CHƯƠNG VII.

“Đó là câu chuyện về những người nông phu yêu dấu của tôi. Cứ thế, nó khắc sâu vào tâm khảm. Qua lăng kính về đời sống xã hội mà câu chuyện ấy hé mở, tôi học được cách ngưỡng vọng những đức tính cao đẹp của họ, đồng thời kinh tởm trước những thói hư tật xấu của nhân loại.

“Cho đến thời điểm ấy, tội ác trong mắt tôi vẫn chỉ là một thứ bóng tối xa vời vợi. Trái lại, lòng nhân từ và sự hào hiệp thì luôn hiện hữu ngay trước mắt, thổi bùng trong tôi niềm khao khát cháy bỏng được sắm một vai giữa tấn trò đời rộn rã, nơi biết bao phẩm chất cao quý được phô bày và tỏa sáng. Thế nhưng, trong lúc hồi tưởng lại hành trình khai mở tâm trí của mình, tôi không thể nào bỏ qua một sự kiện tình cờ xảy đến vào đầu tháng Tám năm đó.

“Một đêm nọ, giữa chuyến dạo bước thường nhật vào khu rừng lân cận để kiếm chút thức ăn lót dạ và nhặt nhạnh củi khô mang về cho những người bảo bọc mình, tôi vô tình bắt gặp một chiếc túi da nằm chỏng chơ trên mặt đất. Bên trong là vài món quần áo cùng mấy cuốn sách cũ. Háo hức như vớ được vàng, tôi cuỗm ngay lấy món chiến lợi phẩm ấy rồi mang thẳng về túp lều rách nát của mình. Thật may mắn thay, những cuốn sách nọ lại được in bằng đúng thứ ngôn ngữ mà tôi vừa nằm lòng được đôi chút nền tảng nơi ngôi nhà tranh; chúng bao gồm kiệt tác Thiên Đường Đã Mất, một tập trong bộ Tiểu Sử Nổi Bật của Plutarch1, và Nỗi Đau Của Chàng Werther2. Kho báu vô giá này đã ban cho tôi một niềm hân hoan tột đỉnh; để rồi từ đó, trong lúc những người bạn của tôi còn đang tất bật với nhịp sống thường nhật, tôi không ngừng trau dồi và mài giũa tâm trí mình qua những trang sử ngập tràn cảm xúc ấy.

“Ngài khó lòng mường tượng nổi sức mạnh vần xoay của những trang sách ấy lên tâm hồn tôi. Chúng khơi dậy trong tôi vô vàn ảo ảnh và xúc cảm mới mẻ; khi thì chắp cánh đưa tôi bay bổng tột cùng trong cơn ngây ngất, nhưng lắm lúc lại nhận chìm tôi xuống đáy sâu tuyệt vọng. Đọc Nỗi Đau Của Chàng Werther, bên cạnh sự đắm chìm vào cốt truyện giản dị mà bi thương, tôi còn bị cuốn vào biết bao luồng tư tưởng sâu sắc. Vô số tia sáng rực rỡ đã rọi chiếu vào những góc khuất lấp mà cho tới tận lúc bấy giờ, trí óc tôi vẫn còn quẩn quanh trong màn đêm đặc quánh. Nơi đó, tôi đã khám phá ra cả một mạch ngầm vô tận của những suy tưởng và sự kinh ngạc. Những nếp sống dịu êm, chan chứa hơi ấm gia đình mà cuốn sách vẽ nên, hòa quyện cùng những rung động tinh tế và cao thượng - những thứ luôn hướng con người ta vượt lên trên cái tôi chật hẹp - lại đồng điệu đến lạ kỳ với những gì tôi hằng cảm nhận giữa vòng tay những người ân nhân của mình, và cả với những khao khát luôn sục sôi nơi huyết quản. Nhưng với tôi, chính bản thân Werther lại là một sinh thể mang đầy tính thần thánh, vượt xa bất cứ ai tôi từng chứng kiến hay mường tượng ra. Tính cách của chàng chẳng mang chút khiên cưỡng, phô trương, thế mà lại khắc tạc sâu đậm vào tâm trí. Những dòng triết lý về cái chết và sự tự vẫn đã lấp đầy tâm hồn tôi bằng một nỗi sững sờ khó tả. Tôi nào dám lạm bàn về tính đúng sai của vấn đề ấy, nhưng lòng tôi lại bất giác ngả về phía những suy tư của vị anh hùng nọ. Tôi đã rơi những giọt lệ xót thương cho sự diệt vong của chàng, dẫu cho bản thân chẳng thể thấu hiểu cặn kẽ mọi bề.

