CHƯƠNG V. LUẬT CỦA THỊT
Sói con lớn nhanh đến lạ lùng. Chỉ sau hai ngày nằm nghỉ, nó lại liều lĩnh mon men ra khỏi miệng hang. Và chính trong chuyến phiêu lưu lần này, nó đã chạm trán con chồn con - đứa con của con chồn mẹ mà trước đó nó từng góp sức ăn thịt. Không chút đắn đo, nó bắt con chồn con ấy cùng chung số phận với mẹ nó. Nhưng lần này, sói con không còn lạc đường nữa. Khi mệt nhoài, nó tự mình mò về hang rồi lăn ra ngủ thiếp đi. Kể từ hôm ấy, ngày nào nó cũng rời hang và lùng sục một vùng lãnh thổ mỗi lúc một rộng thêm.
Sói con bắt đầu biết cân đo chính xác sức mạnh lẫn điểm yếu của bản thân - khi nào thì nên táo bạo, khi nào thì phải dè chừng. Nó nghiệm ra rằng thận trọng luôn là điều khôn ngoan nhất. Chỉ trong những khoảnh khắc hiếm hoi, lúc đã hoàn toàn nắm chắc vào lòng gan dạ của mình, nó mới buông thả bản thân cho những cơn thịnh nộ cuồng loạn và những thôi thúc nguyên thủy nhất.
Mỗi lần tình cờ vồ được một con gà gô1 đi lạc, sói con liền hóa thân thành một con quỷ nhỏ sục sôi phẫn nộ. Nó chẳng bao giờ thôi man rợ trước tiếng kêu lách chách chói tai của lũ sóc - âm thanh mà lần đầu tiên nó nghe thấy trên gốc thông cháy sém. Còn khi bắt gặp một con chim khướu Canada2, cơn cuồng nộ trong nó bùng lên dữ dội hơn bao giờ hết; bởi nó không thể nào quên cú mổ đau điếng vào mũi mà con chim đầu tiên thuộc giống loài này đã giáng xuống nó.
Ấy vậy mà cũng có lúc, ngay cả một con chim khướu Canada cũng chẳng khiến nó mảy may xao động - đó là những khi nó cảm thấy một kẻ săn mồi nào đó đang âm thầm rình rập mình. Nó không bao giờ quên con chim ưng. Cái bóng lướt vụt qua trên cao của con chim luôn buộc nó phải lập tức chúi vội vào bụi rậm gần nhất. Dáng đi của sói con cũng chẳng còn lạch bạch, loạng choạng như thuở mới sinh. Giờ đây, nó đã mang trong mình dáng đi của sói mẹ - lén lút, rình rập, tựa hồ chẳng tốn một chút sức lực nào, vậy mà lại trườn đi với một tốc độ đánh lừa mọi ánh nhìn, gần như không thể nhận ra.
Về phần thịt thà, mọi may mắn của sói con hình như đều dồn cả vào thuở ban đầu. Bảy con gà gô con và một con chồn non - đó là toàn bộ chiến lợi phẩm mà tự tay nó giết được. Cơn khát máu trong nó mỗi ngày một lớn thêm, và nó cứ ấp ủ mãi tham vọng đói khát nhắm vào lũ sóc - những kẻ suốt ngày léo nhéo kêu la và luôn báo động cho muôn loài hoang dã biết rằng sói con đang đến gần. Nhưng chim thì có cánh bay trên trời, sóc thì tinh ranh biết trèo cây, còn sói con chỉ có thể rón rén bò lại gần con mồi mà không để bị phát hiện - và chỉ khi con sóc ấy đang ở trên mặt đất mà thôi.
