CHƯƠNG III.
Kể từ ngày ấy, triết học tự nhiên, đặc biệt là hóa học hiểu theo nghĩa bao quát nhất, gần như đã chiếm trọn mọi tâm trí tôi. Tôi say sưa ngấu nghiến những tác phẩm đầy tính thông tuệ và tinh tế do các nhà nghiên cứu hiện đại chắp bút. Tôi miệt mài tham dự các buổi giảng, làm quen với những bậc trí giả trong trường đại học. Ngay cả nơi giáo sư Krempe, tôi cũng thu nhặt được biết bao lý lẽ sắc sảo cùng lượng kiến thức uyên thâm thực thụ, dẫu chúng ẩn sau một vẻ ngoài thô lỗ và một phong thái ngạo mạn khó ưa, nhưng tuyệt nhiên không vì thế mà vơi đi giá trị. Còn nơi giáo sư Waldman, tôi đã thực sự tìm thấy một người bạn tri kỷ. Sự dịu dàng của thầy chẳng bao giờ vương chút áp đặt, và những lời chỉ dẫn của thầy luôn đong đầy vẻ chân thành cùng lòng tốt bụng, đánh tan đi mọi rập khuôn sáo rỗng của lề thói giáo điều. Có lẽ chính bản tính dễ mến của con người này đã kéo tôi xích lại gần nhánh triết học tự nhiên mà thầy đang truyền đạt, hơn là một tình yêu tự tại dành cho bản thân môn khoa học ấy. Song, thứ tâm lý đó chỉ thoáng qua trong những bước dò dẫm đầu tiên trên con đường chinh phục tri thức; bởi lẽ càng dấn sâu vào thế giới học thuật này, tôi càng say đắm theo đuổi nó bằng niềm khao khát nội tại của riêng mình. Sự tập trung cao độ ấy, thoạt tiên chỉ xuất phát từ nghĩa vụ và lòng quyết tâm, nay bùng lên thành một nỗi cuồng si mãnh liệt, cồn cào tới mức những vì sao đêm thường lặn khuất vào ánh bình minh rạng rỡ, trong khi tôi vẫn còn đang miệt mài giam mình giữa phòng thí nghiệm tĩnh lặng.
Với sự dấn thân sát sao đến vậy, chẳng khó để hình dung tốc độ tiến bộ vượt bậc của tôi. Niềm say mê rực lửa ấy thực sự khiến bạn đồng môn phải kinh ngạc, và lượng tri thức uyên bác tôi gặt hái được đã khiến các giảng viên phải ngả mũ nể phục. Giáo sư Krempe thường nhìn tôi, ném lại một nụ cười ranh mãnh xen lẫn mỉa mai, hỏi gặng rằng học thuyết của Cornelius Agrippa1 dạo này ra sao rồi. Trong khi đó, thầy Waldman lại không giấu nổi niềm hoan hỉ tận đáy lòng trước những sải bước dài của tôi. Hai năm cứ thế trôi đi, ròng rã bấy nhiêu thời gian tôi chẳng hề màng tới việc quay về thăm Geneva, mà dốc cạn toàn bộ tâm trí lẫn linh hồn vào nỗ lực săn tìm những khám phá vĩ đại mà tôi hằng ấp ủ. Quả thực, chẳng ai thấu tỏ nổi sức cám dỗ ma mị của khoa học trừ phi chính họ tự mình nếm trải. Ở những lĩnh vực khác, người ta cao lắm cũng chỉ bước xa đến vạch đích của người đi trước, nơi chẳng còn mảnh đất nào để cày xới; thế nhưng trên hành trình theo đuổi khoa học, những bí ẩn chưa được khai phá luôn là thứ dưỡng chất bất tận nuôi lớn lòng hiếu kỳ và sự kinh ngạc khôn nguôi. Một trí tuệ dẫu chỉ tầm tầm bậc trung, nếu biết kiên tâm bám rễ vào một môn học, ắt hẳn sẽ vươn tới một đỉnh cao tinh thông nhất định; huống hồ là tôi, kẻ luôn bị thiêu đốt bởi khao khát chinh phục một mục tiêu duy nhất và đắm chìm trọn vẹn vào đó. Tôi thăng tiến thần tốc đến mức, khi năm học thứ hai khép lại, tôi đã tự mình kiến tạo nên vài bước đột phá trong việc cải tiến các thiết bị hóa học, mang về cho bản thân sự nể trọng và ngưỡng mộ lẫy lừng khắp chốn đại học. Đứng trên đỉnh cao danh vọng ấy, khi đã tỏ tường mọi ngóc ngách của lý thuyết lẫn thực hành triết học tự nhiên trong phạm vi những bài giảng của các giáo sư tại Ingolstadt, tôi nhận ra việc nấn ná lại chốn này chẳng thể bồi đắp thêm chút tiến bộ nào nữa. Thế là ý niệm thu hành lý trở về quê nhà, đoàn tụ cùng bạn bè và gia đình nhen nhóm trong tôi, cho đến khi một sự kiện định mệnh ập xuống, buộc tôi phải neo mình lại nơi này thêm một thời gian dài đằng đẵng.
