CHƯƠNG III. LÃNH ĐỊA CỦA CÁC VỊ THẦN
Nanh Trắng không chỉ mang trong mình bản tính dễ thích nghi - nó còn từng rong ruổi qua biết bao miền đất, và thấm thía ý nghĩa cùng sự cần thiết của việc uốn mình theo hoàn cảnh. Tại Sierra Vista1 - tên gọi khu điền trang của thẩm phán Scott - Nanh Trắng chẳng mấy chốc đã bắt đầu xem nơi đây là nhà. Nó không còn vướng vào những rắc rối nghiêm trọng nào với lũ chó khác nữa. Bọn chúng am hiểu cách hành xử của các vị thần phương Nam hơn nó, và trong mắt chúng, việc nó được bước vào trong nhà cùng các vị thần đã đủ để khẳng định tư cách của nó. Dẫu nó là sói, và đây là chuyện xưa nay chưa từng có, các vị thần đã chấp thuận sự hiện diện của nó; thế nên lũ chó của các vị thần chẳng còn cách nào khác ngoài việc công nhận sự chấp thuận ấy.
Thoạt đầu, Dick còn phải tuân theo đôi ba nghi thức cứng nhắc, nhưng rồi nó cũng bình thản đón nhận Nanh Trắng như một thành viên mới trong khuôn viên. Nếu được làm theo ý mình, hẳn chúng đã trở thành những người bạn tốt; nhưng Nanh Trắng lại mang trong mình một ác cảm sâu sắc với tình bạn. Tất cả những gì nó đòi hỏi ở lũ chó khác chỉ đơn giản là hãy để nó yên. Suốt cả cuộc đời mình, nó luôn giữ khoảng cách với đồng loại, và giờ đây nó vẫn muốn duy trì khoảng cách ấy. Những cử chỉ làm quen của Dick khiến nó phiền lòng, và nó gầm gừ xua đuổi kẻ quấy rầy đi. Ở phương Bắc, nó đã học được bài học rằng phải để yên cho những con chó của chủ, và giờ đây bài học ấy vẫn còn nguyên vẹn trong nó. Thế nhưng, nó vẫn khăng khăng đòi giữ sự riêng tư và tách biệt cho riêng mình, phớt lờ Dick hoàn toàn đến mức sinh vật hiền lành ấy cuối cùng đành bỏ cuộc và hầu như chẳng thèm bận tâm đến con chó kỳ lạ này hơn là cái cột buộc ngựa gần chuồng.
Nhưng Collie2 thì khác. Dù nó chấp nhận Nanh Trắng vì đó là mệnh lệnh của các vị thần, điều đó không có nghĩa là nó sẽ để Nanh Trắng được yên ổn. Khắc sâu trong huyết quản của nó là ký ức về vô số tội ác mà Nanh Trắng cùng đồng loại đã gây ra cho tổ tiên nó. Những đàn cừu bị tàn sát không phải là thứ có thể phai nhòa trong một sớm một chiều, hay chỉ qua một thế hệ. Tất cả những điều ấy như một mũi nhọn thôi thúc nó, kích động nó phải trả thù. Nó không thể chống lại các vị thần đã cho phép Nanh Trắng ở lại, nhưng điều đó cũng chẳng ngăn được nó dùng đủ mọi cách nhỏ nhặt để khiến cuộc sống của kẻ thù trở nên khốn khổ. Một mối thâm thù truyền kiếp tồn tại giữa đôi bên, và về phần mình, nó sẽ đảm bảo Nanh Trắng phải luôn ghi nhớ điều đó.
Thế là Collie lợi dụng giới tính của mình để gây sự và ngược đãi Nanh Trắng. Bản năng không cho phép Nanh Trắng tấn công Collie, trong khi sự dai dẳng của con chó cái này lại không cho phép nó làm ngơ. Mỗi khi Collie lao vào, nó xoay bờ vai phủ đầy lông dày về phía những chiếc răng sắc nhọn của kẻ quấy nhiễu và bước đi với đôi chân cứng đơ, đầy vẻ đường bệ. Khi Collie dồn ép nó quá gắt gao, nó buộc phải đi vòng tròn, đưa vai ra đỡ đòn, ngoảnh đầu đi nơi khác, khuôn mặt và ánh mắt lộ rõ vẻ cam chịu lẫn chán nản. Dẫu vậy, thỉnh thoảng một cú cắn vào mông cũng khiến nó phải tăng tốc bỏ chạy, chẳng còn giữ nổi chút đường bệ nào. Nhưng về nguyên tắc, nó luôn cố duy trì một vẻ điềm tĩnh gần như trang nghiêm. Nó phớt lờ sự tồn tại của Collie mỗi khi có thể, và luôn chú ý tránh đường. Khi nhìn thấy hay nghe thấy tiếng Collie tiến đến, nó lập tức đứng dậy và bỏ đi.
Nanh Trắng còn phải học rất nhiều điều khác. Cuộc sống ở vùng phương Bắc thật sự quá đỗi giản đơn nếu đem so với những sự việc phức tạp tại Sierra Vista. Trước hết, nó phải học cách làm quen với gia đình của chủ. Ở một chừng mực nào đó, nó đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc này. Cũng giống như Mit-sah và Kloo-kooch là của Grey Beaver, chia sẻ thức ăn, lửa ấm và chăn nệm cùng ông ta, thì nay, tại Sierra Vista, tất cả những người sống trong nhà đều thuộc về chủ nhân tình yêu của nó.
Nhưng trong vấn đề này có một sự khác biệt, thậm chí là rất nhiều sự khác biệt. Sierra Vista có quy mô đồ sộ hơn hẳn túp lều của Grey Beaver. Có quá nhiều người cần phải chú ý. Nào là thẩm phán Scott, nào là vợ của ông. Rồi thì hai người chị em của ngài, Beth và Mary. Có cả vợ của ngài, Alice, rồi thì đám trẻ nhỏ của ngài, Weedon và Maud, những đứa trẻ mới lẫm chẫm lên bốn lên sáu. Chẳng ai có thể nói cho nó biết về tất cả những con người này, còn về mối quan hệ huyết thống thì nó hoàn toàn mù tịt và sẽ chẳng bao giờ có thể hiểu được. Tuy nhiên, nó nhanh chóng suy luận ra rằng tất cả bọn họ đều thuộc về ngài. Rồi thông qua quan sát, mỗi khi có cơ hội, bằng cách nghiên cứu hành động, lời nói, và từng ngữ điệu trong giọng nói, nó dần dần nắm bắt được mức độ thân thiết và sự sủng ái mà ngài dành cho họ. Và dựa vào thước đo đã được xác lập ấy, Nanh Trắng đối xử với họ một cách phù hợp. Những gì ngài coi trọng, nó cũng coi trọng; những ai ngài yêu thương thì Nanh Trắng cũng sẽ trân quý và bảo vệ cẩn thận.
