CHƯƠNG I. KẺ THÙ CỦA ĐỒNG LOẠI
Nếu trong bản tính Nanh Trắng từng le lói một khả năng nào đó - dù là nhỏ nhoi nhất - để kết bạn với đồng loại, thì khả năng ấy đã bị nghiền nát hoàn toàn, không gì cứu vãn nổi, kể từ ngày nó được chọn làm con chó dẫn đầu đàn kéo xe. Bởi giờ đây, lũ chó còn lại đều căm ghét nó đến tận xương tủy. Chúng ghét nó vì Mit-sah luôn ưu ái cho nó thêm thịt. Ghét nó vì đủ thứ đặc ân - có thật hay chỉ do chúng tưởng tượng - mà nó được hưởng. Và ghét nó vì nó luôn chễm chệ ở vị trí dẫn đầu, cái đuôi xù rậm rạp ve vẩy cùng tấm thân sau không ngừng lùi xa về phía trước, ngày ngày trêu ngươi trước mắt chúng.
Về phần mình, Nanh Trắng đáp trả bằng một nỗi căm hận cay đắng chẳng kém. Làm con chó dẫn đầu chẳng mang lại cho nó chút tự hào nào. Phải cắm đầu cắm cổ chạy trốn trước cả bầy chó đang gầm rú phía sau - những con chó mà suốt ba năm ròng nó đã từng quật ngã và khuất phục từng đứa một - quả là điều gần như vượt quá sức chịu đựng của nó. Nhưng nó buộc phải chịu đựng, bằng không sẽ bỏ mạng. Mà sự sống mãnh liệt trong nó thì chưa hề có ý định lụi tàn. Khoảnh khắc Mit-sah ra lệnh xuất phát, cả bầy chó liền đồng loạt lao về phía Nanh Trắng, tiếng tru của chúng vừa háo hức vừa man rợ.
Nó chẳng còn cách nào để phòng vệ. Nếu quay đầu đối mặt với chúng, Mit-sah sẽ quất ngay ngọn roi da chát chúa vào mặt nó. Lối thoát duy nhất là bỏ chạy. Nó không thể dùng cái đuôi và phần thân sau để đương đầu với lũ chó đang gào rít đằng kia. Đó chẳng phải là thứ vũ khí thích đáng để chống lại vô số những chiếc nanh nhẫn tâm kia. Vậy nên nó đành phải chạy. Mỗi nhịp bước là một lần nó phản bội lại chính bản tính và lòng kiêu hãnh của mình. Và cứ thế, nó chạy suốt cả ngày dài.
Người ta không thể chống lại sự thôi thúc của bản tính mà không khiến bản tính ấy vùng lên phản kháng. Sự phản kháng ấy tựa như một sợi lông mọc ra từ da thịt, nhưng lại mọc ngược một cách bất thường và đâm thẳng vào trong - một vết thương nhức nhối không ngừng mưng mủ. Nanh Trắng cũng chịu cảnh tương tự. Mọi thôi thúc trong con người nó đều xúi giục nó quay lại cắn xé lũ chó đang sủa inh ỏi ngay dưới gót chân mình. Nhưng ý chí của các vị thần tối cao lại không cho phép điều đó. Và đằng sau ý chí ấy, để thi hành nó, chính là ngọn roi bện bằng ruột tuần lộc, với sợi dây dài ba mươi foot sẵn sàng cắn sâu vào da thịt. Thế nên Nanh Trắng chỉ biết ngậm đắng nuốt cay trong lòng, nuôi dưỡng một mối căm hờn và ác tâm tương xứng với sự hung dữ và ngang bướng cố hữu trong bản tính của nó.
Nếu có một sinh vật nào sinh ra để làm kẻ thù của đồng loại, thì sinh vật ấy chính là Nanh Trắng. Nó không xin tha mạng, cũng chẳng nhân nhượng với bất kỳ ai. Thân thể nó liên tục hứng chịu những vết rách từ răng lũ chó, và cũng liên tục hằn lên thân thể chúng những dấu tích của chính mình. Không giống hầu hết những con chó dẫn đầu khác - những kẻ thường rúc vào gần các vị thần để tìm sự che chở mỗi khi dựng trại hay tháo dỡ xe kéo - Nanh Trắng khinh bỉ thứ bảo vệ đó. Nó nghênh ngang đi lại khắp trại, trừng phạt lũ chó trong đêm vì những gì nó phải chịu đựng vào ban ngày. Trước khi trở thành chó dẫn đầu, lũ chó đã học được cách tránh xa nó. Nhưng giờ thì khác rồi. Bị kích động bởi cảnh rượt đuổi nó suốt cả ngày, bị ám ảnh trong vô thức bởi hình ảnh nó không ngừng bỏ chạy in sâu vào não bộ, và bị men say của cảm giác thống trị tận hưởng suốt ngày dài thôi thúc - lũ chó không thể nào ép mình tránh đường cho nó được nữa. Mỗi lần nó xuất hiện giữa chúng là mỗi lần ẩu đả nổ ra. Mỗi bước chân nó đi qua đều bị đánh dấu bằng những tiếng gầm gừ, những cú đớp và những hàm răng nhe ra. Bầu không khí nó hít thở đặc quánh sự căm ghét và ác tâm, và điều ấy chỉ càng bồi đắp thêm sự căm ghét và ác tâm bên trong nó.
Khi Mit-sah hét lên ra lệnh cho bầy chó dừng lại, Nanh Trắng tuân lời. Lúc đầu, điều này gây rắc rối cho những con chó khác. Tất cả chúng sẽ lao vào con chó dẫn đầu đáng ghét, chỉ để rồi chợt nhận ra tình thế đã đảo chiều. Đứng sau lưng nó sẽ là Mit-sah, cây roi dài vun vút trong tay. Nhờ vậy, lũ chó hiểu ra rằng: khi cả đội dừng lại theo lệnh, chúng phải để Nanh Trắng yên. Nhưng nếu Nanh Trắng tự ý dừng lại, không có lệnh, thì chúng được phép lao vào nó - và tiêu diệt nó luôn nếu có thể. Chỉ sau vài lần nếm trải, Nanh Trắng không bao giờ tự dừng lại khi chưa có lệnh nữa. Nó học rất nhanh. Hiển nhiên là phải nhanh, nếu nó còn muốn sống sót trong những điều kiện cực kỳ khắc nghiệt mà cuộc đời đã dành cho nó.