Một trong những hiện tượng xoáy sâu vào tâm trí tôi hơn cả chính là cấu trúc cơ thể con người, và nói rộng ra, là bất kỳ sinh linh nào được ban phát hơi thở của sự sống. Tôi thường tự chất vấn lòng mình: cội nguồn thực sự của sự sống bắt đầu từ đâu? Quả là một câu hỏi táo bạo, vốn muôn đời vẫn được phủ lên lớp màn bí ẩn diệu kỳ; thế nhưng con người lẽ ra đã tiến đến gần chân lý biết bao, giá như sự hèn nhát hay thói bất cẩn không ghì chặt đôi cánh viễn kiến của chúng ta. Tôi miên man xoay vần những ẩn số ấy trong đầu, để rồi đi đến quyết tâm phải dấn thân sâu hơn nữa vào các phân nhánh triết học tự nhiên có liên quan mật thiết đến sinh lý học. Nếu không có một niềm đam mê mãnh liệt tưởng chừng như siêu nhiên thiêu đốt tâm can, thì việc đắm mình vào môn học này ắt hẳn sẽ trở nên tẻ nhạt và gần như quá sức chịu đựng. Bởi lẽ, muốn khảo sát nguyên nhân của sự sống, trước tiên ta phải gõ cửa cái chết. Tôi đã tự mình làm quen với khoa học giải phẫu, nhưng chừng ấy vẫn là chưa đủ; tôi còn phải tận mắt chứng kiến quá trình phân hủy và mục rữa tự nhiên của xác phàm. Thuở ấu thơ, cha tôi đã hết sức cẩn trọng nuôi dạy, uốn nắn để tâm trí tôi không bao giờ bị ám ảnh bởi những nỗi kinh hoàng siêu linh kỳ bí. Tôi chẳng có lấy một mảnh ký ức nào về việc mình từng run rẩy vì một câu chuyện nhuốm màu mê tín, hay kinh hãi trước bóng ma của một linh hồn vất vưởng. Bóng tối tăm u ám chẳng mảy may tác động đến trí tưởng tượng của tôi; và với tôi, nghĩa trang đơn thuần chỉ là nơi cất giữ những nhân ảnh đã lìa bỏ cõi đời, từ vị thế từng là cội nguồn của vẻ đẹp và sức mạnh kiêu hãnh, giờ đây đành câm lặng hóa thành nguồn thức ăn nhầy nhụa cho lũ bọ dòi. Giờ đây, một thế lực vô hình dẫn dụ tôi đi kiểm chứng căn nguyên cũng như toàn bộ tiến trình thối rữa này, ép tôi phải chôn vùi vô số ngày đêm dưới những hầm mộ ẩm mốc và các khu nhà chứa cốt lạnh lẽo. Ánh nhìn của tôi ghim chặt vào mọi thứ đáng tởm nhất, những thứ vốn dĩ vượt quá sức chịu đựng của một tâm hồn nhạy cảm. Tôi tận mắt chứng kiến hình hài con người tươi đẹp lụi tàn và héo úa ra sao; tôi lạnh lùng quan sát sự mục nát của cái chết chậm rãi tước đoạt đôi má hồng hào rực rỡ sắc sống; tôi thấy bọ dòi lúc nhúc thừa hưởng thứ kỳ quan tạo hóa của đôi mắt và bộ não như thế nào. Tôi dừng bước, miệt mài săm soi và mổ xẻ mọi chi tiết vụn vặt nhất của quy luật nhân quả, hệt như những gì được phơi bày trong sự chuyển hóa luân hồi từ cõi sống sang cõi chết, và từ cõi chết nảy mầm ra sự sống. Cứ như thế, cho đến khi từ giữa vùng tăm tối mịt mùng này, một luồng sáng đột ngột xé toạc màn đêm và bùng nổ trong tôi - một luồng sáng rực rỡ, diệu kỳ nhưng cũng vô cùng giản đơn, đến mức trong giây phút bị choáng ngợp bởi viễn cảnh bao la mà nó soi rọi, tôi không khỏi sững sờ tự hỏi: cớ sao giữa hàng vạn thiên tài từng cống hiến cả cuộc đời để dò dẫm trong cùng một môn khoa học, định mệnh lại chọn giữ lại duy nhất một mình tôi để vén bức màn bí mật kinh thiên động địa đến nhường này.
Xin anh hãy nhớ cho, những gì tôi đang ghi chép lại đây tuyệt nhiên không phải là những ảo giác hoang đường của một kẻ điên trí. Rằng mặt trời đang rực rỡ tỏa nắng trên đỉnh đầu kia cũng chẳng thể nào chân thực bằng những lời tôi đang đanh thép khẳng định ngay giây phút này. Có lẽ một phép màu vô hình nào đó đã nhúng tay kiến tạo nên nó, nhưng từng bước đi trong quá trình khám phá của tôi lại rành rọt và có cơ sở đến mức không thể chối cãi. Sau chuỗi ngày đêm lao lực vắt kiệt cả thể xác lẫn tinh thần đến mức khó tin, tôi đã thành công tóm gọn được gốc rễ của sự sinh thành và sự sống; không, vượt lên trên tất cả, chính tôi đây đã nắm giữ trong tay quyền năng ban phát hơi thở sự sống cho những khối vật chất vô tri vô giác.