“Dẫu vậy, xuyên suốt những trang sách, tôi vẫn không ngừng mang những vần chữ ấy ra đối chiếu với cảm xúc và cảnh ngộ của chính mình. Tôi lờ mờ nhận ra bản thân có đôi nét tương đồng, nhưng đồng thời lại lạc lõng đến dị kỳ so với những sinh mệnh mà tôi đang nghiền ngẫm, và cả với những con người mà tôi hằng ngày vẫn nấp bóng để nghe trộm chuyện trò. Tôi phần nào đồng cảm và thấu hiểu họ, thế nhưng tâm trí tôi vẫn như một mảnh đất hoang sơ chưa thành hình; tôi chẳng nương tựa vào ai, cũng chẳng mang chút mối dây liên kết nào với thế giới này. ‘Con đường ra đi của tôi hoàn toàn tự do;’ và sẽ chẳng có lấy một ai phải xót xa tuôn lệ cho sự lụi tàn của tôi. Hình hài tôi gớm ghiếc, vóc dáng tôi khổng lồ dị dạng: tất cả những điều này rốt cuộc có ý nghĩa gì? Tôi là ai? Tôi là thứ quái thai nào? Tôi từ cõi nào bước ra? Và đâu sẽ là chốn nương thân cuối cùng của đời tôi? Những câu hỏi ấy cứ đau đáu dội lặp đi lặp lại, mài mòn tâm trí, nhưng tôi lại hoàn toàn bất lực trong việc tự tìm ra cho mình một lời giải đáp.

“Tập sách Tiểu Sử Nổi Bật của Plutarch mà tôi có được, mở ra một chân trời lịch sử về những người tiên phong xây dựng nền cộng hòa cổ đại. Cuốn sách này lại dội vào tâm hồn tôi một luồng tác động trái ngược hoàn toàn so với Nỗi Đau Của Chàng Werther. Nếu những mộng tưởng của Werther gieo rắc vào lòng tôi nỗi bi quan và tuyệt vọng, thì Plutarch lại khai sáng cho tôi những tư tưởng vĩ đại. Ông nâng bổng tôi thoát khỏi cái kén chật hẹp của những quẩn quanh cá nhân, để từ đó biết ngưỡng vọng và tôn kính những vì tinh tú anh hùng của các thời đại đã qua. Nhiều điều tôi đọc được đã vượt xa tầm hiểu biết và kinh nghiệm ít ỏi của bản thân. Tôi chỉ mang máng hình dung về những đế quốc huy hoàng, những thảo nguyên bao la, những dòng sông cuộn chảy, và cả những đại dương thăm thẳm. Nhưng tôi lại hoàn toàn mù tịt về những thị trấn sầm uất hay những tụ điểm đông đúc nhộn nhịp. Căn nhà tranh của những người bảo bọc tôi chính là ngôi trường duy nhất từng dạy tôi về bản ngã con người; nhưng những trang sách này lại hé mở ra trước mắt tôi những vũ đài rộng lớn và hùng tráng hơn gấp bội. Tôi say sưa đọc về những vĩ nhân dấn thân vào chuyện quốc gia đại sự, những kẻ cai trị hoặc thậm chí là tàn sát chính đồng loại của mình. Tôi cảm nhận được ngọn lửa đam mê mãnh liệt nhất dành cho đức hạnh đang bùng cháy trong huyết quản, cùng với đó là sự ghê tởm tột độ dành cho cái ác, dẫu cho sự hiểu biết của tôi về những khái niệm ấy vẫn còn rất đỗi tương đối, chỉ đơn thuần dựa trên sự đo lường giữa niềm vui và nỗi đau. Chắp cánh bởi những xúc cảm ấy, một cách tự nhiên, tôi được dẫn lối để sùng bái những nhà lập pháp vì hòa bình như Numa, Solon, và Lycurgus3, hơn là những kẻ như Romulus hay Theseus4. Chính nếp sống gia trưởng giản dị, êm đềm của những ân nhân đã giúp cho những ấn tượng ấy bám rễ sâu vào tâm thức tôi; có lẽ, giả như bước ngoặt đầu đời của tôi với nhân loại được dẫn dắt bởi một chiến binh trẻ tuổi, kẻ hừng hực ngọn lửa vinh quang và chết chóc, thì tâm hồn tôi ắt hẳn đã bị tiêm nhiễm bởi những xúc cảm hoàn toàn khác biệt.”