Sói con dành cho mẹ mình một lòng tôn kính vô cùng sâu sắc. Sói mẹ luôn kiếm được thịt, và chưa một lần quên mang phần về cho nó. Hơn thế nữa, sói mẹ dường như chẳng biết sợ bất cứ điều gì. Sói con không thể nào mường tượng nổi rằng lòng can đảm ấy được tôi luyện từ kinh nghiệm và tri thức. Thứ duy nhất in hằn trong tâm trí nó chính là ấn tượng về Sức Mạnh. Mẹ nó - chính là hiện thân của Sức Mạnh. Và càng lớn lên, nó càng cảm nhận được sức mạnh ấy qua những cú vả chân trước ngày một sắc bén hơn để răn đe; còn cái hích mũi khiển trách ngày nào giờ đã nhường chỗ cho những cú táp răng nanh đau nhói. Chính vì điều đó, sói con tôn trọng mẹ mình. Sói mẹ bắt nó phải phục tùng, và sói con càng lớn bao nhiêu, lòng kiên nhẫn của mẹ lại càng ngắn đi bấy nhiêu.
Nạn đói lại quay về, và lần này, với nhận thức đã sắc bén hơn trước, sói con càng thấm thía đến tận xương tuỷ nỗi giày vò quằn quại của cái đói. Sói mẹ gầy rộc hẳn đi, thân hình hao mòn đến thảm hại vì những cuộc truy lùng thịt bất tận. Nó hầu như chẳng còn ngủ trong hang nữa, suốt ngày dong ruổi trên những lối mòn săn mồi quen thuộc, nhưng lần nào cũng trở về tay trắng. Cơn đói lần này tuy không kéo dài, nhưng lúc nó hoành hành thì dữ dội vô cùng. Sói con chẳng còn tìm được giọt sữa nào trong bầu vú mẹ, mà tự thân nó cũng không sao kiếm nổi một mẩu thịt cho mình.
Ngày trước, nó vẫn coi việc săn mồi như một cuộc dạo chơi, một trò đùa để tận hưởng niềm khoái cảm đơn thuần. Nhưng giờ đây, nó bước vào cuộc săn với một vẻ nghiêm nghị đến chết người, thế rồi cũng chẳng bắt được gì. Ấy vậy mà chính thất bại ấy lại tôi luyện nó. Nó quan sát thói quen của lũ sóc kĩ lưỡng hơn, dốc sức vận dụng tài rình rập để lẻn tới gần rồi bất thần đánh úp con mồi. Nó mổ xẻ tập tính của đám chuột đồng, cố sức đào bới chúng lên khỏi những cái hang sâu hun hút; nó cũng học hỏi được không ít về đường đi nước bước của lũ chim khướu Canada và chim gõ kiến. Để rồi cũng đến một ngày, chiếc bóng của chim ưng sà xuống không còn đủ sức khiến nó phải chui rúc vào lùm cây rậm rạp nữa. Nó đã lớn thêm, khôn ngoan hơn và đầy tự tin. Hơn thế, nó đang tuyệt vọng. Vậy nên nó ung dung ngồi xuống bằng hai chân sau, đường hoàng giữa một khoảnh đất trống, ngang nhiên thách thức chim ưng từ không trung lao xuống. Bởi nó biết, ở trên kia, lơ lửng trong màn trời xanh thăm thẳm, chính là thịt - thứ thịt mà cái dạ dày cồn cào của nó đang gào thét đòi. Nhưng chim ưng khước từ hạ cánh giao chiến, để mặc sói con lết vào một bụi cây, rên ư ử trong thất vọng và cơn đói hành hạ.
Nạn đói đã lùi xa. Sói mẹ tha thịt về hang. Đó là một thứ thịt lạ lùng, chẳng giống bất cứ miếng mồi nào mẹ từng mang về trước đây - một con linh miêu con, đã lớn đôi chút, cỡ bằng sói con nhưng chưa đẫy đà bằng. Và toàn bộ phần thịt ấy là dành riêng cho nó. Mẹ nó đã no bụng ở đâu đó ngoài kia, dẫu nó nào có biết rằng đám linh miêu con còn lại đã yên vị trong dạ dày của mẹ. Nó cũng chẳng hay hành động ấy của mẹ là một canh bạc điên rồ đến nhường nào. Điều duy nhất nó biết, đó là sinh vật bộ lông nhung mềm mượt kia chính là thịt - và nó cứ thế ngấu nghiến, từng miếng cắn tràn đầy một niềm hạnh phúc nguyên sơ.