Với hai đứa trẻ nhỏ cũng vậy. Cả đời mình, nó luôn không ưa trẻ con. Nó căm ghét và sợ hãi những bàn tay của chúng. Những bài học mà nó từng nếm trải về sự độc đoán và tàn nhẫn của đám trẻ trong những ngày sống ở làng da đỏ chẳng hề dịu dàng chút nào. Khi Weedon và Maud lần đầu tiến đến gần, nó đã gầm gừ cảnh báo và nhìn bằng ánh mắt đầy thù địch. Một cái tát nhẹ từ ngài cùng một lời quát mắng gay gắt sau đó đã buộc nó phải cho phép chúng vuốt ve, mặc dù nó vẫn không ngừng gầm gừ dưới những bàn tay nhỏ bé ấy, và trong tiếng gầm đó chẳng hề có một nốt nhạc yêu thương nào. Về sau, nó quan sát thấy cậu bé và cô bé có giá trị rất lớn trong mắt ngài. Kể từ đó, ngài không cần dùng đến cái tát hay lời quát mắng nào nữa mà lũ trẻ nhỏ vẫn có thể vỗ về nó.
Dẫu vậy, Nanh Trắng chưa bao giờ vồn vã thể hiện tình cảm. Nó nhượng bộ những đứa trẻ của ngài bằng một thái độ gượng gạo nhưng chân thật, và chịu đựng trò đùa nghịch của chúng hệt như người ta phải chịu đựng một ca phẫu thuật đau đớn. Khi không thể nhẫn nhịn thêm được nữa, nó sẽ đứng dậy và lẳng lặng bước đi thật dứt khoát khỏi lũ trẻ nhỏ. Nhưng sau một thời gian, nó thậm chí còn dần dần thích đám trẻ nhỏ này. Tuy nhiên, nó vẫn không hề bộc lộ ra ngoài. Nó không chủ động tiến lại gần chúng. Mặt khác, thay vì bỏ đi khi nhìn thấy đám trẻ nhỏ, nó lại chờ chúng bước tới chỗ mình. Và một thời gian sau nữa, người ta nhận ra có một tia sáng vui vẻ lóe lên trong mắt nó mỗi khi thấy chúng tiến lại gần, và nó nhìn theo chúng với vẻ tiếc nuối đầy tò mò mỗi khi chúng rời bỏ nó để chạy đi chơi trò khác.
Tất cả những điều này đều là một quá trình phát triển, và cần phải có thời gian. Tiếp sau sự quan tâm của nó, sau đám trẻ nhỏ, là thẩm phán Scott. Rất có thể, có hai lý do giải thích cho việc này. Thứ nhất, ông hiển nhiên là một tài sản quý giá của ngài, và thứ hai, ông không thể hiện tình cảm một cách thái quá. Nanh Trắng thích nằm dưới chân ông trên mái hiên rộng mỗi khi ông đọc báo, thỉnh thoảng ông lại ban cho Nanh Trắng một cái nhìn hoặc một lời nói - những dấu hiệu vô hại cho thấy ông công nhận sự hiện diện và tồn tại của nó. Nhưng điều này chỉ xảy ra khi ngài không có mặt ở đó. Mỗi khi ngài xuất hiện, tất cả những người khác đều không còn tồn tại trong tâm trí của Nanh Trắng.
Nanh Trắng cho phép mọi thành viên trong gia đình vuốt ve và chiều chuộng mình; nhưng nó không bao giờ trao cho họ thứ tình cảm mà nó dành cho ngài. Không cái vuốt ve nào của họ có thể bật lên được tiếng rền rĩ yêu thương từ cổ họng nó, và dù có cố gắng đến đâu, họ cũng không bao giờ có thể thuyết phục nó rúc vào lòng họ. Sự thể hiện buông bỏ và thuần phục ấy, của niềm tin tưởng tuyệt đối, nó chỉ dành riêng cho ngài. Trên thực tế, nó chưa bao giờ coi các thành viên trong gia đình là bất cứ thứ gì khác ngoài những tài sản của chủ nhân tình yêu.
Đồng thời, Nanh Trắng cũng sớm phân biệt được giữa các thành viên trong gia đình và những người hầu trong nhà. Họ sợ hãi nó, trong khi nó chỉ đơn giản là kìm nén không tấn công họ. Đó là vì nó coi họ cũng giống như những tài sản của chủ. Giữa Nanh Trắng và họ chỉ tồn tại một trạng thái trung lập, không có gì hơn thế. Họ nấu ăn cho ngài, rửa bát đĩa và làm những công việc khác y như Matt đã từng làm trên vùng Klondike3. Tóm lại, họ chỉ là những công cụ gắn liền với hộ gia đình này.
Bên ngoài ngôi nhà, Nanh Trắng thậm chí còn có nhiều thứ phải học hơn. Lãnh địa của ngài vừa rộng lớn lại vừa phức tạp, song vẫn có những ranh giới và giới hạn rõ ràng. Bản thân mảnh đất này kết thúc tại con đường của hạt. Xa hơn bên ngoài là lãnh địa chung của tất cả các vị thần - những ngả đường và góc phố. Tiếp đó, đằng sau những hàng rào khác lại là lãnh địa riêng của những vị thần khác. Vô vàn luật lệ chi phối tất cả những thứ này và quyết định cách hành xử; nhưng nó lại không hiểu ngôn ngữ của các vị thần, và nó cũng chẳng có cách nào để học ngoài việc rút ra từ trải nghiệm. Nó làm theo những thôi thúc của bản năng cho đến khi chúng khiến nó đi ngược lại một điều luật nào đó. Sau vài lần như vậy, nó đã học được luật và từ đó về sau luôn tuân thủ nghiêm ngặt.
Thế nhưng điều có tác động mạnh mẽ nhất trong quá trình giáo dục nó chính là cái tát từ bàn tay của ngài, sự quở trách từ giọng nói của ngài. Bởi tình yêu vô cùng to lớn của Nanh Trắng, một cái tát của ngài khiến nó đau lòng hơn bất cứ trận đòn nào mà Grey Beaver hay Beauty Smith từng giáng xuống người nó. Họ chỉ làm tổn thương thể xác của nó; ẩn dưới lớp thể xác ấy, tinh thần của nó vẫn gào thét, kiêu hãnh và bất khuất. Còn với ngài, cái tát luôn quá nhẹ để có thể làm đau da thịt. Thế nhưng nó lại thấm sâu vào tận tâm can. Đó là biểu hiện cho sự không hài lòng của ngài, và tinh thần của Nanh Trắng héo rũ đi trước điều đó.
