CHƯƠNG I.

Tôi vốn là người Geneva. Gia đình tôi xưa nay vẫn thuộc hàng danh gia vọng tộc bậc nhất của nền cộng hòa này1. Tổ tiên tôi bao đời từng giữ chức ủy viên hội đồng và thẩm phán. Cha tôi cũng gánh vác nhiều trọng trách quốc gia, mang về không ít danh dự và uy tín. Sự chính trực cùng tinh thần tận tụy không mệt mỏi vì việc chung của ông khiến bất cứ ai quen biết đều đem lòng kính trọng. Thuở thanh xuân, ông mải miết cống hiến cho đất nước. Mãi đến khi bước sang tuổi xế chiều, cha tôi mới nghĩ đến chuyện lập gia thất, mong sao sinh được những người con trai nối nghiệp, gìn giữ tiếng thơm và những đức tính cao đẹp cho mai sau.

Những sự kiện xoay quanh cuộc hôn nhân này khắc họa phần nào tính cách của cha tôi, vì vậy tôi không thể không nhắc đến. Ông có một người bạn tâm giao là thương gia. Người này đang sống trong cảnh phồn vinh, bỗng chốc vì bao biến cố rủi ro mà sa sút đến cùng cực. Ông tên là Beaufort. Vốn mang bản tính kiêu hãnh và bất khuất, Beaufort không thể cam chịu cảnh bần hàn, bị lãng quên ngay trên chính mảnh đất mà mình từng vang danh nhờ tiền tài và địa vị. Bởi thế, sau khi thanh toán mọi khoản nợ một cách sòng phẳng nhất, ông mang theo con gái lui về thị trấn Lucerne, sống nương mình trong bóng tối và sự bần cùng. Cha tôi vốn dành cho Beaufort một tình bạn chân thành nhất. Sự ra đi của bạn giữa cơn bĩ cực khiến ông vô cùng đau xót. Xót xa vì mất đi một tri kỷ, ông quyết tâm lặn lội tìm Beaufort. Ông muốn thuyết phục bạn làm lại từ đầu, dựa vào uy tín và sự nâng đỡ của chính mình.

Beaufort đã tìm mọi cách xóa sạch dấu vết. Phải mất mười tháng ròng rã, cha tôi mới dò ra tung tích của bạn. Vui mừng khôn xiết, ông tức tốc tìm đến căn nhà nằm trên một con phố tồi tàn bên bờ sông Reuss. Nào ngờ khi bước vào, đón chờ ông chỉ còn là sự khốn cùng và tuyệt vọng. Từ đống tro tàn của gia sản, Beaufort chỉ vớt vát được một số tiền còm cõi. Chút tiền ấy chỉ đủ lo miếng ăn trong vài tháng ngắn ngủi. Ông từng hy vọng trong khoảng thời gian đó sẽ xin được một công việc tử tế tại một nhà buôn. Đáng buồn thay, những ngày tháng ấy lại trôi qua trong sự trì trệ. Càng có nhiều thời gian ngẫm nghĩ, nỗi đau trong ông càng khoét sâu thêm, gặm nhấm linh hồn ông. Cuối cùng, nỗi uất ức ấy vắt kiệt tâm trí ông. Chỉ sau ba tháng, Beaufort đổ bệnh, nằm liệt giường, không còn chút sức lực nào để gượng dậy nữa.

Con gái ông đã chăm sóc cha bằng tất cả sự dịu dàng. Nhưng rồi cô dần chìm trong tuyệt vọng khi thấy số tiền ít ỏi cứ vơi đi nhanh chóng, trong khi chẳng còn một tia hy vọng nào để bấu víu. Thế nhưng, Caroline Beaufort lại sở hữu một nghị lực phi thường. Lòng can đảm trong cô bừng tỉnh, vực cô dậy giữa nghịch cảnh trớ trêu. Cô nhận làm những công việc may vá lặt vặt. Cô tết rơm. Bằng đủ mọi cách, cô vất vả chắt mót từng đồng tiền công ít ỏi, cốt sao lay lắt qua ngày.