No căng bụng thì người ta đâm ra uể oải, và sói con nằm lì trong hang, say giấc bên mẹ. Nó bị đánh thức bởi tiếng gầm gừ của mẹ. Chưa bao giờ nó nghe mẹ gầm gừ dữ dội đến thế. Có lẽ trong cả một đời, đó là tiếng gầm ghê rợn nhất mà sói mẹ từng thốt ra. Và điều đó hẳn có lý do chính đáng - chẳng ai thấu tỏ hơn sói mẹ. Ổ của linh miêu mà bị cướp phá tan hoang, thì yên ổn là điều vĩnh viễn không còn nữa. Dưới thứ ánh sáng chói gắt của buổi chiều tà, thu mình nơi cửa hang, sói con trông thấy linh miêu mẹ. Lông dọc sống lưng nó dựng đứng lên ngay khi cảnh tượng ấy đập vào mắt. Nỗi khiếp sợ hiển hiện sờ sờ ra đấy, và chẳng cần đến bản năng mới đủ mách bảo cho nó. Mà nếu chỉ nhìn thôi chưa đủ sức thuyết phục, thì tiếng thét giận dữ của kẻ xâm phạm - khởi đầu là một tiếng gầm trầm đục, rồi đột ngột vút lên thành tiếng rít khàn đặc - đã đủ để dập tắt mọi hồ nghi.
Sói con cảm nhận được thôi thúc mãnh liệt của sự sống trào dâng trong mình, nó đứng thẳng dậy và gầm gừ đầy can đảm bên cạnh mẹ. Nhưng mẹ đã hất nó ra phía sau, dứt khoát và không bàn cãi. Cửa hang vòm thấp khiến linh miêu không thể phóng thẳng vào, và ngay khi nó định lao nhanh qua khe hẹp, sói mẹ đã ập tới đè nghiến nó xuống. Sói con chẳng nhìn thấy được bao nhiêu diễn biến trận chiến. Chỉ có một mớ hỗn mang những tiếng gầm gừ, tiếng khạc nhổ, tiếng tru tréo cuồng nộ. Hai con thú quấn chặt lấy nhau; linh miêu cào xé bằng vuốt và nghiến bằng răng, còn sói mẹ chỉ có mỗi hàm răng làm vũ khí.
Một lần nọ, sói con lao vào, cắm phập hàm răng vào cái chân sau của linh miêu. Nó ghì chặt, gầm gừ man dại. Dù nó không hề hay biết, chính sức nặng cơ thể nó đã ghìm đứng cử động của cái chân kia, và nhờ vậy đã cứu mẹ khỏi thêm bao vết thương. Thế rồi, một cú đảo chiều bất ngờ của cuộc vật lộn đã nghiền nát nó dưới sức nặng của cả hai cơ thể, khiến cú ngoạm của nó bị bật ra. Ngay khoảnh khắc sau đó, hai bà mẹ tách nhau ra - và trước khi kịp lao vào nhau thêm lần nữa, linh miêu đã quật vào sói con bằng cái bàn chân trước to bản, xé toạc vai nó đến tận xương và hất văng nó đập thẳng vào vách hang. Rồi thì, lẫn trong cái mớ âm thanh hỗn độn ấy, vang lên tiếng kêu thất thanh đau đớn và hoảng loạn của sói con. Nhưng trận chiến kéo dài đến mức nó có thừa thời gian để khóc cho thỏa thuê rồi lại bùng lên một đợt can trường thứ hai; và khi cuộc chiến dần khép lại, người ta lại thấy nó đang bám riết lấy cái chân sau kia, gầm gừ hung hãn qua từng kẽ răng.
Linh miêu mẹ đã chết. Nhưng sói mẹ thì rất yếu và tàn tạ. Bà liếm vết thương trên vai sói con, âu yếm nó lúc đầu; nhưng máu đã mất quá nhiều, cuốn phăng toàn bộ sức lực của bà, và suốt một ngày một đêm ròng rã, bà nằm bất động bên xác kẻ thù, gần như không còn thở nữa. Trong cả một tuần sau đó, bà không hề rời hang, ngoại trừ những lần ra suối uống nước - và ngay cả khi ấy, từng cử động của bà đều chậm chạp, nặng trĩu đau đớn. Đến cuối khoảng thời gian ấy, xác con linh miêu đã bị ăn sạch nhẵn, còn những vết thương của sói mẹ cũng đã đủ lành lặn để cho phép bà lên đường săn mồi trở lại.