Thế nhưng, lũ chó không bao giờ học nổi bài học phải để nó yên khi ở trong trại. Mỗi ngày, cuộc rượt đuổi và những tiếng sủa đầy khiêu khích lại xóa sạch bài học của đêm hôm trước. Đêm hôm đó, chúng lại phải học lại từ đầu - để rồi quên lãng ngay tức khắc. Bên cạnh đó, sự chán ghét của chúng dành cho nó lại vô cùng bền bỉ. Chúng cảm nhận được giữa chúng và nó tồn tại một sự khác biệt về bản chất - một nguyên nhân tự thân đã đủ để khơi dậy thù địch. Cũng như nó, chúng là những con sói đã được thuần hóa. Nhưng chúng đã được thuần hóa qua nhiều thế hệ. Phần lớn chất Hoang Dã trong chúng đã mai một, vậy nên đối với chúng, Cõi Hoang Dã là một thứ gì đó xa lạ, khủng khiếp, luôn rình rập và gây hấn. Còn với nó, chất Hoang Dã vẫn bám riết lấy từng đường nét - từ ngoại hình, hành động cho đến những thôi thúc sâu kín nhất. Nó chính là biểu tượng, là hiện thân sống động của Cõi Hoang Dã. Và thế nên, khi chúng nhe nanh với nó, thực chất chúng đang tự vệ trước những thế lực hủy diệt ẩn nấp trong bóng tối của khu rừng và trong màn đêm bên ngoài ánh lửa trại.
Nhưng có một bài học lũ chó đã thuộc nằm lòng: đó là phải sát cánh bên nhau. Nanh Trắng quá kinh khủng để bất kỳ con nào trong số chúng dám đối mặt một mình. Chúng chỉ dám đương đầu với nó bằng đội hình tập thể; bằng không, nó đã giết sạch từng đứa một chỉ trong một đêm. Sự thực là, nó chưa bao giờ có cơ hội kết liễu chúng. Nó có thể quật ngã một con chó, nhưng cả bầy sẽ lao vào nó trước khi nó kịp giáng thêm cú cắn chí mạng vào cổ họng con vật. Ngay khi dấu hiệu xung đột đầu tiên vừa lóe lên, cả bầy lập tức xúm lại và đối mặt với nó. Lũ chó vẫn có những trận cãi vã nội bộ, nhưng tất cả đều bị quẳng sang một bên mỗi khi có rắc rối với Nanh Trắng.
Về phía mình, dù có cố gắng đến đâu, lũ chó cũng không thể giết được Nanh Trắng. Nó quá nhanh nhẹn, quá đáng gờm, và quá khôn ngoan so với chúng. Nó luôn né tránh những tình thế chật hẹp và lập tức rút lui mỗi khi thấy chúng có vẻ sắp bao vây được mình. Còn về chuyện quật ngã nó - không một con chó nào trong số chúng đủ sức làm nổi. Bàn chân nó bám chặt lấy mặt đất bằng một sự kiên cường sắt đá, giống hệt như cách nó bám lấy sự sống. Cũng bởi lẽ đó, sống còn và đứng vững gần như là hai khái niệm đồng nghĩa trong cuộc chiến không hồi kết này với bầy chó - và chẳng ai thấm thía điều đó hơn Nanh Trắng.
Thế là nó trở thành kẻ thù của đồng loại - những con sói đã được thuần hóa, những kẻ đã trở nên mềm yếu bên những đống lửa của con người, suy nhược dưới bóng tối che chở của sức mạnh con người. Nanh Trắng cay đắng và không thể nguôi ngoai. Khối đất sét nhào nặn nên nó đã được định hình như thế. Nó tuyên chiến sống mái với toàn bộ giống loài chó. Và nó sống với mối thâm thù ấy khủng khiếp đến nỗi ngay cả Grey Beaver - bản thân ông ta cũng là một kẻ man rợ dữ tợn - cũng phải kinh ngạc trước sự hung dữ của Nanh Trắng. Ông thề rằng chưa từng có con vật nào như vậy. Và những người da đỏ ở các ngôi làng xa lạ, khi ngẫm lại những câu chuyện về cuộc tàn sát của nó giữa bầy chó của họ, cũng thề như thế.
Khi Nanh Trắng xấp xỉ năm tuổi, Grey Beaver lại dẫn nó vào một cuộc viễn du lớn. Dấu vết tàn phá nó để lại trên bầy chó khắp các ngôi làng dọc sông Mackenzie, băng qua dãy Rockies, rồi xuôi theo sông Porcupine mãi đến tận Yukon, đã khắc vào trí nhớ người ta như một huyền thoại không phai. Nó say sưa trong cuộc báo thù trút xuống đồng loại mình. Bọn chúng chỉ là những con chó tầm thường, chẳng hề phòng bị. Chúng không hề được chuẩn bị cho sự nhanh nhẹn chớp nhoáng và lối đánh trực diện của nó, cho những đòn tập kích không báo trước. Chúng chẳng thể nhận ra nó là thứ gì - một tia chớp hủy diệt. Chúng xù lông, thẳng chân, gầm gừ thách thức, trong khi nó chẳng buồn phí một giây cho những màn dạo đầu rườm rà. Nó lao đi như lò xo thép bật tung, ngoạm ngay vào cổ họng và kết liễu con mồi trước khi chúng kịp hiểu chuyện gì đang ập đến - khi chúng vẫn còn đứng sững trong cơn bàng hoàng kinh hãi.