Trên thực tế, ngài rất hiếm khi dùng đến cái tát. Chỉ cần giọng nói của ngài là đủ. Qua đó, Nanh Trắng biết được mình đã làm đúng hay chưa. Nhờ đó, nó gọt giũa cách cư xử và điều chỉnh những hành động của mình. Đó là chiếc la bàn để nó định hướng và học cách lập nên tấm bản đồ những quy tắc ứng xử của một vùng đất và một cuộc sống hoàn toàn mới.
Ở vùng phương Bắc, loài vật nuôi duy nhất trong nhà chính là chó. Tất thảy những giống loài khác đều sống ngoài Vùng Hoang Dã, và chỉ cần không quá đáng gờm, chúng đều là chiến lợi phẩm hợp pháp cho bất kỳ con chó nào. Suốt cả cuộc đời mình, Nanh Trắng vẫn luôn săn đuổi những sinh vật sống để làm thức ăn. Nó chưa từng mảy may nghĩ rằng ở vùng phương Nam mọi chuyện lại khác đi. Thế nhưng nó đã sớm thấm thía bài học này ngay từ những ngày đầu tiên đặt chân đến thung lũng Santa Clara4. Vào một buổi sáng sớm tinh mơ, khi đang thơ thẩn dạo quanh góc nhà, nó bất chợt bắt gặp một con gà xổng ra từ khu chuồng. Bản năng nguyên thủy trong Nanh Trắng liền trỗi dậy, thôi thúc nó ăn thịt con gà. Vài cú chồm tới, một vệt nanh sắc lẹm lướt qua cùng một tiếng kêu quang quác thất thanh - và thế là nó đã tóm gọn con gia cầm ưa phiêu lưu kia trong nháy mắt. Con vật được nuôi trong nông trại vừa béo múp lại vừa mềm mại; Nanh Trắng liếm mép và thầm nhủ rằng một bữa ăn thế này quả là tuyệt hảo.
Cuối ngày hôm ấy, nó lại tình cờ chạm trán một con gà đi lạc khác ở gần dãy chuồng ngựa. Một trong những người giữ ngựa vội vã chạy tới để giải cứu con gà. Anh ta không biết gì về nguồn gốc nòi giống của Nanh Trắng, nên chỉ dùng một chiếc roi đánh xe ngựa loại nhẹ làm vũ khí. Ngay khoảnh khắc nhát roi đầu tiên quất xuống, Nanh Trắng liền bỏ mặc con gà và lao thẳng vào kẻ địch. Một cây gậy gỗ hẳn đã có thể chặn đứng được Nanh Trắng, nhưng một cái roi thì không. Trầm mặc và không hề nao núng, nó hứng trọn nhát roi thứ hai ngay trên đà lao tới. Và khi nó chồm lên ngoạm vào cổ họng đối phương, người giữ ngựa hét lên: "Trời ơi!" rồi loạng choạng lùi lại. Anh ta đánh rơi chiếc roi và đưa tay ôm chặt lấy cổ họng để che chắn. Hậu quả là cẳng tay anh ta bị xé toạc đến tận xương.
Anh ta vô cùng hoảng sợ. Nhưng điều khiến người giữ ngựa kinh hãi không phải là sự hung tợn của Nanh Trắng, mà chính là cái im lặng tuyệt đối của nó. Vẫn dùng cánh tay rách rưới đẫm máu che chở lấy cổ họng và khuôn mặt, anh ta cố lùi dần về phía nhà kho. Và anh ta hẳn đã gặp rắc rối lớn nếu Collie không kịp xuất hiện tại hiện trường. Cũng như lần nó từng cứu mạng Dick trước đây, giờ đây nó lại cứu mạng người giữ ngựa. Collie điên cuồng lao vào Nanh Trắng với cơn thịnh nộ dữ dội. Nó đã đúng. Nó hiểu biết hơn cả những vị thần ngờ nghệch kia. Mọi mối nghi ngờ của nó đều có cơ sở cả. Lại là cái gã cướp bóc thời viễn cổ đang giở lại trò cũ đây mà.
Người giữ ngựa trốn thoát được vào trong chuồng ngựa, còn Nanh Trắng thì phải lùi bước trước những chiếc răng nanh hiểm ác của Collie, hoặc đưa vai ra đỡ đòn rồi lượn lờ chạy vòng quanh hết vòng này đến vòng khác. Nhưng Collie không chịu bỏ cuộc như thói quen thường thấy của nó - sau một khoảng thời gian trừng phạt vừa đủ. Trái lại, nó càng lúc càng trở nên kích động và giận dữ hơn theo từng giây trôi qua, cho đến khi, cuối cùng, Nanh Trắng ném luôn cả sự tôn nghiêm đi và dứt khoát chạy thục mạng khỏi con chó cái, băng qua những cánh đồng.
"Nó sẽ phải học cách để yên cho bầy gà," ngài nói. "Nhưng tôi không thể dạy cho nó bài học này cho đến khi tôi bắt quả tang nó đang hành sự."
Hai đêm sau, hành động ấy đã diễn ra, nhưng với một quy mô lớn hơn rất nhiều so với những gì ngài dự đoán. Nanh Trắng đã quan sát rất kỹ những khu chuồng gà và thói quen của bầy gà. Vào ban đêm, sau khi lũ gà đã lên chuồng ngủ, nó trèo lên nóc một đống gỗ mới được chở tới. Từ đó nó leo lên mái của một cái chuồng gà, trườn qua xà nhà rồi nhảy xuống nền đất bên trong. Một lát sau, nó đã lọt vào trong chuồng, và cuộc tàn sát bắt đầu.
