s peace. She was not so amenable to the law as he. She defied all efforts of the master to make her become friends with White Fang. Ever in his ears was sounding her sharp and nervous snarl. She had never forgiven him the chicken-killing episode, and persistently held to the belief that his intentions were bad. She found him guilty before the act, and treated him accordingly. She became a pest to him, like a policeman following him around the stable and the hounds, and, if he even so much as glanced curiously at a pigeon or chicken, bursting into an outcry of indignation and wrath. His favourite way of ignoring her was to lie down, with his head on his fore-paws, and pretend sleep. This always dumfounded and silenced her.
With the exception of Collie, all things went well with White Fang. He had learned control and poise, and he knew the law. He achieved a staidness, and calmness, and philosophic tolerance. He no longer lived in a hostile environment. Danger and hurt and death did not lurk everywhere about him. In time, the unknown, as a thing of terror and menace ever impending, faded away. Life was soft and easy. It flowed along smoothly, and neither fear nor foe lurked by the way.
He missed the snow without being aware of it. “An unduly long summer,” would have been his thought had he thought about it; as it was, he merely missed the snow in a vague, subconscious way. In the same fashion, especially in the heat of summer when he suffered from the sun, he experienced faint longings for the Northland. Their only effect upon him, however, was to make him uneasy and restless without his knowing what was the matter.
White Fang had never been very demonstrative. Beyond his snuggling and the throwing of a crooning note into his love-growl, he had no way of expressing his love. Yet it was given him to discover a third way. He had always been susceptible to the laughter of the gods. Laughter had affected him with madness, made him frantic with rage. But he did not have it in him to be angry with the love-master, and when that god elected to laugh at him in a good-natured, bantering way, he was nonplussed. He could feel the pricking and stinging of the old anger as it strove to rise up in him, but it strove against love. He could not be angry; yet he had to do something. At first he was dignified, and the master laughed the harder. Then he tried to be more dignified, and the master laughed harder than before. In the end, the master laughed him out of his dignity. His jaws slightly parted, his lips lifted a little, and a quizzical expression that was more love than humour came into his eyes. He had learned to laugh.
Likewise he learned to romp with the master, to be tumbled down and rolled over, and be the victim of innumerable rough tricks. In return he feigned anger, bristling and growling ferociously, and clipping his teeth together in snaps that had all the seeming of deadly intention. But he never forgot himself. Those snaps were always delivered on the empty air. At the end of such a romp, when blow and cuff and snap and snarl were fast and furious, they would break off suddenly and stand several feet apart, glaring at each other. And then, just as suddenly, like the sun rising on a stormy sea, they would begin to laugh. This would always culminate with the master’s arms going around White Fang’s neck and shoulders while the latter crooned and growled his love-song.
But nobody else ever romped with White Fang. He did not permit it. He stood on his dignity, and when they attempted it, his warning snarl and bristling mane were anything but playful. That he allowed the master these liberties was no reason that he should be a common dog, loving here and loving there, everybody’s property for a romp and good time. He loved with single heart and refused to cheapen himself or his love.
The master went out on horseback a great deal, and to accompany him was one of White Fang’s chief duties in life. In the Northland he had evidenced his fealty by toiling in the harness; but there were no sleds in the Southland, nor did dogs pack burdens on their backs. So he rendered fealty in the new way, by running with the master’s horse. The longest day never played White Fang out. His was the gait of the wolf, smooth, tireless and effortless, and at the end of fifty miles he would come in jauntily ahead of the horse.
It was in connection with the riding, that White Fang achieved one other mode of expression-remarkable in that he did it but twice in all his life. The first time occurred when the master was trying to teach a spirited thoroughbred the method of opening and closing gates without the rider’s dismounting. Time and again and many times he ranged the horse up to the gate in the effort to close it and each time the horse became frightened and backed and plunged away. It grew more nervous and excited every moment. When it reared, the master put the spurs to it and made it drop its fore-legs back to earth, whereupon it would begin kicking with its hind-legs. White Fang watched the performance with increasing anxiety until he could contain himself no longer, when he sprang in front of the horse and barked savagely and warningly.