Nó đã thành một bậc thầy chiến đấu. Nó thấu hiểu cách tiết kiệm sức lực. Nó chẳng bao giờ phung phí dù một chút năng lượng, chẳng bao giờ sa vào những cuộc vật lộn dai dẳng. Nó lao vào quá nhanh để làm điều đó, và nếu trượt, nó rút lui cũng nhanh như vậy. Mối ác cảm của loài sói với không gian chật hẹp trong nó mạnh mẽ đến mức phi thường. Nó không thể chịu đựng nổi việc kề da chạm thịt lâu dài với một kẻ khác. Điều ấy nồng nặc mùi hiểm nguy. Điều ấy khiến nó phát cuồng. Nó phải được tách biệt, tự do, đứng trên chính đôi chân mình, không đụng chạm vào bất kỳ sinh thể sống nào. Đó chính là Cõi Hoang Dã vẫn bám riết lấy nó, khẳng định chính mình qua từng hành động của nó. Cảm giác ấy càng thêm sâu đậm bởi kiếp sống bị ruồng bỏ nó đã mang từ thuở còn là một con cún con. Nguy hiểm ẩn nấp trong mọi sự tiếp xúc. Đó là chiếc bẫy - luôn luôn là chiếc bẫy - và nỗi sợ về nó đã cắm rễ sâu tận đáy sinh mệnh, dệt thành từng thớ thịt trong cơ thể nó.
Hệ quả là, những con chó lạ nó chạm trán chẳng có lấy một cơ hội nào để chống cự. Nó né từng cặp nanh nhắm vào mình. Nó cắn trúng chúng, hoặc thoát đi, và trong cả hai trường hợp, bản thân nó đều không hề hấn gì. Cố nhiên, cũng có những ngoại lệ. Đôi lần, vài con chó cùng lúc ập vào nó, trừng phạt nó trước khi nó kịp tẩu thoát; cũng có khi một con chó đơn độc cắn sâu vào da thịt nó. Nhưng đó chỉ là những tai nạn. Về căn bản, nó đã trở thành một chiến binh hiệu suất đến mức hầu như luôn rời đi mà không một vết xước.
Một lợi thế khác nó sở hữu là khả năng phán đoán thời gian và khoảng cách chính xác đến kinh ngạc. Dẫu vậy, nó không làm điều này một cách ý thức. Nó chẳng hề tính toán những thứ như thế. Tất cả diễn ra một cách tự động. Đôi mắt nó thu nhận hình ảnh chuẩn xác, và các dây thần kinh truyền tải chúng trung thành đến não bộ. Từng bộ phận trên cơ thể nó được tinh chỉnh tốt hơn hẳn những con chó thông thường. Chúng phối hợp với nhau nhịp nhàng và vững vàng hơn. Khả năng liên kết giữa thần kinh, tinh thần và cơ bắp của nó vượt trội hơn rất nhiều. Khi đôi mắt truyền hình ảnh chuyển động của một hành động lên não bộ, não bộ nó - không cần một chút nỗ lực nhận thức nào - vẫn biết chính xác không gian giới hạn hành động ấy và thời gian cần để hoàn tất nó. Nhờ vậy, nó có thể né cú vồ của một con chó khác, hay cú ngoạm từ hàm răng chúng, và trong cùng một khoảnh khắc li ti ấy, nó chộp lấy một phần ngàn giây để tung ra đòn tấn công của chính mình. Xét cả về thể xác lẫn trí não, nó là một cỗ máy hoàn thiện hơn. Chẳng phải vì thế mà nó đáng được khen ngợi. Đơn giản là Tạo Hóa đã hào phóng với nó hơn những sinh vật tầm thường khác - chỉ vậy thôi.
Vào mùa hè, Nanh Trắng đặt chân đến Fort Yukon. Grey Beaver đã băng qua đường phân thủy vĩ đại1 giữa sông Mackenzie và sông Yukon vào cuối mùa đông, rồi dành trọn mùa xuân săn bắn giữa những nhánh núi tua tủa nơi rìa phía tây của dãy Rockies. Sau đó, khi lớp băng trên sông Porcupine vỡ tan, ông đóng một chiếc ca nô và chèo xuôi theo dòng nước, đến tận nơi con sông ấy hòa mình vào Yukon - ngay bên dưới vòng Bắc Cực2. Ở đó có một pháo đài cũ của Công ty Hudson's Bay3; ở đó có vô số người da đỏ, vô số thức ăn, và một sự náo nhiệt chưa từng thấy. Đó là mùa hè năm 18984, và hàng ngàn kẻ đi tìm vàng đang ngược dòng Yukon để tiến về Dawson và Klondike5. Dẫu vẫn còn cách đích đến hàng trăm dặm, rất nhiều người trong số họ đã lê bước suốt cả năm trời, và chặng đường ngắn nhất mà bất kỳ ai trong bọn họ phải vượt qua để đến được nơi này cũng đã là năm ngàn dặm; thậm chí có những kẻ đến từ tận bờ bên kia của thế giới.
Grey Beaver dừng chân tại đây. Tin đồn về cơn sốt vàng đã lọt vào tai ông, và ông mang theo vài kiện lông thú, cùng một kiện găng tay và giày da đính ruột thú. Ông sẽ chẳng dấn thân vào một chuyến đi dài đến thế nếu không kỳ vọng những món lợi hậu hĩnh. Nhưng những gì ông mong đợi hóa ra lại chẳng thấm tháp gì so với những gì ông thực sự thu về. Ngay cả trong những giấc mơ ngông cuồng nhất, ông cũng chưa từng hình dung lợi nhuận lại có thể vượt quá một trăm phần trăm; thế mà ông đã kiếm được một ngàn phần trăm. Và như một người da đỏ thực thụ, ông quyết định ở lại, giao thương một cách thận trọng và từ tốn, ngay cả khi điều đó có nghĩa là phải mất trọn mùa hè và phần còn lại của mùa đông mới bán hết được số hàng hóa của mình.