Vào buổi sáng, khi ngài bước ra mái hiên, thứ đập vào mắt ngài là năm mươi con gà mái Leghorn5 trắng muốt, được người giữ ngựa xếp thành một hàng dài thẳng tắp. Ngài khẽ huýt sáo một mình, ban đầu là ngạc nhiên, rồi sau cùng là đầy vẻ ngưỡng mộ. Cũng đập vào mắt ngài lúc bấy giờ là hình ảnh Nanh Trắng - nhưng về phần nó, chẳng hề có dấu hiệu nào của sự xấu hổ hay tội lỗi. Nó mang một dáng vẻ tự hào, cứ như thể nó vừa lập được một chiến công đáng khen ngợi và đáng tự hào vậy. Trong nó không tồn tại lấy một ý niệm nào về tội lỗi. Đôi môi của ngài mím chặt lại khi đối mặt với nhiệm vụ khó nhằn này. Rồi ngài quát mắng nặng lời với tên thủ phạm ngây ngô kia, và trong giọng nói của ngài chẳng có gì khác ngoài cơn thịnh nộ của thần linh. Đồng thời, ngài dí mũi Nanh Trắng xuống những con gà đã bị tàn sát, và cùng lúc đó giáng cho nó một cái tát điếng người.
Nanh Trắng không bao giờ đột nhập vào chuồng gà thêm một lần nào nữa. Đó là hành động phạm luật, và nó đã thấm thía điều đó. Sau đó ngài dẫn nó vào bên trong những khu chuồng gà. Bản năng tự nhiên của Nanh Trắng khi nhìn thấy thức ăn sống đang bay lượn xung quanh và ở ngay dưới mũi mình, chính là nhảy chồm lên vồ lấy. Nó đã định nghe theo thôi thúc ấy, nhưng lại bị giọng nói của ngài chặn đứng. Cả hai tiếp tục ở trong chuồng gà suốt nửa giờ đồng hồ. Thôi thúc ấy cứ trào dâng trong người Nanh Trắng hết lần này đến lần khác, và mỗi lần nó định khuất phục trước nó, nó lại bị giọng nói của ngài ngăn lại. Cứ thế, nó đã học được đạo luật, và trước khi rời khỏi lãnh địa của bầy gà, nó đã học được cách phớt lờ sự tồn tại của chúng.
"Con sẽ chẳng bao giờ chữa nổi cái tật của một con thú chuyên đi cắn trộm gà đâu."
Thẩm phán Scott buồn bã lắc đầu bên bàn ăn trưa. Con trai ông vừa kể lại bài học mà anh đã dạy cho Nanh Trắng. "Một khi chúng đã nhiễm thói ấy rồi, lại còn nếm mùi máu nữa thì..." Ông lại lắc đầu thêm một lần, vẻ mặt đầy phiền muộn.
Weedon Scott không đồng tình với cha mình. "Để con nói cho mọi người biết con định làm gì nhé." Cuối cùng, anh buông lời thách thức. "Con sẽ nhốt Nanh Trắng chung với bầy gà suốt cả buổi chiều."
"Nhưng hãy nghĩ đến lũ gà xem nào!" Vị thẩm phán phản đối.
"Chưa hết," người con trai tiếp lời. "Cứ mỗi con gà nó giết, con sẽ trả cho mọi người một đồng vàng6."
"Nhưng anh cũng phải phạt cả cha mới được chứ!" Beth chen ngang.
Chị gái cô lập tức hùa theo. Rồi một tràng những tiếng tán thành nổi lên râm ran khắp bàn ăn. Thẩm phán Scott gật đầu đồng ý.
"Được thôi." Weedon Scott trầm ngâm một lát. "Và nếu đến cuối buổi chiều mà Nanh Trắng không hề đụng đến một sợi lông gà nào, thì cứ mỗi mười phút nó ở trong chuồng, mọi người sẽ phải nói với nó - thật nghiêm túc, thật cân nhắc, cứ như đang ngồi trên ghế quan tòa mà trang trọng tuyên án - rằng: 'Nanh Trắng, mày thông minh hơn ta tưởng.'"
Từ những chỗ khuất tầm mắt, cả gia đình hồi hộp dõi theo màn thử thách. Nhưng đó hóa ra lại là một sự thất bại đến nhạt nhẽo. Bị nhốt trong chuồng và bị ngài bỏ mặc ở đó, Nanh Trắng chỉ nằm ườn ra rồi lăn ra ngủ. Có một lần nó trở dậy, thong thả bước đến máng nước uống. Nó điềm nhiên phớt lờ bầy gà. Đối với nó, lũ gà như thể hoàn toàn không tồn tại. Đến bốn giờ, nó thực hiện một cú nhảy chạy đà, phóng vút lên nóc chuồng gà rồi nhảy vọt xuống nền đất bên ngoài. Từ đó, nó thong thả đi bộ về nhà với dáng vẻ đầy uy nghi. Nó đã học được luật.
Và trên mái hiên, trước sự thích thú của cả nhà, Thẩm phán Scott đứng đối diện với Nanh Trắng. Mặt đối mặt, ông chầm chậm và trang trọng nói tới mười sáu lần:
"Nanh Trắng, mày thông minh hơn ta tưởng."
Thế nhưng chính sự chằng chịt của các điều luật mới khiến Nanh Trắng lúng túng và không ít lần rơi vào cảnh hổ thẹn. Nó phải học cách hiểu rằng mình không được đụng đến những con gà vốn thuộc sở hữu của các vị thần khác. Rồi còn có cả mèo, thỏ và gà tây; hết thảy những sinh vật ấy nó đều phải để yên. Thực ra, lúc mới chỉ lĩnh hội được một mảnh nhỏ của bộ luật, nó đã mang ấn tượng rằng mình buộc phải để yên cho tất thảy mọi sinh vật đang sống. Ngoài đồng cỏ phía sau nhà, một con chim cút có thể vỗ cánh bay vụt lên ngay dưới mũi nó mà chẳng hề hấn gì. Toàn thân căng cứng và run lên vì háo hức lẫn thèm khát, nó đã đè nén bản năng của mình và đứng chôn chân tại chỗ. Nó đang tuân phục ý chí của các vị thần.
Và rồi, vào một ngày nọ, cũng chính nơi đồng cỏ ấy, nó trông thấy Dick khiến một con thỏ rừng hoảng loạn rồi lao đi đuổi theo. Ngài chủ cũng đứng đó nhìn mà chẳng hề can thiệp. Không những vậy, ngài còn khích lệ Nanh Trắng nhập cuộc rượt đuổi. Và từ khoảnh khắc đó, nó vỡ lẽ ra rằng thỏ rừng không nằm trong danh sách những điều cấm kỵ. Đến lúc này, cuối cùng nó đã giải mã trọn vẹn bộ luật. Giữa nó và toàn bộ các con vật nuôi trong nhà, không được phép tồn tại bất kỳ sự thù địch nào. Nếu không có được tình bằng hữu, thì ít nhất cũng phải giữ thế trung lập. Nhưng những giống loài khác - như sóc, chim cút và thỏ đuôi bông7 - đều là những sinh vật của Vùng Hoang Dã, chưa từng khuất phục để trung thành với con người. Chúng là con mồi chính đáng cho bất kỳ con chó nào. Duy chỉ những con thú đã được thuần hóa mới được các vị thần che chở, và giữa những con thú thuần hóa ấy, sự tranh giành sống mái là điều tuyệt đối bị cấm đoán. Các vị thần nắm giữ quyền sinh sát đối với thần dân của mình, và họ luôn ghen giữ quyền năng ấy.