Nhiều tháng trời cứ thế trôi đi. Bệnh tình cha cô ngày một trầm trọng. Cô phải túc trực bên ông không rời nửa bước. Của nả trong nhà cứ thế cạn kiệt. Đến tháng thứ mười, cha cô trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay cô. Giờ đây, cô chỉ còn là một kẻ mồ côi, nghèo rớt mồng tơi. Cú sốc cuối cùng này đã đánh gục Caroline. Giữa lúc cô đang quỳ gục bên linh cữu của Beaufort, khóc than thảm thiết, thì cha tôi bước vào phòng. Ông xuất hiện tựa như một vị thần hộ mệnh chở che cho cô gái tội nghiệp. Cô đã phó thác đời mình cho sự chăm sóc của ông. Sau khi lo liệu xong hậu sự cho bạn, ông đưa cô về Geneva, gửi gắm cho một người họ hàng che chở. Hai năm sau biến cố ấy, Caroline trở thành vợ ông.

Khi trở thành một người chồng, người cha, cha tôi nhận ra những nghĩa vụ gia đình mới mẻ đã chiếm trọn quỹ thời gian của ông. Ông quyết định gác lại nhiều công việc xã hội để dồn hết tâm huyết vào việc giáo dục con cái. Là con trai cả, tôi mang trong mình kỳ vọng sẽ kế thừa mọi tâm sức và lý tưởng cống hiến của ông. Trên đời này, có lẽ chẳng một sinh linh nào may mắn có được hai đấng sinh thành đong đầy tình yêu thương và sự dịu dàng đến vậy. Từng bước trưởng thành và sức khỏe của tôi luôn là mối bận tâm lớn nhất của cha mẹ, nhất là khi suốt nhiều năm ròng rã, tôi là đứa con duy nhất của họ. Thế nhưng, trước khi dòng hồi tưởng này đi xa hơn, tôi phải kể lại một sự kiện xảy ra vào năm tôi lên bốn tuổi.

Cha tôi có một người em gái mà ông hết mực thương yêu. Cô sớm kết hôn với một quý ngài người Ý và theo chồng về quê hương của ông ngay sau lễ cưới. Suốt nhiều năm trời, cha tôi gần như bặt tin cô. Đúng vào khoảng thời gian tôi vừa nhắc đến, người cô ấy qua đời. Vài tháng sau, cha tôi nhận được một bức thư từ người em rể, báo tin rằng ông ta có ý định đi bước nữa với một quý bà người Ý. Ông ngỏ ý nhờ cha tôi nhận nuôi bé Elizabeth, giọt máu duy nhất của người em gái quá cố. “Tôi tha thiết mong rằng,” ông viết trong thư, “anh sẽ xem con bé như con gái ruột của mình và nuôi dạy nó nên người. Gia tài thừa kế từ mẹ nó đã được bảo đảm an toàn, và tôi sẽ trao lại những giấy tờ đó cho anh cất giữ. Xin anh hãy suy nghĩ về lời thỉnh cầu này. Quyết định nằm ở anh: tự tay nuôi nấng, dạy dỗ cháu gái mình, hay để nó lớn lên dưới bàn tay của một người mẹ kế.”

Chẳng chút đắn đo, cha tôi lập tức lặn lội sang tận nước Ý để đón bé Elizabeth về mái nhà tương lai của em. Tôi thường nghe mẹ kể lại rằng, ngay từ thuở ấy, em đã là đứa trẻ xinh xắn nhất mà mẹ từng gặp, toát lên một bản tính dịu dàng và đong đầy tình yêu thương. Những phẩm chất tuyệt vời ấy, cộng với khao khát thắt chặt hơn nữa sợi dây tình cảm gia đình, đã nhen nhóm trong lòng mẹ tôi ý định biến Elizabeth thành người vợ tương lai của tôi; một dự định mà cho đến tận cuối đời, mẹ chưa bao giờ phải hối tiếc.