Chính tại Fort Yukon, Nanh Trắng lần đầu tiên trông thấy những người da trắng. So với những người da đỏ mà nó từng biết, họ đối với nó là một chủng tộc hoàn toàn khác - một chủng tộc của những vị thần tối cao. Họ gây ấn tượng với nó bằng sức mạnh vượt trội mà họ nắm giữ, và quyền năng của thần linh luôn luôn dựa trên sức mạnh. Nanh Trắng không hề suy luận về điều đó, cũng chẳng tự mình khái quát thành một nhận thức rõ ràng rằng các vị thần da trắng quyền năng hơn. Đó chỉ là một thứ cảm giác, không hơn không kém - nhưng lại vô cùng mãnh liệt. Cũng như thuở còn là một con cún con, những khối hình đồ sộ của các túp lều tepee do con người dựng lên đã tác động lên nó như những biểu hiện của quyền lực, thì giờ đây nó cũng bị choáng ngợp bởi những ngôi nhà và pháo đài khổng lồ làm từ những khúc gỗ to lớn. Đây chính là quyền lực. Những vị thần da trắng ấy thật hùng mạnh. Họ sở hữu sự làm chủ vật chất lớn lao hơn bội phần so với những vị thần mà nó từng biết - mà quyền năng nhất trong số đó chính là Grey Beaver. Vậy mà ngay cả Grey Beaver cũng chỉ như một vị thần trẻ con giữa đám người da trắng này.
Thực ra, Nanh Trắng chỉ cảm nhận được những điều ấy. Nó không hề có ý thức về chúng. Dù vậy, loài vật thường hành động dựa trên cảm xúc nhiều hơn là suy nghĩ; và mọi hành động Nanh Trắng thực hiện vào lúc này đều bắt nguồn từ cảm giác rằng những người da trắng chính là các vị thần tối cao. Thoạt đầu, nó hết sức nghi ngờ họ. Chẳng thể nào biết được họ ẩn chứa những nỗi kinh hoàng bí ẩn gì, hay họ có thể gây ra những tổn thương khôn lường nào. Nó tò mò muốn quan sát họ, nhưng lại sợ bị họ chú ý. Trong vài giờ đầu tiên, nó bằng lòng với việc lén lút lượn lờ vòng quanh và dõi theo họ từ một khoảng cách an toàn. Rồi nó trông thấy những con chó đến gần họ mà chẳng hề bị tổn hại gì, và nó mạo hiểm tiến lại gần hơn.
Ngược lại, nó cũng là đối tượng gây tò mò lớn cho họ. Ngoại hình giống sói của nó ngay lập tức thu hút ánh mắt họ, và họ chỉ trỏ nó cho nhau xem. Hành động chỉ trỏ này khiến Nanh Trắng cảnh giác, và mỗi khi họ cố gắng tiếp cận, nó liền nhe nanh và lùi lại. Không một ai thành công trong việc đặt tay lên người nó - và điều đó thật may cho họ.
Nanh Trắng sớm nhận ra rằng chỉ có rất ít những vị thần này - không quá một chục người - cư trú tại nơi đây. Cứ hai ba ngày lại có một chiếc tàu hơi nước - một biểu hiện quyền lực khổng lồ khác - cập bến và dừng lại trong vài giờ. Những người da trắng bước xuống từ những chiếc tàu ấy, rồi lại ra đi trên chính chúng. Dường như có vô số những người da trắng như thế. Chỉ trong một hai ngày đầu, nó đã nhìn thấy họ nhiều hơn số lượng người da đỏ mà nó thấy trong suốt cả cuộc đời mình; và khi những ngày trôi qua, họ vẫn tiếp tục đi ngược lên dòng sông, dừng lại, rồi lại tiếp tục ngược dòng sông cho đến khi khuất bóng.
Nhưng nếu những vị thần da trắng sở hữu quyền năng tối thượng, thì lũ chó của họ lại chẳng ra gì. Nanh Trắng nhanh chóng nhận ra điều này khi len lỏi giữa đám chó theo chân chủ nhân lên bờ. Hình dáng và kích cỡ của chúng thật lộn xộn. Có con chân ngắn - ngắn một cách quá đáng; lại có con chân dài - dài đến nực cười. Chúng mọc lông mao thay vì lông thú, và có con hầu như chẳng có mấy sợi lông. Và chẳng một con nào trong số đó biết cách chiến đấu.
Là kẻ thù của toàn bộ đồng loại, Nanh Trắng đương nhiên coi việc giao chiến với lũ chó này là chuyện phải làm. Nó đã ra tay, và chỉ trong chốc lát đã dành cho chúng một sự khinh bỉ tột cùng. Chúng mềm yếu và vô tích sự, gây ra huyên náo inh ỏi, rồi loạng choạng vụng về cố đạt được bằng sức mạnh thô bạo những gì nó giành được bằng mưu mẹo và sự tinh ranh. Chúng gầm rú lao thẳng vào nó. Nó chỉ nhẹ nhàng nhảy sang một bên. Chúng không tài nào biết nó đã biến đi đâu; và trong khoảnh khắc ấy, nó ra đòn - tấn công vào vai, quật ngã chúng, rồi tung cú cắn chí mạng vào cổ họng.
Đôi khi cú cắn này thành công, và một con chó xấu số nằm lăn lộn trong bụi đất, để rồi băng chó da đỏ vốn đã chực chờ sẵn lập tức lao vào xâu xé tan tành. Nanh Trắng rất khôn ngoan. Nó đã học được từ lâu rằng các vị thần sẽ nổi cơn thịnh nộ nếu chó của họ bị giết. Những người da trắng cũng chẳng ngoại lệ. Bởi vậy, nó bằng lòng với kịch bản này: sau khi quật ngã và xé toạc cổ họng một con chó lạ, nó liền lùi lại, nhường cho băng chó ùa vào làm nốt công việc tàn nhẫn cuối cùng. Và chính vào lúc ấy, những người da trắng mới xông tới, trút cơn phẫn nộ dữ dội lên đầu băng chó - trong khi Nanh Trắng đã cao chạy xa bay. Nó sẽ đứng cách đó một quãng và lặng lẽ quan sát, trong khi gạch đá, gậy gộc, rìu búa cùng đủ loại vũ khí giáng xuống đầu những kẻ đồng bọn của mình. Nanh Trắng quả là rất khôn ngoan.