Sự kinh ngạc tột độ bủa vây tôi trong giây phút đầu tiên chạm mặt khám phá này, rất nhanh chóng đã nhường chỗ cho một cơn say mê và nỗi hân hoan điên dại. Sau vô vàn những ngày tháng quăng mình vào chốn lao lung cực nhọc đầy đau đớn, việc vươn tới tột đỉnh khát khao ngay tức khắc chính là sự đền đáp viên mãn nhất cho mọi nỗi nhọc nhằn của tôi. Thế nhưng, phát kiến này lại vĩ đại và choáng ngợp đến nhường ấy, đến nỗi mọi bước ngoặt từng chút một dẫn dắt tôi đến nơi này đều đột ngột nhạt nhòa, tan biến, để lại trước mắt tôi duy nhất một kết quả huy hoàng. Thứ tri thức từng là tâm điểm nghiên cứu và niềm khao khát rực cháy của những bậc hiền triết vĩ đại nhất kể từ thuở hồng hoang tạo thiên lập địa, giờ đây đã ngoan ngoãn nằm gọn trong lòng bàn tay tôi. Không phải nó tự dưng trải dài ra trước mắt tôi như một bức màn ma thuật nhiệm màu; mà thay vào đó, những kiến thức tôi gom góp được giống như một chiếc la bàn định hướng cho mọi nỗ lực của tôi ngay khi tôi chĩa mũi nhọn vào mục tiêu kiếm tìm, chứ không đơn thuần chỉ phơi bày mục tiêu ấy ra như một chiến quả đã định sẵn. Tôi thấy mình hệt như gã người Ả Rập bị chôn sống giữa bầy xác chết2, bấu víu vào một luồng ánh sáng le lói dường như vô vọng, để rồi may mắn mò mẫm ra được con đường hẹp tìm về với ánh sáng của sự sống.
Nhìn vào sự háo hức cuồng nhiệt, cùng nỗi kinh ngạc xen lẫn niềm hy vọng đang rực lên trong đôi mắt anh, anh bạn của tôi ơi, tôi biết thừa anh đang mòn mỏi ngóng chờ tôi hé lộ thứ bí mật động trời mà tôi đang nắm giữ; nhưng điều đó là không thể. Xin anh hãy nhẫn nại lắng nghe cho đến khi câu chuyện của tôi khép lại, và rồi anh sẽ tự mình thấu rõ nguyên do vì sao tôi lại khép kín cõi lòng đến vậy khi chạm tới chủ đề này. Dù cho lúc ấy tôi từng ngây thơ thiếu phòng bị và nhiệt thành đến mức nào, tôi cũng nhất quyết không thể tự tay dắt anh bước vào con đường diệt vong và rước lấy nỗi thống khổ không thể tránh khỏi. Hãy học lấy bài học từ tôi, nếu chẳng phải qua những lời răn đe thống thiết, thì ít nhất cũng là qua tấm gương tày liếp của chính cuộc đời tôi, để nhận ra rằng cái giá của việc cưỡng đoạt tri thức là nguy hiểm đến nhường nào. Và rằng, một kẻ chịu tin rằng quê hương nhỏ bé của mình chính là cả thế giới bao la, ắt hẳn sẽ hạnh phúc hơn gấp bội so với những kẻ mù quáng khao khát vươn mình trở nên vĩ đại hơn cả những giới hạn mà bản ngã tạo hóa cho phép.
Nắm giữ trong tay thứ quyền năng phi thường đến nhường ấy, tôi chìm trong sự đắn đo hồi lâu để tìm cách sử dụng nó. Dù đã đoạt được quyền phép ban phát sự sống, nhưng việc kiến tạo một thể xác để chứa đựng sinh khí ấy lại là một thách thức nhọc nhằn khôn tả, với muôn vàn những sợi xơ, cơ bắp và tĩnh mạch đan cài rắc rối. Thoạt tiên, tôi tự vấn liệu mình nên nặn hình một sinh vật mang nhân dạng giống mình, hay chỉ nên bắt đầu bằng một cấu tạo đơn giản. Thế nhưng, trí tưởng tượng đã chắp cánh quá cao sau thành tựu ban đầu, khiến tôi chẳng còn mảy may nghi ngờ vào khả năng thổi bùng sự sống cho một sinh thể kỳ diệu và tinh vi như con người. Các vật liệu trong tay dường như quá đỗi ít ỏi trước một tham vọng lớn lao, dẫu vậy, niềm tin vào thành công cuối cùng vẫn vẹn nguyên trong tôi. Tôi đã cẩn thận tự rào đón tinh thần trước vô vàn thất bại chực chờ: mọi thao tác có thể bị cản trở không ngừng, và tác phẩm sinh ra có thể sẽ mang dáng vẻ dở dang. Nhưng khi dõi theo từng bước tiến thần tốc mỗi ngày của khoa học và cơ khí, hy vọng trong tôi lại rực cháy, tin rằng những nỗ lực hôm nay dẫu thế nào cũng sẽ trở thành nền móng vững chắc cho tương lai. Tôi gạt phăng sự phức tạp lẫn quy mô đồ sộ của kế hoạch, không cho đó là lý do để chùn bước. Chính với những cuộn trào cảm xúc ấy, tôi lao vào công cuộc tạo ra một con người. Vì kích thước nhỏ bé của các bộ phận cơ thể sẽ làm chậm tiến độ một cách khủng khiếp, tôi quyết định làm trái với dự định ban đầu: sinh thể này sẽ phải mang một tầm vóc khổng lồ. Nó sẽ cao chừng tám feet, và bề thế tương xứng với chiều cao ấy. Khi ý định đã chốt hạ, tôi dành ra nhiều tháng ròng rã để thu thập và cẩn thận sắp xếp các vật liệu, trước khi chính thức đặt những viên gạch đầu tiên.