Kể từ dạo đó, Elizabeth Lavenza trở thành người bạn đồng hành bên tôi trong những trò chơi con trẻ, và khi chúng tôi lớn lên, em là người tri kỷ gắn bó nhất đời tôi. Em ngoan ngoãn và hiền hòa, nhưng cũng vui tươi và rạng rỡ như một sinh linh nhỏ bé đang nhảy múa giữa ngày hè. Tuy hoạt bát và tràn đầy sức sống, tình cảm nơi em lại vô cùng sâu sắc, mãnh liệt, hòa cùng một trái tim chan chứa yêu thương. Chẳng ai tận hưởng sự tự do trọn vẹn hơn em, nhưng cũng chẳng ai biết cách thuận theo những khuôn phép, lề thói một cách duyên dáng và nhẹ nhàng đến thế. Trí tưởng tượng của em phong phú bay bổng, song khả năng tập trung lại vô cùng đáng nể. Ngoại hình của em như một tấm gương phản chiếu chính tâm hồn: đôi mắt màu hạt dẻ tinh anh như mắt chim, nhưng lại toát lên một vẻ mềm mại đến đắm say. Vóc dáng em thanh tú, nhẹ nhàng; dù mang trong mình một sức chịu đựng bền bỉ phi thường, em lại trông như sinh linh mỏng manh nhất thế gian. Nếu tôi ngưỡng mộ trí tuệ và tâm hồn mộng mơ của em, thì tôi cũng yêu thích việc chở che, chăm sóc em như một báu vật nhỏ bé. Chưa bao giờ tôi thấy sự duyên dáng toát ra từ diện mạo lẫn tâm hồn lại có thể hòa quyện hoàn hảo với đức tính khiêm nhường đến vậy.

Ai nấy đều yêu mến Elizabeth. Bất cứ khi nào những người hầu trong nhà có lời thỉnh cầu, họ luôn nhờ đến sự can thiệp của em. Giữa hai chúng tôi chưa từng tồn tại khái niệm của sự chia rẽ hay những cuộc cãi vã. Bởi lẽ, dẫu tính cách có nhiều nét đối lập, chúng tôi lại tìm thấy sự hòa hợp tuyệt đối ngay trong chính sự khác biệt ấy. Tôi điềm tĩnh và có phần lý trí hơn người bạn đồng hành của mình, nhưng tính khí lại chẳng dễ dàng nhượng bộ. Sự kiên định của tôi bền bỉ hơn, nhưng không vì thế mà trở nên quá đỗi khắc nghiệt khi vẫn nằm trong giới hạn của sự chịu đựng. Tôi say mê khám phá những chân lý thuộc về thế giới thực tại; còn em lại mải miết chạy theo những áng mây mộng mơ qua những vần thơ. Với tôi, thế giới là một bức màn bí ẩn mà tôi luôn khao khát vén lên; còn với em, thế giới là một khoảng không vô tận để em tự do lấp đầy bằng muôn vàn sắc màu của trí tưởng tượng.

Các em trai tôi đều nhỏ hơn tôi khá nhiều, nhưng bù lại, tôi có một tri kỷ nơi học đường, người đã lấp đầy khoảng trống ấy. Henry Clerval, con trai một thương gia ở Geneva và là bạn thâm giao của cha tôi, mang trong mình tài năng và trí tưởng tượng xuất chúng. Tôi vẫn nhớ như in ngày lên chín, cậu ấy đã chấp bút viết nên một câu chuyện thần tiên, khiến đám bạn chúng tôi phải kinh ngạc và thích thú. Niềm say mê lớn nhất của cậu là những trang sách về tinh thần hiệp sĩ và những thiên tình sử lãng mạn. Ngay từ khi còn rất nhỏ, chúng tôi đã say sưa diễn lại các vở kịch do cậu phóng tác từ những cuốn sách yêu thích ấy, hóa thân thành những nhân vật lừng danh như Orlando, Robin Hood, Amadis và St. George.

Có lẽ trên thế gian này, hiếm có chàng trai nào được tận hưởng một thời niên thiếu ngập tràn hạnh phúc như tôi. Cha mẹ tôi luôn bao dung độ lượng, còn những người bạn đồng hành thì vô cùng đáng yêu. Chuyện học hành chưa bao giờ là sự ép uổng; thay vào đó, chúng tôi luôn được gợi mở những mục tiêu thú vị, thổi bùng lên niềm say mê mãnh liệt trên con đường theo đuổi tri thức. Chính nhờ phương pháp giáo dục ấy, chứ không phải áp lực ganh đua, đã thôi thúc chúng tôi dốc lòng học hỏi. Elizabeth không miệt mài với cọ vẽ vì sợ kém cạnh bạn bè, mà em vẽ vì khao khát mang lại niềm vui cho người dì, tự tay lưu giữ lại một khung cảnh mà dì hằng yêu mến. Chúng tôi học tiếng Latinh và tiếng Anh để tự mình chiêm nghiệm những tuyệt tác nguyên bản. Việc học chưa bao giờ trở nên đáng ghét hay gắn liền với đòn roi trừng phạt; trái lại, chúng tôi tìm thấy niềm vui trong sự say sưa chú tâm, và những điều làm chúng tôi say đắm có lẽ lại là công việc nhọc nhằn đối với bao đứa trẻ khác. Dẫu không vùi đầu vào quá nhiều sách vở, cũng chẳng nắm bắt ngôn ngữ nhanh nhạy như những người được nhào nặn theo khuôn mẫu thông thường, nhưng mọi kiến thức thu nhận được đều in hằn sâu sắc trong tâm trí chúng tôi.