Nhưng đồng bọn của nó cũng khôn ngoan theo cách riêng của chúng; và trong quá trình ấy, Nanh Trắng cũng học thêm được nhiều điều. Chúng hiểu ra rằng chỉ có thể tận hưởng niềm vui vào lúc những chiếc tàu hơi nước vừa mới cập bến. Sau khi hai ba con chó lạ đầu tiên bị hạ gục và xé xác, những người da trắng liền vội vã lùa thú cưng trở lại tàu, rồi giáng đòn trả thù tàn bạo xuống những kẻ phạm tội. Một người đàn ông da trắng, tận mắt chứng kiến con chó săn của mình bị xâu xé ngay trước mặt, đã rút súng lục ra. Ông ta bắn liên tiếp sáu phát đạn, và sáu con trong bầy chó nằm chết hoặc thoi thóp - một biểu hiện quyền lực khác in sâu vào tiềm thức của Nanh Trắng.
Nanh Trắng tận hưởng tất thảy những điều này một cách trọn vẹn. Nó không hề yêu thương đồng loại, và nó đủ ranh mãnh để bản thân không bao giờ phải chịu tổn thương. Ban đầu, việc giết những con chó của người da trắng chỉ là một trò giải trí. Lâu dần, nó trở thành công việc. Nào nó có việc gì khác để làm đâu. Grey Beaver đang bận rộn buôn bán và trở nên giàu có. Thế là Nanh Trắng lảng vảng quanh bến tàu cùng với băng chó da đỏ rách rưới, chờ đợi những chuyến tàu hơi nước. Khi một chiếc tàu cập bến, trò vui bắt đầu. Vài phút sau, khi những người da trắng đã kịp định thần lại sau cú sốc bất ngờ, băng chó liền giải tán. Trò vui kết thúc, cho đến khi chiếc tàu kế tiếp xuất hiện.
Nhưng khó lòng nói rằng Nanh Trắng là một thành viên của băng đảng. Nó không hòa mình vào băng, mà luôn giữ khoảng cách, luôn là chính mình, và thậm chí còn khiến băng chó phải khiếp sợ. Sự thật là, nó làm việc cùng với chúng. Nó gây sự với con chó lạ trong khi băng chó đứng chờ. Và khi nó đã quật ngã con chó lạ, băng chó liền ào vào kết liễu. Nhưng cũng là sự thật khi sau đó nó liền rút lui, bỏ mặc băng chó gánh chịu sự trừng phạt từ các vị thần đang sôi sục cơn thịnh nộ.
Chẳng cần tốn bao nhiêu công sức để khơi mào những cuộc tàn sát này. Tất cả những gì nó phải làm, khi những con chó lạ đặt chân lên bờ, chỉ đơn giản là xuất hiện. Khi chúng nhìn thấy nó, chúng lập tức lao vào nó. Đó là bản năng. Nó chính là Cõi Hoang Dã - sự xa lạ, sự khủng khiếp, mối đe dọa thường trực, thứ vẫn rình rập trong bóng tối quanh những đống lửa của thế giới nguyên thủy khi chúng, thu mình co cụm bên ánh lửa, đang định hình lại bản năng, học cách khiếp sợ Cõi Hoang Dã mà chúng đã sinh ra, thứ mà chúng đã rời bỏ và phản bội. Hết thế hệ này qua thế hệ khác, nỗi khiếp sợ Cõi Hoang Dã ấy đã được khắc sâu vào bản tính của chúng. Trong suốt hàng thế kỷ, Cõi Hoang Dã là hiện thân của kinh hoàng và hủy diệt. Và trong suốt khoảng thời gian ấy, chúng đã nhận được sự cho phép từ những kẻ chủ nhân, được tự do giết chết mọi thứ thuộc về Cõi Hoang Dã. Làm như vậy, chúng vừa tự vệ cho chính mình, vừa bảo vệ những vị thần mà chúng đồng hành sẻ chia.
Và thế là, khi vừa bước ra từ thế giới phương Nam êm đềm, bước xuống tấm ván cầu và đặt chân lên bờ sông Yukon, những con chó này chỉ cần trông thấy Nanh Trắng thôi là đã trải qua một thôi thúc không thể cưỡng lại: lao vào và tiêu diệt nó. Chúng có thể chỉ là những con chó được nuôi trong thị trấn, nhưng nỗi khiếp sợ bản năng đối với Cõi Hoang Dã vẫn âm ỉ trong huyết quản chúng. Không chỉ nhìn thấy sinh vật mang hình hài sói ấy dưới ánh sáng ban ngày rành rành bằng chính đôi mắt mình. Chúng còn nhìn nó bằng đôi mắt của tổ tiên, và bằng ký ức di truyền, chúng nhận ra Nanh Trắng chính là loài sói, và chúng nhớ lại mối thâm thù ngàn đời.
Tất thảy những điều này chỉ khiến cho những ngày tháng của Nanh Trắng thêm phần thú vị. Nếu việc nhìn thấy nó khiến những con chó lạ lao vào nó, thì càng tốt cho nó, càng tệ cho chúng. Chúng coi nó là con mồi hợp pháp, và nó cũng coi chúng là con mồi hợp pháp.