Chẳng ai trên thế gian này thấu được những luồng cảm xúc hỗn mang đang cuồng nộ như bão lốc, cuốn phăng tôi đi trong sự cuồng say chiến thắng tột độ. Ranh giới giữa sự sống và cái chết hiện ra trước mắt chỉ như một vạch kẻ mỏng manh mà tôi buộc phải phá vỡ, để từ đó trút xuống một luồng sáng chói lòa, rọi chiếu thẳng vào màn đêm tăm tối của thế giới phàm tục. Một giống loài mới mẻ sẽ quỳ rạp, tôn xưng tôi là đấng tối cao, là cội nguồn sinh thành. Hàng vạn bản thể ưu việt và hạnh phúc sẽ mãi mãi mang nợ tôi hơi thở của chúng. Thậm chí, chẳng có một người cha trần thế nào dám đòi hỏi lòng biết ơn tuyệt đối từ con cái mình như cái cách mà tôi xứng đáng được hưởng thụ. Trôi dạt trong những mộng tưởng kiêu hãnh ấy, tôi ngông cuồng cho rằng, một khi đã thổi hồn vào lớp vật chất vô tri vô giác, thời gian rồi sẽ giúp tôi đoạt lại sự sống từ cõi chết, đánh thức những thân xác vốn đã bị định đoạt để thối rữa dưới hố sâu (dẫu giờ đây, khi nghĩ lại, tôi nhận ra đó chỉ là một ảo tưởng viển vông).
Chính những vọng tưởng vĩ cuồng ấy đã chống đỡ linh hồn tôi, giữ cho bầu nhiệt huyết bừng cháy không ngơi nghỉ giữa công việc gian truân. Đôi gò má nhợt nhạt đi vì nhốt mình trong suy tưởng, và thân xác tiều tụy mòn mỏi sau những tháng ngày giam lỏng. Đã bao lần, khi ngỡ như chạm tay vào quả ngọt thành công, tôi lại hứng chịu thất bại thảm hại; thế nhưng tôi vẫn bấu víu lấy tia sáng của hy vọng, khát khao phút giây hoặc ngày mai phép màu sẽ thực sự hiển linh. Tôi đã hiến tế toàn bộ thân tâm cho một bí mật độc nhất vô nhị. Chỉ có vầng trăng lạnh lẽo chứng giám cho những nỗ lực điên cuồng mỗi độ nửa đêm. Trong hơi thở dồn dập và sự háo hức cực độ, tôi ráo riết truy lùng tạo hóa đến tận cùng hang cùng ngõ hẻm của bà. Nào ai thấu tỏ những điều kinh dị tột bậc ẩn sau công trình nhuốm màu bóng tối ấy, những lúc tôi ngụp lặn giữa chướng khí tanh tưởi, lạnh lẽo nơi huyệt mộ, hay đọa đày những con vật khốn khổ chỉ để bòn mót từng sinh khí, rót vào khối đất sét vô tri? Ngay lúc này, đôi tay tôi vẫn run rẩy bần bật, và mắt tôi nhòa đi lệ khi lần giở lại ký ức ám ảnh ấy; nhưng ngày đó, một động lực vô hình ma quái, ngấp nghé sự điên loạn, đã đẩy tôi dấn thân không quay đầu. Linh hồn và mọi xúc cảm dường như đã bốc hơi, chỉ còn lại ngọn lửa khao khát duy nhất thiêu đốt tâm can. Cơn mê sảng u ám ấy che lấp vạn vật, để rồi khi thứ ma lực tà ác kia vừa tắt ngúm, mọi cảm giác trong tôi lại ùa về sắc lẹm, tàn nhẫn xé toạc lớp vỏ ngụy trang và lôi tuột tôi về với sự trần trụi. Bằng chính đôi bàn tay phàm tục vấy bẩn, tôi lùng sục nhặt nhạnh từng mẩu xương trong các nhà mồ, trắng trợn báng bổ những bí ẩn sâu thẳm và đáng sợ nhất của cơ thể con người. Sâu trong căn gác xép đơn độc tựa ngục tù - nơi bị cắt đứt hoàn toàn với phần còn lại của ngôi nhà bằng một cầu thang và dãy hành lang hun hút - tôi đã dựng nên xưởng chế tác tởm lợm của mình. Hai hốc mắt chực chờ lồi ra khỏi tròng khi tôi trừng trừng săm soi từng chi tiết nhỏ bé của khối thịt nhầy nhụa. Phòng giải phẫu tử thi và những lò mổ tanh nồng trở thành nguồn cung cấp vật liệu không cạn. Đã biết bao lần phần "người" trong tôi nôn ọe, gào thét quay lưng trước sự kinh tởm tột độ của tội ác mình đang gây ra. Ấy vậy mà, mặc cho tiếng thét gào của lương tri, sự phấn khích ma mị vẫn không ngừng cuộn trào, dắt mũi tôi lầm lũi đẩy tác phẩm kinh hoàng ấy nhích dần đến ngưỡng hoàn thiện.