Bả vai sói con cứng đờ và đau nhói, suốt một thời gian nó phải tập tễnh bước đi vì vết thương nặng nề mà nó đã phải hứng chịu. Thế nhưng lúc này, cả thế giới dường như đã đổi khác. Nó sải bước giữa thế giới ấy với một niềm tự tin lớn lao hơn, với một cảm nhận về sức mạnh mà nó chưa từng nếm trải trong những ngày trước trận tử chiến cùng linh miêu. Nó đã tận mắt chứng kiến cuộc sống ở khía cạnh tàn khốc nhất; nó đã chiến đấu; nó đã cắm sâu nanh vào da thịt kẻ thù; và nó đã sống sót. Chính nhờ tất thảy những điều ấy, nó mang một dáng vẻ bạo dạn hơn, ẩn chứa trong mình một nét thách thức đầy mới mẻ. Nó chẳng còn e sợ những chuyện vặt vãnh, và phần lớn sự rụt rè trong nó đã tan biến, dẫu rằng những điều chưa biết chẳng bao giờ ngừng đè nén nó bằng vô vàn huyền bí và kinh hoàng, vô hình nhưng thường trực mối đe dọa.
Nó bắt đầu sánh bước cùng mẹ trên những lối mòn săn mồi, chứng kiến bao cảnh giết chóc để giành lấy thịt, và dần dần đóng lấy vai trò của chính mình trong đó. Và theo một cách thức mơ hồ của riêng nó, nó đã thấm nhuần luật của thịt3. Có hai loại sự sống - đồng loại của nó, và những loài khác. Đồng loại của nó bao gồm mẹ và chính bản thân nó. Những loài khác bao gồm tất thảy mọi sinh vật sống biết cử động. Nhưng những loài khác ấy lại được chia ra. Một phần là những loài mà đồng loại của nó giết và ăn thịt. Phần này bao gồm những loài không biết giết chóc và những kẻ săn mồi nhỏ. Phần còn lại thì giết và ăn thịt đồng loại của nó, hoặc bị đồng loại của nó giết và ăn thịt. Và từ sự phân loại này, luật lệ đã nảy sinh. Mục đích của sự sống chính là thịt. Bản thân sự sống chính là thịt. Sự sống tồn tại dựa trên sự sống. Có những kẻ ăn và những kẻ bị ăn. Luật lệ ấy là: ĂN THỊT HOẶC BỊ ĂN THỊT4. Nó không gói gọn luật ấy trong những khái niệm rành mạch, rập khuôn hay lên giọng rao giảng về điều đó. Nó thậm chí còn chẳng hề suy nghĩ về luật ấy; nó đơn giản chỉ sống theo luật mà không mảy may tính toán gì về điều đó.
Nó nhìn thấy luật này vận hành ở khắp mọi nơi xung quanh mình. Nó đã từng ăn thịt lũ gà gô con. Chim ưng đã ăn thịt gà gô mẹ. Chim ưng cũng sẽ ăn thịt nó. Về sau, khi đã trở nên đáng gờm hơn, nó lại muốn ăn thịt chim ưng. Nó đã từng ăn thịt linh miêu con. Linh miêu mẹ hẳn đã ăn thịt nó nếu như chính linh miêu mẹ không bị giết và ăn thịt. Và cứ thế, mọi chuyện diễn ra. Luật ấy đang được tất thảy mọi sinh vật sống xung quanh nó thực thi, và bản thân nó là một mảnh ghép không thể tách rời của luật ấy. Nó là một kẻ giết chóc. Thức ăn duy nhất của nó là thịt - loại thịt sống, thứ thịt chạy thục mạng trước mặt nó, hoặc vút bay lên không trung, hoặc trèo lên cây, hoặc ẩn mình dưới lòng đất, hoặc đối mặt và chiến đấu với nó, hay lật ngược thế cờ rồi quay ngoắt lại truy sát nó.