Không phải ngẫu nhiên mà lần đầu tiên nó nhìn thấy ánh sáng mặt trời là trong một hang ổ cô độc, và những trận chiến đầu đời của nó là với con gà gô trắng, con chồn, rồi con linh miêu. Cũng không phải ngẫu nhiên mà thời cún con của nó trở nên cay đắng bởi sự bức hại của Lip-lip và toàn bộ bầy chó con. Vạn sự đáng lẽ đã có thể khác đi, và nó cũng đã có thể trở nên khác đi. Nếu Lip-lip không tồn tại, nó đã có thể trải qua thời thơ ấu cùng với những con chó con khác, lớn lên giống chó hơn, có thiện cảm hơn với đồng loại. Nếu Grey Beaver sở hữu quả dọi của tình yêu thương và sự gắn bó, ông ta đã có thể chạm đến tận cùng bản chất của Nanh Trắng và khơi dậy tất cả những phẩm chất tốt đẹp ẩn sâu trong nó. Nhưng những điều ấy đã không xảy ra. Khối đất sét tạo nên Nanh Trắng đã được nhào nặn cho đến khi nó trở thành con vật như hiện tại - ủ rũ và cô độc, thiếu vắng tình yêu thương và hung tợn, kẻ thù của tất thảy đồng loại.
-
Dịch từ "great water-shed" (hay Continental Divide) - đường ranh giới địa lý chạy dọc theo các đỉnh núi cao, chia cắt các lưu vực sông. Nước mưa hoặc tuyết tan ở hai bên của đường phân thủy này sẽ chảy về hai hướng đối nghịch nhau, đổ vào những đại dương hoàn toàn tách biệt. ↩
-
Dịch từ "Arctic Circle". Ranh giới địa lý đánh dấu vùng cực Bắc của Trái Đất, nơi thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt với hiện tượng "đêm địa cực" (mặt trời không hề mọc vào giữa mùa đông) và "mặt trời lúc nửa đêm" (mặt trời không hề lặn vào giữa mùa hè). ↩
-
Hudson's Bay Company (HBC) là tập đoàn thương mại lâu đời nhất Bắc Mỹ, được thành lập từ năm 1670. Trong nhiều thế kỷ, họ nắm thế độc quyền buôn bán lông thú trên một vùng lãnh thổ rộng lớn. Các "pháo đài" của công ty thực chất là những đồn điền và trạm giao thương trọng yếu kết nối người da trắng và người bản địa. ↩
-
Cột mốc lịch sử đánh dấu thời kỳ đỉnh điểm của Cơn sốt vàng Klondike (Klondike Gold Rush). Hàng vạn người từ khắp nơi trên thế giới đã bỏ lại mọi thứ, bất chấp rủi ro để đổ xô đến vùng biên giới băng giá này với khao khát đổi đời. ↩
-
Klondike là một khu vực thuộc lãnh thổ Yukon (Canada), nơi phát hiện ra những mỏ vàng trù phú. Dawson City là thành phố trung tâm của cơn sốt vàng, mọc lên chớp nhoáng từ một bãi lầy và nhanh chóng trở thành khu định cư sầm uất bậc nhất Tây Bắc Bắc Mỹ thời bấy giờ. ↩
CHAPTER I THE ENEMY OF HIS KIND
Had there been in White Fang’s nature any possibility, no matter how remote, of his ever coming to fraternise with his kind, such possibility was irretrievably destroyed when he was made leader of the sled-team. For now the dogs hated him-hated him for the extra meat bestowed upon him by Mit-sah; hated him for all the real and fancied favours he received; hated him for that he fled always at the head of the team, his waving brush of a tail and his perpetually retreating hind-quarters for ever maddening their eyes.
And White Fang just as bitterly hated them back. Being sled-leader was anything but gratifying to him. To be compelled to run away before the yelling pack, every dog of which, for three years, he had thrashed and mastered, was almost more than he could endure. But endure it he must, or perish, and the life that was in him had no desire to perish out. The moment Mit-sah gave his order for the start, that moment the whole team, with eager, savage cries, sprang forward at White Fang.
There was no defence for him. If he turned upon them, Mit-sah would throw the stinging lash of the whip into his face. Only remained to him to run away. He could not encounter that howling horde with his tail and hind-quarters. These were scarcely fit weapons with which to meet the many merciless fangs. So run away he did, violating his own nature and pride with every leap he made, and leaping all day long.
One cannot violate the promptings of one’s nature without having that nature recoil upon itself. Such a recoil is like that of a hair, made to grow out from the body, turning unnaturally upon the direction of its growth and growing into the body-a rankling, festering thing of hurt. And so with White Fang. Every urge of his being impelled him to spring upon the pack that cried at his heels, but it was the will of the gods that this should not be; and behind the will, to enforce it, was the whip of cariboo-gut with its biting thirty-foot lash. So White Fang could only eat his heart in bitterness and develop a hatred and malice commensurate with the ferocity and indomitability of his nature.
If ever a creature was the enemy of its kind, White Fang was that creature. He asked no quarter, gave none. He was continually marred and scarred by the teeth of the pack, and as continually he left his own marks upon the pack. Unlike most leaders, who, when camp was made and the dogs were unhitched, huddled near to the gods for protection, White Fang disdained such protection. He walked boldly about the camp, inflicting punishment in the night for what he had suffered in the day. In the time before he was made leader of the team, the pack had learned to get out of his way. But now it was different. Excited by the day-long pursuit of him, swayed subconsciously by the insistent iteration on their brains of the sight of him fleeing away, mastered by the feeling of mastery enjoyed all day, the dogs could not bring themselves to give way to him. When he appeared amongst them, there was always a squabble. His progress was marked by snarl and snap and growl. The very atmosphere he breathed was surcharged with hatred and malice, and this but served to increase the hatred and malice within him.
When Mit-sah cried out his command for the team to stop, White Fang obeyed. At first this caused trouble for the other dogs. All of them would spring upon the hated leader only to find the tables turned. Behind him would be Mit-sah, the great whip singing in his hand. So the dogs came to understand that when the team stopped by order, White Fang was to be let alone. But when White Fang stopped without orders, then it was allowed them to spring upon him and destroy him if they could. After several experiences, White Fang never stopped without orders. He learned quickly. It was in the nature of things, that he must learn quickly if he were to survive the unusually severe conditions under which life was vouchsafed him.