“Nhưng Thiên Đường Đã Mất lại thức tỉnh trong tôi những xúc cảm muôn phần sâu sắc và khác biệt. Cũng giống như những cuốn sách từng tình cờ rơi vào tay mình, tôi nghiền ngẫm tác phẩm ấy như một pho sử có thật. Bức tranh về một Thượng đế toàn năng khai chiến với chính những sinh thể do Người tạo ra đã khuấy động trong tôi sự kinh ngạc xen lẫn nỗi sợ hãi tột cùng. Bất cứ khi nào bắt gặp những tình tiết tương đồng, tôi lại đem đối chiếu với số phận của chính mình. Tựa như Adam5, tôi dường như được sinh ra mà chẳng mang theo bất kỳ sợi dây liên kết nào với muôn loài đang hiện hữu; nhưng ở mọi phương diện khác, hoàn cảnh của ông ấy lại cách tôi cả một vực thẳm. Adam bước ra từ bàn tay của Thượng đế như một tạo tác hoàn mỹ, ngập tràn hạnh phúc và viên mãn, được Đấng Sáng Tạo chở che bằng tình yêu thương đặc biệt. Ông ấy được phép trò chuyện và hấp thụ tri thức từ những sinh thể siêu việt; trong khi tôi chỉ là một kẻ khốn khổ, bơ vơ và hoàn toàn cô độc. Đã không ít lần, tôi cay đắng nhận ra Satan6 mới chính là hiện thân chân thực nhất cho số phận của mình. Bởi lẽ, cũng như ác quỷ, mỗi khi chứng kiến niềm hạnh phúc của những người đã bảo bọc mình, thứ mật đắng của lòng đố kỵ lại dâng trào và thiêu đốt tâm can tôi.