Khi khắc họa lại bức tranh êm đềm của gia đình, tôi không thể không nhắc đến Henry Clerval, bởi cậu ấy như một phần máu thịt, luôn hiện diện cạnh bên. Cậu đến trường cùng tôi và thường xuyên nán lại nhà tôi vào mỗi buổi chiều. Vốn là con một, chẳng có anh em bầu bạn, cha cậu rất đỗi vui mừng khi thấy con trai tìm được những người bạn đồng hành tuyệt vời dưới mái nhà tôi. Và với chúng tôi, niềm vui sẽ chẳng bao giờ trọn vẹn nếu vắng đi hình bóng của Clerval.

Lòng tôi dâng lên một niềm an ủi ngọt ngào mỗi khi đắm mình vào những ký ức tuổi thơ, tìm về khoảng thời gian trước lúc nỗi bất hạnh buông bức màn tăm tối lên tâm trí, biến những khát vọng cống hiến rực rỡ trở thành muôn vàn trăn trở u sầu, quẩn quanh nơi cái ngã chật hẹp. Dẫu vậy, khi lần theo những nét phác họa của buổi bình minh cuộc đời, tôi chẳng thể nào bỏ qua các sự kiện đã âm thầm lót đường dẫn lối, từng bước vô hình đưa đẩy tôi vào tấn bi kịch về sau. Bởi lẽ, khi cố lý giải căn nguyên của niềm đam mê mãnh liệt đã thao túng định mệnh đời mình, tôi chợt nhận ra nó vốn chỉ là một mạch nước ngầm bé nhỏ, tưởng chừng đã rơi vào quên lãng giữa chốn hoang vu; thế nhưng, qua thời gian, nó đã cuồn cuộn trào dâng thành dòng thác lũ, cuốn phăng mọi hy vọng và niềm vui trên đường đi của nó.

Triết học tự nhiên chính là thiên thần hộ mệnh đã định đoạt số phận đời tôi. Vì thế, trong lời tự thuật này, tôi khao khát được tỏ bày những căn nguyên đã khơi dậy lòng say mê khoa học ấy. Năm mười ba tuổi, gia đình chúng tôi rủ nhau đi dã ngoại đến các nhà tắm thiên nhiên gần Thonon. Tiết trời khắc nghiệt đã giam lỏng cả nhà một ngày ròng trong quán trọ. Ngay tại nơi này, tôi tình cờ bắt gặp tuyển tập các tác phẩm của Cornelius Agrippa2. Ban đầu, tôi mở sách ra với sự hờ hững; thế nhưng, những lý thuyết mà ông nỗ lực chứng minh cùng vô vàn sự thật kỳ diệu được khắc họa trong đó đã nhanh chóng thổi bùng lên ngọn lửa nhiệt huyết khôn nguôi. Một luồng sáng mới mẻ tựa hồ vừa ló rạng soi chiếu tâm trí, khiến tôi mừng rỡ khôn tả và lập tức mang phát hiện vĩ đại này đi khoe với cha. Dừng lại nơi đây, tôi không khỏi buông lời trách móc trước vô vàn cơ hội bị bỏ lỡ của những người thầy, những người đáng lẽ đã có thể khéo léo dẫn dắt sự chú ý của học trò vào những tri thức đích thực. Cha tôi chỉ hờ hững liếc qua trang bìa rồi cất giọng: "Chà! Cornelius Agrippa! Victor con yêu, đừng lãng phí thời gian vào thứ này; nó chỉ là mớ rác rưởi thảm hại."