But the dogs could never learn the lesson to leave him alone in camp. Each day, pursuing him and crying defiance at him, the lesson of the previous night was erased, and that night would have to be learned over again, to be as immediately forgotten. Besides, there was a greater consistence in their dislike of him. They sensed between themselves and him a difference of kind-cause sufficient in itself for hostility. Like him, they were domesticated wolves. But they had been domesticated for generations. Much of the Wild had been lost, so that to them the Wild was the unknown, the terrible, the ever-menacing and ever warring. But to him, in appearance and action and impulse, still clung the Wild. He symbolised it, was its personification: so that when they showed their teeth to him they were defending themselves against the powers of destruction that lurked in the shadows of the forest and in the dark beyond the camp-fire.
But there was one lesson the dogs did learn, and that was to keep together. White Fang was too terrible for any of them to face single-handed. They met him with the mass-formation, otherwise he would have killed them, one by one, in a night. As it was, he never had a chance to kill them. He might roll a dog off its feet, but the pack would be upon him before he could follow up and deliver the deadly throat-stroke. At the first hint of conflict, the whole team drew together and faced him. The dogs had quarrels among themselves, but these were forgotten when trouble was brewing with White Fang.
On the other hand, try as they would, they could not kill White Fang. He was too quick for them, too formidable, too wise. He avoided tight places and always backed out of it when they bade fair to surround him. While, as for getting him off his feet, there was no dog among them capable of doing the trick. His feet clung to the earth with the same tenacity that he clung to life. For that matter, life and footing were synonymous in this unending warfare with the pack, and none knew it better than White Fang.
So he became the enemy of his kind, domesticated wolves that they were, softened by the fires of man, weakened in the sheltering shadow of man’s strength. White Fang was bitter and implacable. The clay of him was so moulded. He declared a vendetta against all dogs. And so terribly did he live this vendetta that Grey Beaver, fierce savage himself, could not but marvel at White Fang’s ferocity. Never, he swore, had there been the like of this animal; and the Indians in strange villages swore likewise when they considered the tale of his killings amongst their dogs.
When White Fang was nearly five years old, Grey Beaver took him on another great journey, and long remembered was the havoc he worked amongst the dogs of the many villages along the Mackenzie, across the Rockies, and down the Porcupine to the Yukon. He revelled in the vengeance he wreaked upon his kind. They were ordinary, unsuspecting dogs. They were not prepared for his swiftness and directness, for his attack without warning. They did not know him for what he was, a lightning-flash of slaughter. They bristled up to him, stiff-legged and challenging, while he, wasting no time on elaborate preliminaries, snapping into action like a steel spring, was at their throats and destroying them before they knew what was happening and while they were yet in the throes of surprise.
He became an adept at fighting. He economised. He never wasted his strength, never tussled. He was in too quickly for that, and, if he missed, was out again too quickly. The dislike of the wolf for close quarters was his to an unusual degree. He could not endure a prolonged contact with another body. It smacked of danger. It made him frantic. He must be away, free, on his own legs, touching no living thing. It was the Wild still clinging to him, asserting itself through him. This feeling had been accentuated by the Ishmaelite life he had led from his puppyhood. Danger lurked in contacts. It was the trap, ever the trap, the fear of it lurking deep in the life of him, woven into the fibre of him.
In consequence, the strange dogs he encountered had no chance against him. He eluded their fangs. He got them, or got away, himself untouched in either event. In the natural course of things there were exceptions to this. There were times when several dogs, pitching on to him, punished him before he could get away; and there were times when a single dog scored deeply on him. But these were accidents. In the main, so efficient a fighter had he become, he went his way unscathed.
Another advantage he possessed was that of correctly judging time and distance. Not that he did this consciously, however. He did not calculate such things. It was all automatic. His eyes saw correctly, and the nerves carried the vision correctly to his brain. The parts of him were better adjusted than those of the average dog. They worked together more smoothly and steadily. His was a better, far better, nervous, mental, and muscular co-ordination. When his eyes conveyed to his brain the moving image of an action, his brain without conscious effort, knew the space that limited that action and the time required for its completion. Thus, he could avoid the leap of another dog, or the drive of its fangs, and at the same moment could seize the infinitesimal fraction of time in which to deliver his own attack. Body and brain, his was a more perfected mechanism. Not that he was to be praised for it. Nature had been more generous to him than to the average animal, that was all.
It was in the summer that White Fang arrived at Fort Yukon. Grey Beaver had crossed the great watershed between Mackenzie and the Yukon in the late winter, and spent the spring in hunting among the western outlying spurs of the Rockies. Then, after the break-up of the ice on the Porcupine, he had built a canoe and paddled down that stream to where it effected its junction with the Yukon just under the Artic circle. Here stood the old Hudson’s Bay Company fort; and here were many Indians, much food, and unprecedented excitement. It was the summer of 1898, and thousands of gold-hunters were going up the Yukon to Dawson and the Klondike. Still hundreds of miles from their goal, nevertheless many of them had been on the way for a year, and the least any of them had travelled to get that far was five thousand miles, while some had come from the other side of the world.
Here Grey Beaver stopped. A whisper of the gold-rush had reached his ears, and he had come with several bales of furs, and another of gut-sewn mittens and moccasins. He would not have ventured so long a trip had he not expected generous profits. But what he had expected was nothing to what he realised. His wildest dreams had not exceeded a hundred per cent. profit; he made a thousand per cent. And like a true Indian, he settled down to trade carefully and slowly, even if it took all summer and the rest of the winter to dispose of his goods.
It was at Fort Yukon that White Fang saw his first white men. As compared with the Indians he had known, they were to him another race of beings, a race of superior gods. They impressed him as possessing superior power, and it is on power that godhead rests. White Fang did not reason it out, did not in his mind make the sharp generalisation that the white gods were more powerful. It was a feeling, nothing more, and yet none the less potent. As, in his puppyhood, the looming bulks of the tepees, man-reared, had affected him as manifestations of power, so was he affected now by the houses and the huge fort all of massive logs. Here was power. Those white gods were strong. They possessed greater mastery over matter than the gods he had known, most powerful among which was Grey Beaver. And yet Grey Beaver was as a child-god among these white-skinned ones.