“Và rồi, một sự kiện khác đã đến, như một đòn giáng mạnh mẽ củng cố thêm những cảm xúc cay đắng ấy. Chẳng bao lâu sau khi tìm được nơi trú ẩn tại túp lều, tôi phát hiện ra vài tờ giấy trong túi bộ quần áo từng lấy đi từ phòng thí nghiệm của ngài. Ban đầu, tôi chẳng hề bận tâm. Thế nhưng giờ đây, khi đã đủ khả năng giải mã những ký tự trên mặt giấy, tôi bắt đầu say sưa nghiên cứu. Đó chính là cuốn nhật ký ngài viết trong suốt bốn tháng trước khi ban cho tôi sự sống. Từng bước tiến hành công việc thí nghiệm đều được ngài ghi chép lại một cách vô cùng tỉ mỉ, đan xen cùng những sự kiện xảy ra trong gia đình. Chắc chắn ngài vẫn còn nhớ những trang viết này. Chúng đây. Mọi bí mật về nguồn gốc khốn khiếp của tôi đều được phơi bày trần trụi. Toàn bộ chuỗi sự việc kinh tởm dẫn đến sự ra đời của tôi đều được lột tả cặn kẽ; và cả những lời miêu tả chi tiết nhất về diện mạo gớm ghiếc, đáng tởm của tôi cũng hiện diện trên đó. Những ngôn từ ấy họa nên nỗi kinh hoàng của chính ngài, đồng thời gieo vào lòng tôi một nỗi khiếp đảm không thể nào gột rửa. Cảm giác buồn nôn quặn thắt lấy tôi khi đọc chúng. ‘Đáng nguyền rủa thay cái ngày ta được trao cho sự sống!’ tôi gào lên trong tột cùng đau đớn. ‘Kẻ sáng tạo tàn nhẫn! Tại sao ngài lại nhào nặn ra một con quái vật quá đỗi kinh tởm, đến mức chính ngài cũng phải quay lưng đi trong sự ghê sợ? Bằng lòng xót thương, Thượng đế đã họa nên con người tinh khôi và đẹp đẽ theo hình mẫu của chính Người; nhưng hình hài này của tôi lại là một thứ cặn bã mô phỏng từ ngài, và chính sự tương đồng ấy càng khiến nó trở nên kinh hãi gấp bội. Ngay cả Satan còn có những kẻ đồng hành, những ác quỷ đồng loại kề cận để ngưỡng mộ và sát cánh; còn tôi lại bơ vơ lạc lõng giữa sự ruồng rẫy và lòng căm hận của thế gian.’

“Đó là những tâm tư quẩn quanh trong những khắc khoải tuyệt vọng và cô độc của tôi. Thế nhưng, mỗi khi ngắm nhìn những phẩm chất cao quý của gia đình nông dân ấy, về bản ngã đáng yêu và đầy ắp nhân từ của họ, tôi lại tự nhủ lòng rằng một khi họ thấu hiểu được sự ngưỡng vọng thiết tha tôi dành cho tâm hồn họ, họ sẽ rủ lòng thương xót, và thứ tha cho cái nhân dạng gớm ghiếc này. Lẽ nào họ lại nhẫn tâm xua đuổi khỏi ngưỡng cửa một kẻ - dẫu mang hình hài quái dị đến nhường nào - đang khẩn thiết van lơn chút lòng trắc ẩn và tình bằng hữu? Tôi quyết tâm gạt bỏ sự tuyệt vọng, dốc lòng sửa soạn cho cuộc tương phùng định mệnh sắp tới, cuộc gặp gỡ sẽ phán quyết tương lai của tôi. Tôi đã trì hoãn mong mỏi này thêm vài tháng, bởi lẽ ván cược sinh tử này gieo vào tôi nỗi run rẩy tột cùng nếu lỡ mai thất bại. Hơn nữa, tôi nhận thấy trí tuệ của mình ngày một rộng mở qua từng trải nghiệm thực tại, nên tôi nán lại thêm một thời gian để trau dồi thêm sự khôn ngoan trước khi chính thức diện kiến.

“Trong khi ấy, mái tranh nghèo cũng chứng kiến muôn vàn đổi thay. Sự hiện diện của nàng Safie như luồng sinh khí gieo rắc niềm hân hoan lên những phận người trú ngụ nơi đây; và tôi cũng lờ mờ nhận ra cuộc sống của họ dường như đã no đủ hơn. Chàng Felix và nàng Agatha giờ có thêm thời gian để chuyện trò và tiêu khiển, nhờ có người hầu đỡ đần việc vặt. Tuy chẳng có vẻ gì là dư dả, nhưng họ ánh lên sự mãn nguyện và ngập tràn hạnh phúc; tâm hồn họ bình lặng và thanh thản bao nhiêu, thì thâm tâm tôi lại cuộn trào giông bão bấy nhiêu. Trí tuệ càng mở mang bao nhiêu, tôi càng cay đắng nhận ra thân phận kẻ đứng bên lề của mình bấy nhiêu. Phải, tôi từng nâng niu một tia hy vọng; nhưng rồi nó vỡ vụn, hệt như ảo ảnh lung linh và cái bóng chập chờn vô định kia, mỗi khi tôi soi mình xuống dòng nước trong veo, hay vô tình bắt gặp cái bóng quái gở của chính mình dưới bóng trăng lạnh lẽo.