Giả sử, thay vì buông lời phán xét qua loa ấy, cha tôi chịu khó phân tích cho tôi hiểu rằng những giáo lý của Agrippa đã hoàn toàn bị lật đổ. Giả sử ông chỉ cho tôi thấy một hệ thống khoa học hiện đại đã vươn lên thay thế, mang trong mình sức mạnh vô song vượt xa nền tảng cổ đại kia; bởi lẽ những thứ thuộc về thời xưa cũ chỉ là ảo vọng xa vời, trong khi kỷ nguyên mới lại ngập tràn thực tế và tính ứng dụng. Nếu được như vậy, hẳn tôi đã dứt khoát ném Agrippa sang một bên, và với một trí tưởng tượng đang hừng hực lửa đam mê, tôi đã vùi mình vào những lý thuyết hóa học duy lý hơn được sinh ra từ những thành tựu của thời đại mới. Thậm chí, rất có thể luồng tư tưởng của tôi sẽ vĩnh viễn không bao giờ phải đón nhận cú hích chí mạng dẫn đến sự diệt vong của chính mình. Khốn nỗi, cái nhìn thờ ơ của cha chẳng thể mảy may thuyết phục tôi rằng ông thực sự thấu hiểu nội dung cuốn sách. Thế là, tôi lại lao vào ngấu nghiến từng trang với một niềm say sưa tột độ.

Vừa đặt chân về nhà, điều đầu tiên tôi làm là săn lùng trọn bộ tác phẩm của vị tác giả nọ, rồi sau đó lùng sục luôn cả những di cảo của Paracelsus và Albertus Magnus3. Tôi ngấu nghiến và nghiền ngẫm những ảo vọng ngông cuồng của họ với một sự say mê khó tả. Những trang sách ấy hiện lên rực rỡ như một kho báu bí ẩn mà hiếm ai trên đời thấu suốt ngoài tôi. Đã không ít lần tôi khao khát được san sẻ thứ tri thức nhiệm màu này với cha, nhưng sự khinh miệt mập mờ mà ông dành cho thần tượng Agrippa luôn là rào cản ngăn bước. Cuối cùng, tôi đành trút bầu tâm sự với Elizabeth, không quên dặn dò em phải giữ kín bí mật. Đáng buồn thay, em lại chẳng mảy may hứng thú với những điều huyền bí ấy, để mặc tôi đơn độc dò dẫm trên con đường nghiên cứu của riêng mình.

Thật kỳ lạ khi một kẻ sùng bái Albertus Magnus lại ngang nhiên tồn tại giữa thế kỷ mười tám này. Thế nhưng, vốn dĩ gia đình tôi không mang nặng truyền thống khoa học, và bản thân tôi cũng chưa từng dự một bài giảng nào ở các trường học tại Geneva. Nhờ vậy, những giấc mộng viển vông của tôi không hề bị thực tại trần trụi đánh thức; và tôi lao vào cuộc săn lùng Hòn đá Phù thủy cùng thuốc trường sinh4 với một sự miệt mài đáng sợ. Trong số đó, mục tiêu thứ hai mới thực sự chiếm trọn tâm trí tôi. Của cải, suy cho cùng, cũng chỉ là thứ mưu cầu tầm thường. Nhưng, vinh quang nào có thể sánh kịp với thành tựu vĩ đại này, nếu tôi thành công đánh đuổi bạo bệnh khỏi cơ thể con người, và ban cho nhân loại đặc ân bất tử trước mọi tai ương, ngoại trừ cái chết do bạo lực!

Chẳng dừng lại ở đó, tôi còn mang trong mình những viễn cảnh điên rồ hơn. Việc gọi hồn và sai khiến ác quỷ là một lời hứa hẹn được những tác giả yêu thích của tôi hào phóng ban tặng, cũng chính là điều tôi khao khát ứng nghiệm nhất. Thỉnh thoảng, những câu thần chú chẳng thể phát huy tác dụng, tôi lại tự nhủ rằng thất bại ấy phần lớn bắt nguồn từ sự ngu muội và thiếu kinh nghiệm của bản thân, chứ tuyệt nhiên không phải do sự non kém hay dối trá từ những người thầy vĩ đại.

Ngay cả những hiện tượng tự nhiên diễn ra rành rành mỗi ngày cũng không thoát khỏi ánh mắt soi mói của tôi. Quá trình chưng cất cùng những công năng kỳ diệu của hơi nước - những thứ mà các bậc tiền bối tôi sùng bái chưa từng biết đến - đã làm dấy lên trong tôi sự ngỡ ngàng tột độ. Tuy nhiên, sự kinh ngạc đến bàng hoàng lại ập đến khi tôi chứng kiến một vài thí nghiệm với chiếc máy bơm không khí do một quý ngài, người mà chúng tôi vẫn thường lui tới thăm hỏi, thực hiện.