Những tháng hè thấm thoắt thoi đưa, còn tôi vẫn mải miết dốc trọn trái tim và linh hồn cho một mục tiêu duy nhất. Năm ấy, đất trời ban tặng một mùa hè tráng lệ lạ thường; chưa bao giờ những cánh đồng lại mang đến một vụ mùa trĩu hạt đến thế, hay những giàn nho lại oằn mình dưới lớp quả ngọt ngào đến vậy. Thế nhưng, đôi mắt tôi đã trở nên vô hồn trước mọi vẻ đẹp quyến rũ của thiên nhiên. Và cũng chính sự thờ ơ đã bịt mắt tôi trước cảnh sắc quanh mình, lại một lần nữa khiến tôi lãng quên những người bạn tri kỷ chốn quê nhà đang cách xa ngàn dặm, những người mà đã từ rất lâu tôi không còn được hội ngộ. Tôi biết sự bặt vô âm tín của mình hẳn đã gieo vào lòng họ bao nỗi bất an; và tôi vẫn nhớ như in lời cha từng dặn: “Cha biết, chừng nào con còn sống thanh thản với lương tâm, con sẽ luôn hướng về gia đình bằng tình yêu thương sâu sắc, và chúng ta sẽ thường xuyên nhận được thư từ con. Nhưng hãy tha thứ cho cha, nếu cha trót xem bất kỳ sự gián đoạn nào trong những lá thư ấy như một minh chứng rằng, những bổn phận khác của con cũng đang bị bỏ bê.”
Bởi thế, tôi hiểu rất rõ lòng cha đang trĩu nặng nhường nào. Nhưng tôi chẳng tài nào dứt luồng suy nghĩ của mình ra khỏi công việc hiện tại-một công việc dẫu bản chất vô cùng đáng ghê tởm, lại sở hữu một ma lực khó cưỡng, trói buộc lấy trí tưởng tượng của tôi. Nếu có thể, tôi chỉ ước mình đủ sức gác lại mọi cung bậc yêu thương, mọi thứ tình cảm gắn bó, cho đến khi cái mục tiêu vĩ đại đã vắt kiệt từng thói quen thường nhật của tôi được hoàn tất.
Lúc bấy giờ, tôi từng cho rằng cha thật bất công khi quy kết sự chểnh mảng của tôi là do thói hư tật xấu, hay một lỗi lầm nào đó tôi trót mang. Nhưng giờ đây, tôi hoàn toàn tin rằng sự lo lắng của cha là có cơ sở và bản thân tôi khó lòng vô can. Một con người hoàn thiện luôn phải biết cách gìn giữ cho tâm trí mình sự thanh bình và tĩnh tại, không bao giờ để bất kỳ đam mê hay một dục vọng xốc nổi nào quấy nhiễu cõi lòng yên ả. Tôi không cho rằng việc theo đuổi tri thức lại là một ngoại lệ đối với chân lý ấy. Nếu lĩnh vực mà anh dấn thân vào bắt đầu bào mòn đi những tình cảm tốt đẹp, đồng thời tàn phá niềm vui trước những thú vui dung dị và thuần khiết, thì chắc chắn thứ tri thức đó đã đi ngược lại luân thường đạo lý-hay nói cách khác, nó không còn phù hợp với nhân tính con người. Nếu quy tắc này luôn được nghiêm ngặt tuân thủ, nếu không một người đàn ông nào cho phép bất kỳ khát vọng nào xen vào sự bình yên của tình cảm gia đình, thì Hy Lạp đâu đến nỗi chịu cảnh nô lệ; Cæsar3 hẳn đã chừa lại cho quê hương một lối thoát; Châu Mỹ hẳn đã được khám phá trong những nhịp độ yên bình hơn; và các đế chế huy hoàng như Mexico hay Peru4 cũng đã chẳng bị vùi dập trong sự diệt vong.