“Tôi cố oằn mình bóp nghẹt nỗi sợ hãi chực chờ nuốt chửng lấy bản thân, dồn hết nhuệ khí cho bài kiểm tra mà tôi đinh ninh phải đối diện trong vài tháng tới. Đôi lúc, tôi thả trôi tâm trí mình, rũ bỏ mọi xiềng xích của lý trí, để mặc cõi lòng lang bạt giữa những cánh đồng Địa đàng7. Tôi thậm chí còn cả gan mường tượng ra những tinh túy đáng yêu, dịu dàng đang thổn thức cùng những rung cảm nơi tôi, xua tan màn sương mù u ám; những dung nhan tựa thiên thần ấy đang sưởi ấm hồn tôi bằng những nụ cười ủi an. Nhưng hỡi ôi, tất thảy chỉ là một giấc mộng phù du: chẳng có nàng Eva8 nào kề cạnh vuốt ve nỗi sầu muộn hay san sẻ tâm tư cùng tôi; tôi trơ trọi một mình trong cõi nhân sinh này. Tôi xót xa nhớ lại lời khẩn cầu của Adam dành cho Đấng Tạo Hóa của mình; thế nhưng Đấng Tạo Hóa của tôi đang ở chốn nao? Ngài đã vứt bỏ tôi rồi, và, trong tận cùng sâu thẳm của một trái tim rỉ máu, tôi đã buông lời nguyền rủa ngài.

“Mùa thu âm thầm lướt qua. Tôi sững sờ xen lẫn bi thương khi chứng kiến những chiếc lá héo úa và rụng lả tả, nhường chỗ cho thiên nhiên khoác lên mình tấm áo cằn cỗi và thê lương, hệt như cái ngày đầu tiên tôi ngẩn ngơ trước cảnh sắc rừng núi và vầng trăng diệu kỳ. Dẫu vậy, tôi chẳng mấy bận tâm đến thời tiết khắc nghiệt; cấu tạo thể chất dị thường cho phép tôi chống chọi với cái lạnh buốt giá tốt hơn là cái nóng bức bối. Mất đi thú vui lớn nhất là mải mê say đắm trước những đóa hoa, những bầy chim chóc và xiêm y lộng lẫy của mùa hạ, tôi đổ dồn mọi sự chú ý về phía gia đình người nông dân. Hạnh phúc của họ chẳng hề phai nhạt khi mùa hạ đã tàn phai. Họ đùm bọc và đồng cảm với nhau; niềm vui của họ được thắp lên từ chính những người thân yêu nhất, chẳng hề xao động bởi những biến thiên của ngoại cảnh. Càng quan sát họ, khao khát được sưởi ấm trong vòng tay nhân từ của họ càng bùng cháy mãnh liệt; trái tim tôi gào thét khát vọng được những con người thánh thiện ấy thừa nhận và yêu thương. Được thấy những ánh mắt dịu dàng ánh lên sự trìu mến hướng về phía mình, đó đã là cái đích cuối cùng cho tham vọng còm cõi của tôi. Tôi chẳng dám mường tượng đến cảnh họ sẽ chối bỏ tôi trong sự khinh miệt và hãi hùng. Những người khốn khổ tá túc trước cửa nhà họ chưa từng bị xua đuổi bao giờ. Sự thực là, thứ tôi mong mỏi còn quý giá hơn vạn lần những miếng ăn hay giấc ngủ; tôi cần lòng tốt và sự cảm thông cơ; nhưng tôi tin chắc rằng, dẫu sinh ra từ vũng bùn lầy, tôi cũng không đến nỗi hoàn toàn không xứng đáng với ân huệ ấy.