Giả như sói con biết suy nghĩ theo lối của con người, có lẽ nó đã thu gọn cuộc sống như một cơn thèm khát phàm ăn và thế giới là nơi hội tụ của vô vàn những cơn thèm khát ấy - truy đuổi và bị truy đuổi, săn lùng và bị săn lùng, ăn và bị ăn - tất cả diễn ra trong mù quáng và hỗn loạn, trong bạo lực và rối ren, một mớ hỗn độn của sự háu đói và chém giết, bị chi phối bởi tình cờ, tàn nhẫn, không kế hoạch và chẳng bao giờ kết thúc.
Nhưng sói con không suy nghĩ theo cách của con người. Nó không nhìn ngắm vạn vật bằng một tầm mắt bao quát. Nó là một sinh linh đơn mục đích, chỉ nuôi dưỡng duy nhất một ý nghĩ hay một khao khát tại một thời điểm. Ngoài luật của thịt, còn có vô số những luật lệ khác, nhỏ hơn, để nó học hỏi và tuân theo. Thế giới ngập tràn những bất ngờ. Sự khuấy động của sự sống bên trong nó, sự chuyển động của từng thớ cơ, là một niềm hanh phúc vô tận. Chạy đuổi theo miếng thịt là trải nghiệm những cảm giác hồi hộp và say mê. Những cơn cuồng nộ và những trận chiến của nó là những niềm vui thú. Và bản thân nỗi kinh hoàng, cùng sự huyền bí của những điều chưa biết, lại chính là thứ dẫn lối cho nguồn sống trong nó.
Và rồi cũng có những khoảnh khắc thư thái cùng những thỏa mãn êm đềm. Có một chiếc bụng no, được ngủ gà ngủ gật lười biếng dưới ánh mặt trời - những điều như thế là phần thưởng vẹn tròn cho những cuồng nhiệt và những nỗ lực nhọc nhằn của nó, trong khi chính những cuồng nhiệt và nỗ lực ấy cũng đã tự mang lấy phần thưởng cho chính mình. Chúng là sự biểu lộ của sự sống, và sự sống luôn ngập tràn hạnh phúc khi được biểu lộ chính mình. Bởi thế, sói con chẳng có điều gì để oán trách cái môi trường thù nghịch quanh nó. Nó đang sống trọn vẹn, vô cùng hạnh phúc và chan chứa niềm kiêu hãnh về bản thân mình.
-
Gà gô (thường là loài ptarmigan hoặc grouse ở Bắc Mỹ) là loại chim quen thuộc tại vùng ôn đới và đài nguyên, có khả năng đổi màu lông theo mùa để ngụy trang. Đây thường là một trong những con mồi đầu tiên của các loài thú ăn thịt nhỏ, đánh dấu sự khởi đầu bản năng săn mồi của chúng. ↩
-
Chim khướu Canada (Canada jay), còn được người bản địa gọi là 'whiskey jack', là một loài chim vô cùng dạn dĩ và thông minh sống ở rừng taiga Bắc Mỹ. Sự xuất hiện của loài chim này thường đại diện cho những kẻ cơ hội, lanh lợi của tự nhiên, mang lại sự khó chịu nhưng cũng là bài học sinh tồn đầu đời cho thú non. ↩
-
Nguyên bản tiếng Anh là 'the law of meat'. Đây là một triết lý sinh tồn trọng tâm trong các tác phẩm của Jack London. Nó không mang bất kỳ phán xét đạo đức nào của con người về cái thiện hay cái ác, mà thuần túy mô tả sự vận hành tự nhiên, nơi sự sống này tồn tại dựa trên việc tiêu thụ sự sống khác. ↩
-
Dịch từ thành ngữ 'eat or be eaten'. Khẩu hiệu này tóm gọn toàn bộ nguyên lý khốc liệt nhất của tự nhiên. ↩
CHAPTER V THE LAW OF MEAT
The cub’s development was rapid. He rested for two days, and then ventured forth from the cave again. It was on this adventure that he found the young weasel whose mother he had helped eat, and he saw to it that the young weasel went the way of its mother. But on this trip he did not get lost. When he grew tired, he found his way back to the cave and slept. And every day thereafter found him out and ranging a wider area.
He began to get accurate measurement of his strength and his weakness, and to know when to be bold and when to be cautious. He found it expedient to be cautious all the time, except for the rare moments, when, assured of his own intrepidity, he abandoned himself to petty rages and lusts.