Nhưng tôi lại quên mất rằng bản thân đang mải mê thuyết giáo đạo lý ngay giữa hồi ly kỳ nhất của câu chuyện mất rồi; và ánh mắt háo hức của anh đang khẽ nhắc nhở tôi hãy tiếp tục.
Tuy nhiên, trong những lá thư gửi đến, cha tôi không buông lấy một lời quở trách; người chỉ bày tỏ sự quan tâm đến sự im lặng bấy lâu của tôi thông qua việc gặng hỏi chi tiết hơn về các công việc tôi đang theo đuổi. Mùa đông, mùa xuân rồi mùa hè lần lượt trôi qua giữa guồng quay công việc không ngơi nghỉ. Tôi chẳng buồn để tâm ngắm nhìn nụ hoa hé nở hay nhành lá đâm chồi-những khung cảnh từng đem lại cho tôi niềm hân hoan tột độ, bởi tâm trí tôi lúc này đã bị giam cầm hoàn toàn trong sự nghiệp của mình. Những chiếc lá của năm ấy đã úa tàn từ lâu trước khi kiệt tác của tôi chạm đến ngưỡng hoàn thiện; và giờ đây, mỗi ngày trôi qua lại là một minh chứng rõ nét hơn về sự thành công mà tôi sắp sửa đạt được. Thế nhưng, nhiệt huyết bừng bừng trong tôi luôn bị bóp nghẹt bởi những nỗi lo âu thường trực. Thay vì mang dáng dấp của một người nghệ sĩ đang đắm say trong tác phẩm tâm huyết, trông tôi chẳng khác nào một tên nô lệ khốn khổ bị đày ải nơi hầm mỏ tăm tối, hay bất kỳ một công việc độc hại nào vắt kiệt cả sinh lực. Đêm đêm, những cơn sốt nhẹ lại kéo đến hành hạ, khiến tôi rơi vào trạng thái căng thẳng đến mức đớn đau. Căn bệnh ấy lại càng làm tôi thêm xót xa, bởi trước nay tôi vốn luôn được tận hưởng một sức khỏe phi thường và vẫn luôn tự hào về thần kinh thép của chính mình. Dẫu vậy, tôi vẫn nuôi hy vọng rằng chỉ cần vận động và giải trí, mọi triệu chứng này sẽ sớm tiêu tan; và tôi tự hứa với lòng mình sẽ bù đắp cả hai điều đó, ngay khi công trình sáng tạo này chính thức hoàn thành.
-
Heinrich Cornelius Agrippa (1486-1535) là một học giả và nhà giả kim thuật. Đến thế kỷ 18-19, các lý thuyết mang tính huyền bí của ông đã bị giới học thuật coi là phản khoa học và lỗi thời. Câu hỏi mang ý mỉa mai việc Victor từng đam mê những học thuyết cũ kỹ này. ↩
-
Điển tích ám chỉ chuyến hành trình thứ tư của Thủy thủ Sinbad trong tác phẩm 'Nghìn lẻ một đêm', khi anh bị chôn sống cùng thi hài người vợ xuống hầm mộ theo luật lệ vương quốc, nhưng sau đó đã tìm được đường thoát ra ngoài nhờ đi theo một vệt sáng. ↩
-
Julius Caesar (100-44 TCN), nhà lãnh đạo quân sự vĩ đại của La Mã. Tham vọng quyền lực tột đỉnh đã xui khiến ông dẫn quân đội vượt sông Rubicon tiến về Rome, châm ngòi cho cuộc nội chiến tàn khốc dẫn đến sự sụp đổ của nền Cộng hòa La Mã. ↩
-
Ám chỉ hai đế chế hùng mạnh của người da đỏ ở châu Mỹ là Aztec (tại Mexico ngày nay) và Inca (tại Peru ngày nay). Những nền văn minh rực rỡ này đã bị hủy diệt hoàn toàn vào thế kỷ 16 bởi lòng tham và tham vọng chinh phạt của thực dân Tây Ban Nha. ↩
CHAPTER III.
From this day natural philosophy, and particularly chemistry, in the most comprehensive sense of the term, became nearly my sole occupation. I read with ardour those works, so full of genius and discrimination, which modern inquirers have written on these subjects. I attended the lectures, and cultivated the acquaintance, of the men of science of the university; and I found even in M. Krempe a great deal of sound sense and real information, combined, it is true, with a repulsive physiognomy and manners, but not on that account the less valuable. In M. Waldman I found a true friend. His gentleness was never tinged by dogmatism; and his instructions were given with an air of frankness and good nature, that banished every idea of pedantry. It was, perhaps, the amiable character of this man that inclined me more to that branch of natural philosophy which he professed, than an intrinsic love for the science itself. But this state of mind had place only in the first steps towards knowledge: the more fully I entered into the science, the more exclusively I pursued it for its own sake. That application, which at first had been a matter of duty and resolution, now became so ardent and eager, that the stars often disappeared in the light of morning whilst I was yet engaged in my laboratory.