Cuộc sống ở Thung lũng Santa Clara phức tạp hơn bội phần so với sự giản đơn của vùng phương Bắc. Và điều cốt lõi mà những phức tạp của nền văn minh này đòi hỏi chính là sự kiểm soát, sự kìm nén - một phong thái tự chủ mỏng manh tựa tiếng đập cánh của loài tơ nhện, nhưng đồng thời cũng cứng rắn như thép nguội. Cuộc đời mang cả ngàn gương mặt, và Nanh Trắng nhận ra nó buộc phải đối diện với tất thảy - thành thử, khi nó theo chân vào thị trấn, lên tận San Jose8, chạy đằng sau cỗ xe ngựa hay lang thang trên các con phố mỗi khi cỗ xe đỗ lại. Cuộc sống cứ thế chảy trôi ngang qua mặt nó, sâu thẳm, mênh mông và đa dạng, không ngừng va đập vào các giác quan, đòi hỏi nó những sự thích nghi và điều chỉnh tức thời, gần như lúc nào cũng buộc nó phải dằn xuống những thôi thúc nguyên thủy của chính mình.
Có những cửa hàng thịt treo thịt lủng lẳng ngay trong tầm với. Số thịt ấy nó tuyệt nhiên không được động vào. Có những con mèo ở các ngôi nhà ngài ghé thăm mà nó buộc lòng phải để yên. Và khắp nơi đâu đâu cũng đầy những con chó gầm gừ với nó, vậy mà nó chẳng được phép tấn công. Rồi sau đó, trên những vỉa hè đông nghịt người, vô số kẻ qua đường bị nó thu hút ánh nhìn. Họ dừng bước và nhìn nó, chỉ trỏ nó cho nhau xem, dò xét nó, bàn tán về nó, và tệ hại nhất là vuốt ve nó. Và nó phải cam chịu những lần va chạm đầy hiểm nguy từ những bàn tay xa lạ ấy. Dẫu vậy nó vẫn làm được sự nhẫn nhịn này. Hơn thế nữa, nó đã vượt qua được cái cảm giác lóng ngóng và ngượng ngùng. Với một phong thái cao ngạo, nó tiếp nhận sự chú ý từ vô vàn những vị thần xa lạ. Bằng một thái độ bề trên, nó đón lấy sự hạ mình của họ. Mặt khác, có một điều gì đó nơi nó ngăn cản mọi sự suồng sã quá mức. Họ xoa đầu nó rồi lướt qua, thỏa mãn và hài lòng với sự táo bạo của chính bản thân mình.
Nhưng không phải mọi thứ đều dễ dàng với Nanh Trắng. Khi đang chạy theo sau cỗ xe ngựa ở vùng ngoại ô San Jose, nó chạm trán với một lũ nhóc coi việc ném đá vào nó là trò tiêu khiển. Thế nhưng nó biết rằng mình không được phép rượt đuổi và vồ lấy những kẻ bắt nạt ấy. Ở đây, nó bị cưỡng ép làm trái với bản năng tự vệ của mình, và nó đã thực sự làm trái lại điều đó, bởi lẽ nó đang dần được thuần hóa và chuẩn bị cho bản thân đủ tư cách để bước vào nền văn minh.
Tuy nhiên, Nanh Trắng không hoàn toàn hài lòng với sự sắp đặt này. Nó không có bất kỳ khái niệm trừu tượng nào về công lý hay lối chơi công bằng. Nhưng luôn tồn tại một ý thức nhất định về sự công bằng trong cuộc sống, và chính ý thức ấy bên trong nó đã phẫn nộ trước sự bất công khi nó không được phép chống trả những kẻ ném đá. Nó đã quên mất rằng trong bản giao kèo được ký kết giữa nó và các vị thần, họ đã cam kết sẽ chăm sóc và che chở cho nó. Nhưng vào một ngày kia, ngài chủ nhảy bật ra khỏi cỗ xe ngựa, tay lăm lăm chiếc roi, và nện cho lũ trẻ trâu một trận nhừ tử. Sau lần đó, chúng không còn ném đá nữa, còn Nanh Trắng thì đã hiểu ra và cảm thấy mãn nguyện.
Một phen thử thách khác cùng kiểu lại ập đến với nó. Trên con đường dẫn vào thị trấn, lảng vảng bên quán rượu nơi ngã tư, có ba con chó khoái lấy việc lao ra sủa cắn Nanh Trắng mỗi lần nó đi qua làm trò tiêu khiển. Quá thấu hiểu lối đánh nhau chí mạng của nó, ngài không ngừng căn dặn Nanh Trắng về cái luật cấm giao đấu. Và thế là, một khi đã khắc sâu bài học ấy vào đầu, mỗi dịp đi ngang quán rượu nơi ngã tư lại trở thành một cực hình đối với Nanh Trắng. Sau cú vồ đầu tiên - lần nào cũng y như vậy - tiếng gầm gừ của nó đủ sức giữ ba kẻ thù ở tầm xa, nhưng bọn chúng cứ bám riết đằng sau, không ngớt sủa ăng ẳng, gây gổ và lăng nhục nó. Cảnh tượng ấy cứ thế dai dẳng hết ngày này qua ngày khác. Những gã đàn ông nơi quán rượu thậm chí còn hùa theo, ra sức xúi bẩy lũ chó lao vào tấn công Nanh Trắng. Rồi một hôm, họ công khai khích bầy chó xông thẳng vào nó. Ngài liền ghì cương dừng cỗ xe.
"Tiến lên đi," ngài bảo Nanh Trắng.
Nhưng Nanh Trắng không dám tin. Nó nhìn ngài, rồi ngoảnh sang nhìn bầy chó. Đoạn nó lại quay sang nhìn ngài, ánh mắt vừa háo hức vừa ngờ vực.
Ngài khẽ gật đầu. "Tiến lên dạy dỗ chúng đi, anh bạn già. Xơi tái chúng đi."