To be sure, White Fang only felt these things. He was not conscious of them. Yet it is upon feeling, more often than thinking, that animals act; and every act White Fang now performed was based upon the feeling that the white men were the superior gods. In the first place he was very suspicious of them. There was no telling what unknown terrors were theirs, what unknown hurts they could administer. He was curious to observe them, fearful of being noticed by them. For the first few hours he was content with slinking around and watching them from a safe distance. Then he saw that no harm befell the dogs that were near to them, and he came in closer.
In turn he was an object of great curiosity to them. His wolfish appearance caught their eyes at once, and they pointed him out to one another. This act of pointing put White Fang on his guard, and when they tried to approach him he showed his teeth and backed away. Not one succeeded in laying a hand on him, and it was well that they did not.
White Fang soon learned that very few of these gods-not more than a dozen-lived at this place. Every two or three days a steamer (another and colossal manifestation of power) came into the bank and stopped for several hours. The white men came from off these steamers and went away on them again. There seemed untold numbers of these white men. In the first day or so, he saw more of them than he had seen Indians in all his life; and as the days went by they continued to come up the river, stop, and then go on up the river out of sight.
But if the white gods were all-powerful, their dogs did not amount to much. This White Fang quickly discovered by mixing with those that came ashore with their masters. They were irregular shapes and sizes. Some were short-legged-too short; others were long-legged-too long. They had hair instead of fur, and a few had very little hair at that. And none of them knew how to fight.
As an enemy of his kind, it was in White Fang’s province to fight with them. This he did, and he quickly achieved for them a mighty contempt. They were soft and helpless, made much noise, and floundered around clumsily trying to accomplish by main strength what he accomplished by dexterity and cunning. They rushed bellowing at him. He sprang to the side. They did not know what had become of him; and in that moment he struck them on the shoulder, rolling them off their feet and delivering his stroke at the throat.
Sometimes this stroke was successful, and a stricken dog rolled in the dirt, to be pounced upon and torn to pieces by the pack of Indian dogs that waited. White Fang was wise. He had long since learned that the gods were made angry when their dogs were killed. The white men were no exception to this. So he was content, when he had overthrown and slashed wide the throat of one of their dogs, to drop back and let the pack go in and do the cruel finishing work. It was then that the white men rushed in, visiting their wrath heavily on the pack, while White Fang went free. He would stand off at a little distance and look on, while stones, clubs, axes, and all sorts of weapons fell upon his fellows. White Fang was very wise.
But his fellows grew wise in their own way; and in this White Fang grew wise with them. They learned that it was when a steamer first tied to the bank that they had their fun. After the first two or three strange dogs had been downed and destroyed, the white men hustled their own animals back on board and wrecked savage vengeance on the offenders. One white man, having seen his dog, a setter, torn to pieces before his eyes, drew a revolver. He fired rapidly, six times, and six of the pack lay dead or dying-another manifestation of power that sank deep into White Fang’s consciousness.
White Fang enjoyed it all. He did not love his kind, and he was shrewd enough to escape hurt himself. At first, the killing of the white men’s dogs had been a diversion. After a time it became his occupation. There was no work for him to do. Grey Beaver was busy trading and getting wealthy. So White Fang hung around the landing with the disreputable gang of Indian dogs, waiting for steamers. With the arrival of a steamer the fun began. After a few minutes, by the time the white men had got over their surprise, the gang scattered. The fun was over until the next steamer should arrive.
But it can scarcely be said that White Fang was a member of the gang. He did not mingle with it, but remained aloof, always himself, and was even feared by it. It is true, he worked with it. He picked the quarrel with the strange dog while the gang waited. And when he had overthrown the strange dog the gang went in to finish it. But it is equally true that he then withdrew, leaving the gang to receive the punishment of the outraged gods.
It did not require much exertion to pick these quarrels. All he had to do, when the strange dogs came ashore, was to show himself. When they saw him they rushed for him. It was their instinct. He was the Wild-the unknown, the terrible, the ever-menacing, the thing that prowled in the darkness around the fires of the primeval world when they, cowering close to the fires, were reshaping their instincts, learning to fear the Wild out of which they had come, and which they had deserted and betrayed. Generation by generation, down all the generations, had this fear of the Wild been stamped into their natures. For centuries the Wild had stood for terror and destruction. And during all this time free licence had been theirs, from their masters, to kill the things of the Wild. In doing this they had protected both themselves and the gods whose companionship they shared.
And so, fresh from the soft southern world, these dogs, trotting down the gang-plank and out upon the Yukon shore had but to see White Fang to experience the irresistible impulse to rush upon him and destroy him. They might be town-reared dogs, but the instinctive fear of the Wild was theirs just the same. Not alone with their own eyes did they see the wolfish creature in the clear light of day, standing before them. They saw him with the eyes of their ancestors, and by their inherited memory they knew White Fang for the wolf, and they remembered the ancient feud.
All of which served to make White Fang’s days enjoyable. If the sight of him drove these strange dogs upon him, so much the better for him, so much the worse for them. They looked upon him as legitimate prey, and as legitimate prey he looked upon them.
Not for nothing had he first seen the light of day in a lonely lair and fought his first fights with the ptarmigan, the weasel, and the lynx. And not for nothing had his puppyhood been made bitter by the persecution of Lip-lip and the whole puppy pack. It might have been otherwise, and he would then have been otherwise. Had Lip-lip not existed, he would have passed his puppyhood with the other puppies and grown up more doglike and with more liking for dogs. Had Grey Beaver possessed the plummet of affection and love, he might have sounded the deeps of White Fang’s nature and brought up to the surface all manner of kindly qualities. But these things had not been so. The clay of White Fang had been moulded until he became what he was, morose and lonely, unloving and ferocious, the enemy of all his kind.