He was always a little demon of fury when he chanced upon a stray ptarmigan. Never did he fail to respond savagely to the chatter of the squirrel he had first met on the blasted pine. While the sight of a moose-bird almost invariably put him into the wildest of rages; for he never forgot the peck on the nose he had received from the first of that ilk he encountered.
But there were times when even a moose-bird failed to affect him, and those were times when he felt himself to be in danger from some other prowling meat hunter. He never forgot the hawk, and its moving shadow always sent him crouching into the nearest thicket. He no longer sprawled and straddled, and already he was developing the gait of his mother, slinking and furtive, apparently without exertion, yet sliding along with a swiftness that was as deceptive as it was imperceptible.
In the matter of meat, his luck had been all in the beginning. The seven ptarmigan chicks and the baby weasel represented the sum of his killings. His desire to kill strengthened with the days, and he cherished hungry ambitions for the squirrel that chattered so volubly and always informed all wild creatures that the wolf-cub was approaching. But as birds flew in the air, squirrels could climb trees, and the cub could only try to crawl unobserved upon the squirrel when it was on the ground.
The cub entertained a great respect for his mother. She could get meat, and she never failed to bring him his share. Further, she was unafraid of things. It did not occur to him that this fearlessness was founded upon experience and knowledge. Its effect on him was that of an impression of power. His mother represented power; and as he grew older he felt this power in the sharper admonishment of her paw; while the reproving nudge of her nose gave place to the slash of her fangs. For this, likewise, he respected his mother. She compelled obedience from him, and the older he grew the shorter grew her temper.
Famine came again, and the cub with clearer consciousness knew once more the bite of hunger. The she-wolf ran herself thin in the quest for meat. She rarely slept any more in the cave, spending most of her time on the meat-trail, and spending it vainly. This famine was not a long one, but it was severe while it lasted. The cub found no more milk in his mother’s breast, nor did he get one mouthful of meat for himself.
Before, he had hunted in play, for the sheer joyousness of it; now he hunted in deadly earnestness, and found nothing. Yet the failure of it accelerated his development. He studied the habits of the squirrel with greater carefulness, and strove with greater craft to steal upon it and surprise it. He studied the wood-mice and tried to dig them out of their burrows; and he learned much about the ways of moose-birds and woodpeckers. And there came a day when the hawk’s shadow did not drive him crouching into the bushes. He had grown stronger and wiser, and more confident. Also, he was desperate. So he sat on his haunches, conspicuously in an open space, and challenged the hawk down out of the sky. For he knew that there, floating in the blue above him, was meat, the meat his stomach yearned after so insistently. But the hawk refused to come down and give battle, and the cub crawled away into a thicket and whimpered his disappointment and hunger.
The famine broke. The she-wolf brought home meat. It was strange meat, different from any she had ever brought before. It was a lynx kitten, partly grown, like the cub, but not so large. And it was all for him. His mother had satisfied her hunger elsewhere; though he did not know that it was the rest of the lynx litter that had gone to satisfy her. Nor did he know the desperateness of her deed. He knew only that the velvet-furred kitten was meat, and he ate and waxed happier with every mouthful.
A full stomach conduces to inaction, and the cub lay in the cave, sleeping against his mother’s side. He was aroused by her snarling. Never had he heard her snarl so terribly. Possibly in her whole life it was the most terrible snarl she ever gave. There was reason for it, and none knew it better than she. A lynx’s lair is not despoiled with impunity. In the full glare of the afternoon light, crouching in the entrance of the cave, the cub saw the lynx-mother. The hair rippled up along his back at the sight. Here was fear, and it did not require his instinct to tell him of it. And if sight alone were not sufficient, the cry of rage the intruder gave, beginning with a snarl and rushing abruptly upward into a hoarse screech, was convincing enough in itself.
The cub felt the prod of the life that was in him, and stood up and snarled valiantly by his mother’s side. But she thrust him ignominiously away and behind her. Because of the low-roofed entrance the lynx could not leap in, and when she made a crawling rush of it the she-wolf sprang upon her and pinned her down. The cub saw little of the battle. There was a tremendous snarling and spitting and screeching. The two animals threshed about, the lynx ripping and tearing with her claws and using her teeth as well, while the she-wolf used her teeth alone.