Nanh Trắng không chần chừ thêm một giây phút nào nữa. Nó quay mình và lặng lẽ lao thẳng vào giữa vòng vây kẻ thù. Cả ba con chó đồng loạt xông ra đối đầu. Tiếng gầm gừ, tiếng rống vang lên hung bạo, những hàm răng nghiến vào nhau lách cách hòa lẫn trong một mớ hỗn độn xác thịt. Bụi đường bốc lên thành một đám mây mù mịt, nuốt chửng toàn bộ trận chiến vào lòng nó. Nhưng chỉ vài phút sau, hai con chó đã nằm giãy giụa dưới lớp bụi đất, còn con thứ ba thì đang cắm đầu tháo chạy thục mạng. Nó lao vút qua một con rãnh, phóng qua một hàng rào gỗ, rồi trốn thẳng qua một cánh đồng. Nanh Trắng đuổi theo con mồi, thân hình là là trên mặt đất theo dáng chạy của loài sói, với tốc độ của loài sói, vút đi không một tiếng động. Và ngay giữa cánh đồng, nó quật ngã rồi kết liễu con chó.
Với ba mạng này, những rắc rối chính của nó với đồng loại đã chấm dứt. Tin đồn lan đi khắp mọi ngóc ngách trong thung lũng, và ai nấy đều phải tự lo liệu sao cho chó nhà mình không dám bén mảng đến quấy nhiễu Sói Chiến thêm một lần nào nữa.
-
Tên khu điền trang hư cấu của gia đình Scott tại California. Trong tiểu thuyết, nó tượng trưng cho sự yên bình và nền văn minh (civilization) của phương Nam, đối lập hoàn toàn với Vùng Hoang Dã (The Wild) chết chóc ở phương Bắc. ↩
-
Tên của chó cái, nhưng đồng thời cũng là tên của giống chó chăn cừu (Collie dog) nguồn gốc từ Scotland. Giống chó này có bản năng chăn dắt và bảo vệ gia súc mãnh liệt, được lai tạo để đuổi sói và bảo vệ bầy cừu. ↩
-
Một khu vực nằm ở vùng lãnh thổ Yukon, tây bắc Canada, nơi diễn ra Cơn sốt vàng Klondike nổi tiếng cuối thế kỷ 19. ↩
-
Một địa danh có thật ở Bắc California (ngày nay được biết đến là Thung lũng Silicon). Vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, nơi đây là một vùng nông nghiệp trù phú với các vườn cây ăn trái và trang trại, đại diện cho một xã hội có trật tự và ấm no. ↩
-
Giống gà đẻ trứng nổi tiếng có nguồn gốc từ vùng Tuscany (Ý), được du nhập và nuôi rất phổ biến tại các trang trại ở Mỹ. ↩
-
Nguyên gốc tiếng Anh là 'gold coin'. Ở thời điểm bối cảnh câu chuyện (sau cơn sốt vàng cuối thế kỷ 19), tiền xu vàng vẫn được lưu thông rộng rãi ở Mỹ. ↩
-
Nguyên gốc là 'cottontail rabbit', một loài thỏ rừng hoang dã bản địa cực kỳ phổ biến ở Bắc Mỹ. ↩
-
Một thành phố lớn nằm ở trung tâm thung lũng Santa Clara, California. ↩
CHAPTER III THE GOD’S DOMAIN
Not only was White Fang adaptable by nature, but he had travelled much, and knew the meaning and necessity of adjustment. Here, in Sierra Vista, which was the name of Judge Scott’s place, White Fang quickly began to make himself at home. He had no further serious trouble with the dogs. They knew more about the ways of the Southland gods than did he, and in their eyes he had qualified when he accompanied the gods inside the house. Wolf that he was, and unprecedented as it was, the gods had sanctioned his presence, and they, the dogs of the gods, could only recognise this sanction.
Dick, perforce, had to go through a few stiff formalities at first, after which he calmly accepted White Fang as an addition to the premises. Had Dick had his way, they would have been good friends; but White Fang was averse to friendship. All he asked of other dogs was to be let alone. His whole life he had kept aloof from his kind, and he still desired to keep aloof. Dick’s overtures bothered him, so he snarled Dick away. In the north he had learned the lesson that he must let the master’s dogs alone, and he did not forget that lesson now. But he insisted on his own privacy and self-seclusion, and so thoroughly ignored Dick that that good-natured creature finally gave him up and scarcely took as much interest in him as in the hitching-post near the stable.
Not so with Collie. While she accepted him because it was the mandate of the gods, that was no reason that she should leave him in peace. Woven into her being was the memory of countless crimes he and his had perpetrated against her ancestry. Not in a day nor a generation were the ravaged sheepfolds to be forgotten. All this was a spur to her, pricking her to retaliation. She could not fly in the face of the gods who permitted him, but that did not prevent her from making life miserable for him in petty ways. A feud, ages old, was between them, and she, for one, would see to it that he was reminded.
So Collie took advantage of her sex to pick upon White Fang and maltreat him. His instinct would not permit him to attack her, while her persistence would not permit him to ignore her. When she rushed at him he turned his fur-protected shoulder to her sharp teeth and walked away stiff-legged and stately. When she forced him too hard, he was compelled to go about in a circle, his shoulder presented to her, his head turned from her, and on his face and in his eyes a patient and bored expression. Sometimes, however, a nip on his hind-quarters hastened his retreat and made it anything but stately. But as a rule he managed to maintain a dignity that was almost solemnity. He ignored her existence whenever it was possible, and made it a point to keep out of her way. When he saw or heard her coming, he got up and walked off.
There was much in other matters for White Fang to learn. Life in the Northland was simplicity itself when compared with the complicated affairs of Sierra Vista. First of all, he had to learn the family of the master. In a way he was prepared to do this. As Mit-sah and Kloo-kooch had belonged to Grey Beaver, sharing his food, his fire, and his blankets, so now, at Sierra Vista, belonged to the love-master all the denizens of the house.
But in this matter there was a difference, and many differences. Sierra Vista was a far vaster affair than the tepee of Grey Beaver. There were many persons to be considered. There was Judge Scott, and there was his wife. There were the master’s two sisters, Beth and Mary. There was his wife, Alice, and then there were his children, Weedon and Maud, toddlers of four and six. There was no way for anybody to tell him about all these people, and of blood-ties and relationship he knew nothing whatever and never would be capable of knowing. Yet he quickly worked it out that all of them belonged to the master. Then, by observation, whenever opportunity offered, by study of action, speech, and the very intonations of the voice, he slowly learned the intimacy and the degree of favour they enjoyed with the master. And by this ascertained standard, White Fang treated them accordingly. What was of value to the master he valued; what was dear to the master was to be cherished by White Fang and guarded carefully.