As I applied so closely, it may be easily conceived that I improved rapidly. My ardour was indeed the astonishment of the students; and my proficiency, that of the masters. Professor Krempe often asked me, with a sly smile, how Cornelius Agrippa went on? whilst M. Waldman expressed the most heart-felt exultation in my progress. Two years passed in this manner, during which I paid no visit to Geneva, but was engaged, heart and soul, in the pursuit of some discoveries, which I hoped to make. None but those who have experienced them can conceive of the enticements of science. In other studies you go as far as others have gone before you, and there is nothing more to know; but in a scientific pursuit there is continual food for discovery and wonder. A mind of moderate capacity, which closely pursues one study, must infallibly arrive at great proficiency in that study; and I, who continually sought the attainment of one object of pursuit, and was solely wrapt up in this, improved so rapidly, that, at the end of two years, I made some discoveries in the improvement of some chemical instruments, which procured me great esteem and admiration at the university. When I had arrived at this point, and had become as well acquainted with the theory and practice of natural philosophy as depended on the lessons of any of the professors at Ingolstadt, my residence there being no longer conducive to my improvements, I thought of returning to my friends and my native town, when an incident happened that protracted my stay.
One of the phænonema which had peculiarly attracted my attention was the structure of the human frame, and, indeed, any animal endued with life. Whence, I often asked myself, did the principle of life proceed? It was a bold question, and one which has ever been considered as a mystery; yet with how many things are we upon the brink of becoming acquainted, if cowardice or carelessness did not restrain our inquiries. I revolved these circumstances in my mind, and determined thenceforth to apply myself more particularly to those branches of natural philosophy which relate to physiology. Unless I had been animated by an almost supernatural enthusiasm, my application to this study would have been irksome, and almost intolerable. To examine the causes of life, we must first have recourse to death. I became acquainted with the science of anatomy: but this was not sufficient; I must also observe the natural decay and corruption of the human body. In my education my father had taken the greatest precautions that my mind should be impressed with no supernatural horrors. I do not ever remember to have trembled at a tale of superstition, or to have feared the apparition of a spirit. Darkness had no effect upon my fancy; and a church-yard was to me merely the receptacle of bodies deprived of life, which, from being the seat of beauty and strength, had become food for the worm. Now I was led to examine the cause and progress of this decay, and forced to spend days and nights in vaults and charnel houses. My attention was fixed upon every object the most insupportable to the delicacy of the human feelings. I saw how the fine form of man was degraded and wasted; I beheld the corruption of death succeed to the blooming cheek of life; I saw how the worm inherited the wonders of the eye and brain. I paused, examining and analysing all the minutiæ of causation, as exemplified in the change from life to death, and death to life, until from the midst of this darkness a sudden light broke in upon me-a light so brilliant and wondrous, yet so simple, that while I became dizzy with the immensity of the prospect which it illustrated, I was surprised that among so many men of genius, who had directed their inquiries towards the same science, that I alone should be reserved to discover so astonishing a secret.
Remember, I am not recording the vision of a madman. The sun does not more certainly shine in the heavens, than that which I now affirm is true. Some miracle might have produced it, yet the stages of the discovery were distinct and probable. After days and nights of incredible labour and fatigue, I succeeded in discovering the cause of generation and life; nay, more, I became myself capable of bestowing animation upon lifeless matter.
The astonishment which I had at first experienced on this discovery soon gave place to delight and rapture. After so much time spent in painful labour, to arrive at once at the summit of my desires, was the most gratifying consummation of my toils. But this discovery was so great and overwhelming, that all the steps by which I had been progressively led to it were obliterated, and I beheld only the result. What had been the study and desire of the wisest men since the creation of the world, was now within my grasp. Not that, like a magic scene, it all opened upon me at once: the information I had obtained was of a nature rather to direct my endeavours so soon as I should point them towards the object of my search, than to exhibit that object already accomplished. I was like the Arabian who had been buried with the dead, and found a passage to life aided only by one glimmering, and seemingly ineffectual light.
I see by your eagerness, and the wonder and hope which your eyes express, my friend, that you expect to be informed of the secret with which I am acquainted; that cannot be: listen patiently until the end of my story, and you will easily perceive why I am reserved upon that subject. I will not lead you on, unguarded and ardent as I then was, to your destruction and infallible misery. Learn from me, if not by my precepts, at least by my example, how dangerous is the acquirement of knowledge, and how much happier that man is who believes his native town to be the world, than he who aspires to become greater than his nature will allow.
When I found so astonishing a power placed within my hands, I hesitated a long time concerning the manner in which I should employ it. Although I possessed the capacity of bestowing animation, yet to prepare a frame for the reception of it, with all its intricacies of fibres, muscles, and veins, still remained a work of inconceivable difficulty and labour. I doubted at first whether I should attempt the creation of a being like myself or one of simpler organization; but my imagination was too much exalted by my first success to permit me to doubt of my ability to give life to an animal as complex and wonderful as man. The materials at present within my command hardly appeared adequate to so arduous an undertaking; but I doubted not that I should ultimately succeed. I prepared myself for a multitude of reverses; my operations might be incessantly baffled, and at last my work be imperfect: yet, when I considered the improvement which every day takes place in science and mechanics, I was encouraged to hope my present attempts would at least lay the foundations of future success. Nor could I consider the magnitude and complexity of my plan as any argument of its impracticability. It was with these feelings that I began the creation of a human being. As the minuteness of the parts formed a great hindrance to my speed, I resolved, contrary to my first intention, to make the being of a gigantic stature; that is to say, about eight feet in height, and proportionably large. After having formed this determination, and having spent some months in successfully collecting and arranging my materials, I began.