Once, the cub sprang in and sank his teeth into the hind leg of the lynx. He clung on, growling savagely. Though he did not know it, by the weight of his body he clogged the action of the leg and thereby saved his mother much damage. A change in the battle crushed him under both their bodies and wrenched loose his hold. The next moment the two mothers separated, and, before they rushed together again, the lynx lashed out at the cub with a huge fore-paw that ripped his shoulder open to the bone and sent him hurtling sidewise against the wall. Then was added to the uproar the cub’s shrill yelp of pain and fright. But the fight lasted so long that he had time to cry himself out and to experience a second burst of courage; and the end of the battle found him again clinging to a hind-leg and furiously growling between his teeth.
The lynx was dead. But the she-wolf was very weak and sick. At first she caressed the cub and licked his wounded shoulder; but the blood she had lost had taken with it her strength, and for all of a day and a night she lay by her dead foe’s side, without movement, scarcely breathing. For a week she never left the cave, except for water, and then her movements were slow and painful. At the end of that time the lynx was devoured, while the she-wolf’s wounds had healed sufficiently to permit her to take the meat-trail again.
The cub’s shoulder was stiff and sore, and for some time he limped from the terrible slash he had received. But the world now seemed changed. He went about in it with greater confidence, with a feeling of prowess that had not been his in the days before the battle with the lynx. He had looked upon life in a more ferocious aspect; he had fought; he had buried his teeth in the flesh of a foe; and he had survived. And because of all this, he carried himself more boldly, with a touch of defiance that was new in him. He was no longer afraid of minor things, and much of his timidity had vanished, though the unknown never ceased to press upon him with its mysteries and terrors, intangible and ever-menacing.
He began to accompany his mother on the meat-trail, and he saw much of the killing of meat and began to play his part in it. And in his own dim way he learned the law of meat. There were two kinds of life-his own kind and the other kind. His own kind included his mother and himself. The other kind included all live things that moved. But the other kind was divided. One portion was what his own kind killed and ate. This portion was composed of the non-killers and the small killers. The other portion killed and ate his own kind, or was killed and eaten by his own kind. And out of this classification arose the law. The aim of life was meat. Life itself was meat. Life lived on life. There were the eaters and the eaten. The law was: EAT OR BE EATEN. He did not formulate the law in clear, set terms and moralise about it. He did not even think the law; he merely lived the law without thinking about it at all.
He saw the law operating around him on every side. He had eaten the ptarmigan chicks. The hawk had eaten the ptarmigan-mother. The hawk would also have eaten him. Later, when he had grown more formidable, he wanted to eat the hawk. He had eaten the lynx kitten. The lynx-mother would have eaten him had she not herself been killed and eaten. And so it went. The law was being lived about him by all live things, and he himself was part and parcel of the law. He was a killer. His only food was meat, live meat, that ran away swiftly before him, or flew into the air, or climbed trees, or hid in the ground, or faced him and fought with him, or turned the tables and ran after him.
Had the cub thought in man-fashion, he might have epitomised life as a voracious appetite and the world as a place wherein ranged a multitude of appetites, pursuing and being pursued, hunting and being hunted, eating and being eaten, all in blindness and confusion, with violence and disorder, a chaos of gluttony and slaughter, ruled over by chance, merciless, planless, endless.
But the cub did not think in man-fashion. He did not look at things with wide vision. He was single-purposed, and entertained but one thought or desire at a time. Besides the law of meat, there were a myriad other and lesser laws for him to learn and obey. The world was filled with surprise. The stir of the life that was in him, the play of his muscles, was an unending happiness. To run down meat was to experience thrills and elations. His rages and battles were pleasures. Terror itself, and the mystery of the unknown, led to his living.
And there were easements and satisfactions. To have a full stomach, to doze lazily in the sunshine-such things were remuneration in full for his ardours and toils, while his ardours and tolls were in themselves self-remunerative. They were expressions of life, and life is always happy when it is expressing itself. So the cub had no quarrel with his hostile environment. He was very much alive, very happy, and very proud of himself.