“Mùa đông chầm chậm kéo tới, khép lại một vòng tuần hoàn trọn vẹn của đất trời kể từ cái giây phút tôi mở mắt chào đời. Tâm trí tôi lúc này dồn cả vào việc lập mưu để bước chân vào ngôi nhà tranh của những vị ân nhân trong mộng. Tôi đã vạch ra đủ mọi viễn cảnh, nhưng rồi quyết định hạ cược vào một nước đi táo bạo: tôi sẽ bước vào nhà lúc ông lão mù lòa chỉ có một mình. Tôi đủ nhạy bén để ngộ ra rằng, chính cái nhân dạng gớm ghiếc trái với luân thường đạo lý này mới là nguồn cơn gieo rắc sự khiếp đảm cho bất cứ ai xui xẻo chạm mặt tôi. Giọng nói của tôi, dẫu có khàn đục thô ráp, thì tựu trung cũng chẳng có gì đáng sợ; do đó, tôi đinh ninh rằng, nhân lúc những người con của ông vắng nhà, nếu tôi đoạt được thiện cảm và sự chở che của ông lão De Lacey, thì biết đâu đấy, nhờ có ông, tôi sẽ được những người trẻ tuổi hơn cưu mang.

“Một ngày nọ, khi vạt nắng nhạt nhòa lướt qua những chiếc lá đỏ úa rụng đầy trên mặt đất, mang theo chút tươi sáng mỏng manh nhưng chẳng thể xua tan đi cái lạnh giá, nàng Safie, nàng Agatha và chàng Felix quyết định dạo bước quanh vùng nông thôn. Theo đúng ý nguyện của mình, ông lão chọn ở lại một mình trong căn nhà tranh bé nhỏ. Khi những người con đã rời đi, ông chậm rãi nâng cây đàn guitar lên, khẽ khàng gảy những khúc nhạc sầu thảm mà vô cùng da diết, những âm điệu ngọt ngào và bi ai hơn bất cứ thanh âm nào tôi từng nghe ông tấu lên trước đó. Thoạt đầu, gương mặt ông bừng lên một niềm vui nhẹ nhõm, thế nhưng, khi phím đàn tiếp tục rung lên, bóng dáng của sự trầm tư và nỗi u sầu dần thay thế. Cuối cùng, ông đặt nhạc cụ sang một bên, chìm sâu vào cõi suy tưởng miên man.

“Trái tim tôi đập thình thịch liên hồi. Đây chính là thời khắc định mệnh, phút giây thử thách sẽ quyết định những mầm hy vọng tôi hằng ấp ủ, hoặc sẽ xô ngã tôi vào vực thẳm của nỗi sợ hãi tột cùng. Những người hầu trong vùng đã rủ nhau đi xem một phiên chợ gần đó. Không gian bên trong và xung quanh ngôi nhà tranh chìm vào một sự tĩnh lặng tuyệt đối: đó là một cơ hội ngàn vàng. Thế nhưng, khi tôi toan bước đi để thực hiện kế hoạch của mình, chân tay tôi bỗng chốc rụng rời, và tôi đổ gục xuống nền đất lạnh lẽo. Tôi lảo đảo gượng dậy, vắt kiệt chút dũng khí ít ỏi còn sót lại trong mình, rồi dời những tấm ván tôi từng đặt trước túp lều để che giấu nơi ẩn nấp. Luồng không khí trong lành ùa vào làm tôi bừng tỉnh, và, với lòng quyết tâm vừa được nhen nhóm lại, tôi bước về phía cánh cửa ngôi nhà tranh.