Thus it was with the two children. All his life he had disliked children. He hated and feared their hands. The lessons were not tender that he had learned of their tyranny and cruelty in the days of the Indian villages. When Weedon and Maud had first approached him, he growled warningly and looked malignant. A cuff from the master and a sharp word had then compelled him to permit their caresses, though he growled and growled under their tiny hands, and in the growl there was no crooning note. Later, he observed that the boy and girl were of great value in the master’s eyes. Then it was that no cuff nor sharp word was necessary before they could pat him.
Yet White Fang was never effusively affectionate. He yielded to the master’s children with an ill but honest grace, and endured their fooling as one would endure a painful operation. When he could no longer endure, he would get up and stalk determinedly away from them. But after a time, he grew even to like the children. Still he was not demonstrative. He would not go up to them. On the other hand, instead of walking away at sight of them, he waited for them to come to him. And still later, it was noticed that a pleased light came into his eyes when he saw them approaching, and that he looked after them with an appearance of curious regret when they left him for other amusements.
All this was a matter of development, and took time. Next in his regard, after the children, was Judge Scott. There were two reasons, possibly, for this. First, he was evidently a valuable possession of the master’s, and next, he was undemonstrative. White Fang liked to lie at his feet on the wide porch when he read the newspaper, from time to time favouring White Fang with a look or a word-untroublesome tokens that he recognised White Fang’s presence and existence. But this was only when the master was not around. When the master appeared, all other beings ceased to exist so far as White Fang was concerned.
White Fang allowed all the members of the family to pet him and make much of him; but he never gave to them what he gave to the master. No caress of theirs could put the love-croon into his throat, and, try as they would, they could never persuade him into snuggling against them. This expression of abandon and surrender, of absolute trust, he reserved for the master alone. In fact, he never regarded the members of the family in any other light than possessions of the love-master.
Also White Fang had early come to differentiate between the family and the servants of the household. The latter were afraid of him, while he merely refrained from attacking them. This because he considered that they were likewise possessions of the master. Between White Fang and them existed a neutrality and no more. They cooked for the master and washed the dishes and did other things just as Matt had done up in the Klondike. They were, in short, appurtenances of the household.
Outside the household there was even more for White Fang to learn. The master’s domain was wide and complex, yet it had its metes and bounds. The land itself ceased at the county road. Outside was the common domain of all gods-the roads and streets. Then inside other fences were the particular domains of other gods. A myriad laws governed all these things and determined conduct; yet he did not know the speech of the gods, nor was there any way for him to learn save by experience. He obeyed his natural impulses until they ran him counter to some law. When this had been done a few times, he learned the law and after that observed it.
But most potent in his education was the cuff of the master’s hand, the censure of the master’s voice. Because of White Fang’s very great love, a cuff from the master hurt him far more than any beating Grey Beaver or Beauty Smith had ever given him. They had hurt only the flesh of him; beneath the flesh the spirit had still raged, splendid and invincible. But with the master the cuff was always too light to hurt the flesh. Yet it went deeper. It was an expression of the master’s disapproval, and White Fang’s spirit wilted under it.
In point of fact, the cuff was rarely administered. The master’s voice was sufficient. By it White Fang knew whether he did right or not. By it he trimmed his conduct and adjusted his actions. It was the compass by which he steered and learned to chart the manners of a new land and life.
In the Northland, the only domesticated animal was the dog. All other animals lived in the Wild, and were, when not too formidable, lawful spoil for any dog. All his days White Fang had foraged among the live things for food. It did not enter his head that in the Southland it was otherwise. But this he was to learn early in his residence in Santa Clara Valley. Sauntering around the corner of the house in the early morning, he came upon a chicken that had escaped from the chicken-yard. White Fang’s natural impulse was to eat it. A couple of bounds, a flash of teeth and a frightened squawk, and he had scooped in the adventurous fowl. It was farm-bred and fat and tender; and White Fang licked his chops and decided that such fare was good.
Later in the day, he chanced upon another stray chicken near the stables. One of the grooms ran to the rescue. He did not know White Fang’s breed, so for weapon he took a light buggy-whip. At the first cut of the whip, White Fang left the chicken for the man. A club might have stopped White Fang, but not a whip. Silently, without flinching, he took a second cut in his forward rush, and as he leaped for the throat the groom cried out, “My God!” and staggered backward. He dropped the whip and shielded his throat with his arms. In consequence, his forearm was ripped open to the bone.
The man was badly frightened. It was not so much White Fang’s ferocity as it was his silence that unnerved the groom. Still protecting his throat and face with his torn and bleeding arm, he tried to retreat to the barn. And it would have gone hard with him had not Collie appeared on the scene. As she had saved Dick’s life, she now saved the groom’s. She rushed upon White Fang in frenzied wrath. She had been right. She had known better than the blundering gods. All her suspicions were justified. Here was the ancient marauder up to his old tricks again.
The groom escaped into the stables, and White Fang backed away before Collie’s wicked teeth, or presented his shoulder to them and circled round and round. But Collie did not give over, as was her wont, after a decent interval of chastisement. On the contrary, she grew more excited and angry every moment, until, in the end, White Fang flung dignity to the winds and frankly fled away from her across the fields.
“He’ll learn to leave chickens alone,” the master said. “But I can’t give him the lesson until I catch him in the act.”
Two nights later came the act, but on a more generous scale than the master had anticipated. White Fang had observed closely the chicken-yards and the habits of the chickens. In the night-time, after they had gone to roost, he climbed to the top of a pile of newly hauled lumber. From there he gained the roof of a chicken-house, passed over the ridgepole and dropped to the ground inside. A moment later he was inside the house, and the slaughter began.
In the morning, when the master came out on to the porch, fifty white Leghorn hens, laid out in a row by the groom, greeted his eyes. He whistled to himself, softly, first with surprise, and then, at the end, with admiration. His eyes were likewise greeted by White Fang, but about the latter there were no signs of shame nor guilt. He carried himself with pride, as though, forsooth, he had achieved a deed praiseworthy and meritorious. There was about him no consciousness of sin. The master’s lips tightened as he faced the disagreeable task. Then he talked harshly to the unwitting culprit, and in his voice there was nothing but godlike wrath. Also, he held White Fang’s nose down to the slain hens, and at the same time cuffed him soundly.