Sự yếu kém của các triết gia thuở hồng hoang trước những hiện tượng này, cùng vô vàn thiếu sót khác, đã làm phai nhạt phần nào lòng tôn kính của tôi dành cho họ. Dù vậy, tôi vẫn không sao đoạn tuyệt hoàn toàn với những ảo tưởng xa xưa, chừng nào tâm trí này chưa tìm được một hệ thống học thuật mới mẻ hơn để thế chỗ.

Năm tôi chừng mười lăm tuổi, gia đình lui về nghỉ ngơi tại căn nhà ở ngoại ô Belrive. Chính tại nơi đây, tôi đã tận mắt chứng kiến một trận cuồng phong dữ dội và hãi hùng nhất. Cơn bão đen đặc kéo đến từ đằng sau dãy Jura; sấm chớp rạch ngang dọc, nổ tung vang rền khắp các nẻo trời. Xuyên suốt trận bão dông, tôi vẫn đứng sừng sững, đắm chìm quan sát sự phẫn nộ của thiên nhiên với niềm tò mò và say mê đến lạ. Đứng ngay trước bậu cửa, tôi chợt thấy một luồng hỏa lòa phóng thẳng xuống cây sồi cổ thụ tuyệt đẹp cách nhà chừng hai mươi thước; và ngay khi ánh sáng chói lòa ấy vụt tắt, cây sồi đã biến mất không tăm tích, chỉ còn trơ lại một thân gốc đen ngòm. Sáng hôm sau, khi chúng tôi tản bộ đến xem, thân cây đã nát vụn một cách dị thường. Nó không hề bị bẻ gãy do lực va đập, mà tước vụn ra thành từng dải gỗ mỏng tang. Cả đời tôi chưa từng thấy thứ gì bị hủy diệt tàn khốc đến nhường ấy.

Sự tàn phá giáng xuống gốc sồi đã kích thích trí tò mò ngạc nhiên tột độ trong tôi. Tôi háo hức dò hỏi cha về bản chất và nguồn gốc của sấm chớp. "Là điện học, con ạ," cha ôn tồn đáp lời, rồi miêu tả muôn vàn sức mạnh kỳ diệu của thứ năng lượng này. Ông tự tay chế tạo một cỗ máy điện nhỏ để làm vài thí nghiệm cho tôi xem; thậm chí ông còn thả một con diều bằng dây bện và dây kim loại để dẫn dụ thứ chất lỏng sấm sét ấy từ trên những tầng mây bay xuống.

Cú giáng tử huyệt ấy đã hoàn toàn đánh sập đế chế của những Cornelius Agrippa, Albertus Magnus hay Paracelsus - những kẻ từng một thời ngự trị trong tâm trí mộng mơ của tôi. Thế nhưng, tựa như một sự an bài của định mệnh, tôi chẳng màng đoái hoài tới việc dấn thân nghiên cứu những hệ thống lý thuyết tân tiến. Sự thờ ơ ấy một phần cũng bắt nguồn từ một biến cố sau đó.

Cha ngỏ ý muốn tôi đăng ký một khóa học về triết học tự nhiên5, và tôi cũng hoan hỉ vâng lời. Nhưng vài sự cố ngoài ý muốn đã cản bước tôi tới lớp, mãi cho đến khi khóa học ấy sắp sửa tàn. Kết cục là, tôi chẳng hiểu lấy một chữ nào trong những buổi học cuối cùng ấy. Vị giáo sư đứng bục giảng giải một cách trơn tru, say sưa về kali và bo, về sunfat rồi oxit - những thuật ngữ mà đầu óc tôi chẳng thể nào mường tượng nổi; để rồi, tôi đâm ra chán ghét cái thứ khoa học mang tên triết học tự nhiên ấy. Dù vậy, tôi vẫn say sưa gặm nhấm những trang sách của Pliny và Buffon6, bởi theo đánh giá của tôi, những tác giả này mang đến những chân lý thú vị và hữu ích không kém.