Though he often tried to bark thereafter, and the master encouraged him, he succeeded only once, and then it was not in the master’s presence. A scamper across the pasture, a jackrabbit rising suddenly under the horse’s feet, a violent sheer, a stumble, a fall to earth, and a broken leg for the master, was the cause of it. White Fang sprang in a rage at the throat of the offending horse, but was checked by the master’s voice.
“Home! Go home!” the master commanded when he had ascertained his injury.
White Fang was disinclined to desert him. The master thought of writing a note, but searched his pockets vainly for pencil and paper. Again he commanded White Fang to go home.
The latter regarded him wistfully, started away, then returned and whined softly. The master talked to him gently but seriously, and he cocked his ears, and listened with painful intentness.
“That’s all right, old fellow, you just run along home,” ran the talk. “Go on home and tell them what’s happened to me. Home with you, you wolf. Get along home!”
White Fang knew the meaning of “home,” and though he did not understand the remainder of the master’s language, he knew it was his will that he should go home. He turned and trotted reluctantly away. Then he stopped, undecided, and looked back over his shoulder.
“Go home!” came the sharp command, and this time he obeyed.
The family was on the porch, taking the cool of the afternoon, when White Fang arrived. He came in among them, panting, covered with dust.
“Weedon’s back,” Weedon’s mother announced.
The children welcomed White Fang with glad cries and ran to meet him. He avoided them and passed down the porch, but they cornered him against a rocking-chair and the railing. He growled and tried to push by them. Their mother looked apprehensively in their direction.
“I confess, he makes me nervous around the children,” she said. “I have a dread that he will turn upon them unexpectedly some day.”
Growling savagely, White Fang sprang out of the corner, overturning the boy and the girl. The mother called them to her and comforted them, telling them not to bother White Fang.
“A wolf is a wolf!” commented Judge Scott. “There is no trusting one.”
“But he is not all wolf,” interposed Beth, standing for her brother in his absence.
“You have only Weedon’s opinion for that,” rejoined the judge. “He merely surmises that there is some strain of dog in White Fang; but as he will tell you himself, he knows nothing about it. As for his appearance-”
He did not finish his sentence. White Fang stood before him, growling fiercely.
“Go away! Lie down, sir!” Judge Scott commanded.
White Fang turned to the love-master’s wife. She screamed with fright as he seized her dress in his teeth and dragged on it till the frail fabric tore away. By this time he had become the centre of interest.
He had ceased from his growling and stood, head up, looking into their faces. His throat worked spasmodically, but made no sound, while he struggled with all his body, convulsed with the effort to rid himself of the incommunicable something that strained for utterance.
“I hope he is not going mad,” said Weedon’s mother. “I told Weedon that I was afraid the warm climate would not agree with an Arctic animal.”
“He’s trying to speak, I do believe,” Beth announced.
At this moment speech came to White Fang, rushing up in a great burst of barking.
“Something has happened to Weedon,” his wife said decisively.
They were all on their feet now, and White Fang ran down the steps, looking back for them to follow. For the second and last time in his life he had barked and made himself understood.
After this event he found a warmer place in the hearts of the Sierra Vista people, and even the groom whose arm he had slashed admitted that he was a wise dog even if he was a wolf. Judge Scott still held to the same opinion, and proved it to everybody’s dissatisfaction by measurements and descriptions taken from the encyclopaedia and various works on natural history.
The days came and went, streaming their unbroken sunshine over the Santa Clara Valley. But as they grew shorter and White Fang’s second winter in the Southland came on, he made a strange discovery. Collie’s teeth were no longer sharp. There was a playfulness about her nips and a gentleness that prevented them from really hurting him. He forgot that she had made life a burden to him, and when she disported herself around him he responded solemnly, striving to be playful and becoming no more than ridiculous.
One day she led him off on a long chase through the back-pasture land into the woods. It was the afternoon that the master was to ride, and White Fang knew it. The horse stood saddled and waiting at the door. White Fang hesitated. But there was that in him deeper than all the law he had learned, than the customs that had moulded him, than his love for the master, than the very will to live of himself; and when, in the moment of his indecision, Collie nipped him and scampered off, he turned and followed after. The master rode alone that day; and in the woods, side by side, White Fang ran with Collie, as his mother, Kiche, and old One Eye had run long years before in the silent Northland forest.