White Fang never raided a chicken-roost again. It was against the law, and he had learned it. Then the master took him into the chicken-yards. White Fang’s natural impulse, when he saw the live food fluttering about him and under his very nose, was to spring upon it. He obeyed the impulse, but was checked by the master’s voice. They continued in the yards for half an hour. Time and again the impulse surged over White Fang, and each time, as he yielded to it, he was checked by the master’s voice. Thus it was he learned the law, and ere he left the domain of the chickens, he had learned to ignore their existence.
“You can never cure a chicken-killer.” Judge Scott shook his head sadly at luncheon table, when his son narrated the lesson he had given White Fang. “Once they’ve got the habit and the taste of blood . . .” Again he shook his head sadly.
But Weedon Scott did not agree with his father. “I’ll tell you what I’ll do,” he challenged finally. “I’ll lock White Fang in with the chickens all afternoon.”
“But think of the chickens,” objected the judge.
“And furthermore,” the son went on, “for every chicken he kills, I’ll pay you one dollar gold coin of the realm.”
“But you should penalise father, too,” interposed Beth.
Her sister seconded her, and a chorus of approval arose from around the table. Judge Scott nodded his head in agreement.
“All right.” Weedon Scott pondered for a moment. “And if, at the end of the afternoon White Fang hasn’t harmed a chicken, for every ten minutes of the time he has spent in the yard, you will have to say to him, gravely and with deliberation, just as if you were sitting on the bench and solemnly passing judgment, ‘White Fang, you are smarter than I thought.’”
From hidden points of vantage the family watched the performance. But it was a fizzle. Locked in the yard and there deserted by the master, White Fang lay down and went to sleep. Once he got up and walked over to the trough for a drink of water. The chickens he calmly ignored. So far as he was concerned they did not exist. At four o’clock he executed a running jump, gained the roof of the chicken-house and leaped to the ground outside, whence he sauntered gravely to the house. He had learned the law. And on the porch, before the delighted family, Judge Scott, face to face with White Fang, said slowly and solemnly, sixteen times, “White Fang, you are smarter than I thought.”
But it was the multiplicity of laws that befuddled White Fang and often brought him into disgrace. He had to learn that he must not touch the chickens that belonged to other gods. Then there were cats, and rabbits, and turkeys; all these he must let alone. In fact, when he had but partly learned the law, his impression was that he must leave all live things alone. Out in the back-pasture, a quail could flutter up under his nose unharmed. All tense and trembling with eagerness and desire, he mastered his instinct and stood still. He was obeying the will of the gods.
And then, one day, again out in the back-pasture, he saw Dick start a jackrabbit and run it. The master himself was looking on and did not interfere. Nay, he encouraged White Fang to join in the chase. And thus he learned that there was no taboo on jackrabbits. In the end he worked out the complete law. Between him and all domestic animals there must be no hostilities. If not amity, at least neutrality must obtain. But the other animals-the squirrels, and quail, and cottontails, were creatures of the Wild who had never yielded allegiance to man. They were the lawful prey of any dog. It was only the tame that the gods protected, and between the tame deadly strife was not permitted. The gods held the power of life and death over their subjects, and the gods were jealous of their power.
Life was complex in the Santa Clara Valley after the simplicities of the Northland. And the chief thing demanded by these intricacies of civilisation was control, restraint-a poise of self that was as delicate as the fluttering of gossamer wings and at the same time as rigid as steel. Life had a thousand faces, and White Fang found he must meet them all-thus, when he went to town, in to San Jose, running behind the carriage or loafing about the streets when the carriage stopped. Life flowed past him, deep and wide and varied, continually impinging upon his senses, demanding of him instant and endless adjustments and correspondences, and compelling him, almost always, to suppress his natural impulses.
There were butcher-shops where meat hung within reach. This meat he must not touch. There were cats at the houses the master visited that must be let alone. And there were dogs everywhere that snarled at him and that he must not attack. And then, on the crowded sidewalks there were persons innumerable whose attention he attracted. They would stop and look at him, point him out to one another, examine him, talk of him, and, worst of all, pat him. And these perilous contacts from all these strange hands he must endure. Yet this endurance he achieved. Furthermore, he got over being awkward and self-conscious. In a lofty way he received the attentions of the multitudes of strange gods. With condescension he accepted their condescension. On the other hand, there was something about him that prevented great familiarity. They patted him on the head and passed on, contented and pleased with their own daring.
But it was not all easy for White Fang. Running behind the carriage in the outskirts of San Jose, he encountered certain small boys who made a practice of flinging stones at him. Yet he knew that it was not permitted him to pursue and drag them down. Here he was compelled to violate his instinct of self-preservation, and violate it he did, for he was becoming tame and qualifying himself for civilisation.
Nevertheless, White Fang was not quite satisfied with the arrangement. He had no abstract ideas about justice and fair play. But there is a certain sense of equity that resides in life, and it was this sense in him that resented the unfairness of his being permitted no defence against the stone-throwers. He forgot that in the covenant entered into between him and the gods they were pledged to care for him and defend him. But one day the master sprang from the carriage, whip in hand, and gave the stone-throwers a thrashing. After that they threw stones no more, and White Fang understood and was satisfied.
One other experience of similar nature was his. On the way to town, hanging around the saloon at the cross-roads, were three dogs that made a practice of rushing out upon him when he went by. Knowing his deadly method of fighting, the master had never ceased impressing upon White Fang the law that he must not fight. As a result, having learned the lesson well, White Fang was hard put whenever he passed the cross-roads saloon. After the first rush, each time, his snarl kept the three dogs at a distance but they trailed along behind, yelping and bickering and insulting him. This endured for some time. The men at the saloon even urged the dogs on to attack White Fang. One day they openly sicked the dogs on him. The master stopped the carriage.
“Go to it,” he said to White Fang.
But White Fang could not believe. He looked at the master, and he looked at the dogs. Then he looked back eagerly and questioningly at the master.
The master nodded his head. “Go to them, old fellow. Eat them up.”
White Fang no longer hesitated. He turned and leaped silently among his enemies. All three faced him. There was a great snarling and growling, a clashing of teeth and a flurry of bodies. The dust of the road arose in a cloud and screened the battle. But at the end of several minutes two dogs were struggling in the dirt and the third was in full flight. He leaped a ditch, went through a rail fence, and fled across a field. White Fang followed, sliding over the ground in wolf fashion and with wolf speed, swiftly and without noise, and in the centre of the field he dragged down and slew the dog.
With this triple killing his main troubles with dogs ceased. The word went up and down the valley, and men saw to it that their dogs did not molest the Fighting Wolf.