Mối bận tâm của tôi ở lứa tuổi ấy chủ yếu là toán học cùng hầu hết các phân nhánh thuộc về nó. Tôi vùi mình vào việc học ngoại ngữ; tiếng Latinh dần trở nên quen thuộc, và tôi có thể nghiền ngẫm những tác giả Hy Lạp vỡ lòng mà chẳng cần nhờ cậy đến từ điển. Tôi cũng hoàn toàn thông thạo tiếng Anh lẫn tiếng Đức. Đó là bảng vàng thành tích của tôi khi bước sang tuổi mười bảy; anh Walton, hẳn anh có thể hình dung ra cảnh tượng tôi đã đốt trọn thời gian của mình để hấp thu và duy trì kho tàng tri thức về nền văn chương đa dạng nhường ấy.

Một trọng trách khác cũng được đặt lên vai tôi, ấy là trở thành người thầy dìu dắt cho các em trai của mình. Ernest nhỏ hơn tôi sáu tuổi, và cũng là cậu học trò thân cận nhất. Từ thuở lọt lòng, thằng bé đã bị bệnh tật hành hạ quắt queo, và trong suốt quãng thời gian ấy, Elizabeth cùng tôi nghiễm nhiên trở thành những y tá kề cận túc trực. Em mang bản tính hiền hòa, nhưng thể trạng yếu ớt không cho phép em gồng gánh những bài rèn luyện khắc nghiệt. Còn William, cậu em út của gia đình, bấy giờ vẫn đương tuổi ẵm ngửa, lại là đứa trẻ kháu khỉnh và xinh xắn nhất trần đời. Cặp mắt xanh biếc lấp lánh sự sống, đôi má lúm đồng tiền rạng rỡ cùng phong thái ngoan ngoãn đáng yêu của em đã khơi dậy trong chúng tôi một suối nguồn yêu thương dịu dàng đến vô ngần.

Đó chính là mái ấm gia đình của chúng tôi, nơi chốn mà mọi phiền muộn và thương đau tưởng chừng đã bị lưu đày đến miền xa thẳm vô tận. Cha vạch ra đường hướng học vấn cho anh em tôi, còn mẹ thì san sẻ từng nỗi vui buồn bé mọn. Không một ai trong nhà cậy quyền ưu việt hơn người khác; những lời quát mắng mang tính ra lệnh chưa bao giờ vang lên dưới mái nhà này. Sợi dây gắn kết yêu thương là thứ duy nhất níu giữ để tất thảy chúng tôi tự nguyện thuận theo những ước nguyện dẫu là nhỏ nhặt nhất của nhau.




  1. Ám chỉ Cộng hòa Geneva. Vào thế kỷ 18, Geneva là một quốc gia cộng hòa độc lập hùng mạnh với chính thể riêng trước khi sáp nhập vào Liên bang Thụy Sĩ như hiện nay. 

  2. Heinrich Cornelius Agrippa (1486-1535) là một học giả người Đức thời Phục hưng. Những nghiên cứu của ông tập trung vào ma thuật và thuật giả kim, những điều mà nền khoa học hiện đại thế kỷ 18 coi là hoang đường và vô giá trị. 

  3. Hai nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn trong lịch sử giả kim thuật. Việc Victor sùng bái họ cho thấy cậu đang lạc lối vào các mục tiêu huyền bí (như tìm kiếm phép màu), đi ngược lại hệ thống khoa học thực nghiệm đề cao tính lý trí mà cha cậu mong muốn. 

  4. Hai mục tiêu tối thượng của thuật giả kim (alchemy). Hòn đá Phù thủy (hay Hòn đá Triết gia - Philosopher's stone) được tin là có khả năng luyện kim loại thường thành vàng, đồng thời là nguyên liệu thiết yếu để chế tạo thuốc trường sinh bất lão. 

  5. Thuật ngữ (nguyên gốc: natural philosophy) được dùng phổ biến trước thế kỷ 19 để chỉ công việc nghiên cứu khoa học tự nhiên (vật lý, hóa học, sinh học). Thời bấy giờ, các ngành khoa học này chưa phân tách rõ ràng và vẫn được coi là một nhánh của triết học. 

  6. Pliny the Elder (học giả La Mã cổ đại) và Bá tước de Buffon (nhà tự nhiên học Pháp thế kỷ 18). Họ đại diện cho trường phái khoa học chuyên quan sát và mô tả giới tự nhiên, một hướng tiếp cận truyền thống và dễ hiểu hơn đối với Victor so với các bộ môn hóa học, vật lý đầy thuật ngữ khô khan.