No one can conceive the variety of feelings which bore me onwards, like a hurricane, in the first enthusiasm of success. Life and death appeared to me ideal bounds, which I should first break through, and pour a torrent of light into our dark world. A new species would bless me as its creator and source; many happy and excellent natures would owe their being to me. No father could claim the gratitude of his child so completely as I should deserve their’s. Pursuing these reflections, I thought, that if I could bestow animation upon lifeless matter, I might in process of time (although I now found it impossible) renew life where death had apparently devoted the body to corruption.
These thoughts supported my spirits, while I pursued my undertaking with unremitting ardour. My cheek had grown pale with study, and my person had become emaciated with confinement. Sometimes, on the very brink of certainty, I failed; yet still I clung to the hope which the next day or the next hour might realize. One secret which I alone possessed was the hope to which I had dedicated myself; and the moon gazed on my midnight labours, while, with unrelaxed and breathless eagerness, I pursued nature to her hiding places. Who shall conceive the horrors of my secret toil, as I dabbled among the unhallowed damps of the grave, or tortured the living animal to animate the lifeless clay? My limbs now tremble, and my eyes swim with the remembrance; but then a resistless, and almost frantic impulse, urged me forward; I seemed to have lost all soul or sensation but for this one pursuit. It was indeed but a passing trance, that only made me feel with renewed acuteness so soon as, the unnatural stimulus ceasing to operate, I had returned to my old habits. I collected bones from charnel houses; and disturbed, with profane fingers, the tremendous secrets of the human frame. In a solitary chamber, or rather cell, at the top of the house, and separated from all the other apartments by a gallery and staircase, I kept my workshop of filthy creation; my eyeballs were starting from their sockets in attending to the details of my employment. The dissecting room and the slaughter-house furnished many of my materials; and often did my human nature turn with loathing from my occupation, whilst, still urged on by an eagerness which perpetually increased, I brought my work near to a conclusion.
The summer months passed while I was thus engaged, heart and soul, in one pursuit. It was a most beautiful season; never did the fields bestow a more plentiful harvest, or the vines yield a more luxuriant vintage: but my eyes were insensible to the charms of nature. And the same feelings which made me neglect the scenes around me caused me also to forget those friends who were so many miles absent, and whom I had not seen for so long a time. I knew my silence disquieted them; and I well remembered the words of my father: “I know that while you are pleased with yourself, you will think of us with affection, and we shall hear regularly from you. You must pardon me, if I regard any interruption in your correspondence as a proof that your other duties are equally neglected.”
I knew well therefore what would be my father’s feelings; but I could not tear my thoughts from my employment, loathsome in itself, but which had taken an irresistible hold of my imagination. I wished, as it were, to procrastinate all that related to my feelings of affection until the great object, which swallowed up every habit of my nature, should be completed.
I then thought that my father would be unjust if he ascribed my neglect to vice, or faultiness on my part; but I am now convinced that he was justified in conceiving that I should not be altogether free from blame. A human being in perfection ought always to preserve a calm and peaceful mind, and never to allow passion or a transitory desire to disturb his tranquillity. I do not think that the pursuit of knowledge is an exception to this rule. If the study to which you apply yourself has a tendency to weaken your affections, and to destroy your taste for those simple pleasures in which no alloy can possibly mix, then that study is certainly unlawful, that is to say, not befitting the human mind. If this rule were always observed; if no man allowed any pursuit whatsoever to interfere with the tranquillity of his domestic affections, Greece had not been enslaved; Cæsar would have spared his country; America would have been discovered more gradually; and the empires of Mexico and Peru had not been destroyed.
But I forget that I am moralizing in the most interesting part of my tale; and your looks remind me to proceed.
My father made no reproach in his letters; and only took notice of my silence by inquiring into my occupations more particularly than before. Winter, spring, and summer, passed away during my labours; but I did not watch the blossom or the expanding leaves-sights which before always yielded me supreme delight, so deeply was I engrossed in my occupation. The leaves of that year had withered before my work drew near to a close; and now every day shewed me more plainly how well I had succeeded. But my enthusiasm was checked by my anxiety, and I appeared rather like one doomed by slavery to toil in the mines, or any other unwholesome trade, than an artist occupied by his favourite employment. Every night I was oppressed by a slow fever, and I became nervous to a most painful degree; a disease that I regretted the more because I had hitherto enjoyed most excellent health, and had always boasted of the firmness of my nerves. But I believed that exercise and amusement would soon drive away such symptoms; and I promised myself both of these, when my creation should be complete.