“Tôi gõ cửa. ‘Ai đó?’ ông lão lên tiếng - ‘Mời vào.’

“Tôi bước vào trong; ‘Xin thứ lỗi vì sự đường đột này,’ tôi cất lời, ‘tôi là một lữ khách đang khao khát một chốn nghỉ chân; ông sẽ làm một ơn huệ lớn, nếu ông rủ lòng thương cho phép tôi được sưởi ấm vài phút bên bếp lửa nhà mình.’

“‘Cứ vào đi,’ ông De Lacey đáp lời; ‘tôi sẽ xem mình có thể giúp anh nguôi ngoai phần nào không. Nhưng thật không may, các con tôi đều đã đi vắng, và vì đôi mắt đã mù lòa, tôi e rằng mình khó lòng chuẩn bị được cho anh chút thức ăn đàng hoàng.’

“‘Xin ngài đừng bận lòng, hỡi vị chủ nhà tốt bụng. Tôi đã mang sẵn thức ăn rồi; chút hơi ấm và sự nghỉ ngơi mới là những điều duy nhất tôi đang khẩn khoản tìm kiếm lúc này.’

“Tôi ngồi xuống, và một bầu không khí im lặng bao trùm lấy hai người. Tôi thừa biết rằng từng giây từng phút lúc này đều quý giá tựa ngàn vàng, vậy mà tôi vẫn cứ do dự, chẳng biết phải mở lời ra sao. Giữa lúc ấy, ông lão bỗng cất tiếng-

“‘Nghe qua chất giọng của anh, hỡi người khách lạ, tôi đoán anh là đồng hương của tôi;-anh là người Pháp có phải không?’

“‘Không thưa ông; nhưng tôi được một gia đình người Pháp nuôi dạy, và chỉ hiểu được ngôn ngữ đó. Tôi đang trên đường tìm kiếm sự cưu mang từ vài người bạn, những người mà tôi chân thành yêu mến, và tôi đặt trọn vẹn hy vọng vào lòng tốt của họ.’

“‘Họ có phải là người Đức không?’

“‘Không, họ là người Pháp. Nhưng xin chúng ta hãy đổi chủ đề. Tôi là một sinh linh vô cùng khốn khổ và lạc loài; tôi nhìn quanh quất, và nhận ra mình chẳng có lấy một bóng hình ruột thịt hay một người bạn nào trên cõi đời này. Những con người đáng mến mà tôi đang cất công tìm kiếm chưa từng một lần gặp mặt tôi, và hầu như chẳng biết chút gì về tôi. Lòng tôi giờ đây đang bị bủa vây bởi muôn vàn nỗi sợ hãi; bởi lẽ nếu tôi thất bại, tôi sẽ vĩnh viễn là một kẻ bị cả thế giới ruồng rẫy.’

“‘Xin anh đừng tuyệt vọng. Không có lấy một người bạn quả thực là một nỗi bất hạnh tột cùng; thế nhưng, trái tim con người, khi không bị vẩn đục bởi những định kiến hay tư lợi tầm thường, vốn luôn đong đầy tình yêu thương đồng loại và lòng bác ái bao la. Vì thế, hãy vững tin vào những hy vọng của anh; và nếu những người bạn đó thực sự là những con người tử tế và đáng mến, xin anh đừng vội bỏ cuộc.’

“‘Họ rất đỗi tốt bụng - họ là những sinh thể tuyệt vời nhất trên thế gian này; nhưng, thật cay đắng thay, họ lại mang trong lòng định kiến sâu nặng về tôi. Tôi vốn dĩ có một bản tính lương thiện; cuộc đời tôi cho đến tận lúc này vẫn hoàn toàn vô hại, và, ở một khía cạnh nào đó, tôi còn mang lại ích lợi; thế nhưng một định kiến chí mạng đã che khuất đôi mắt họ. Đáng lẽ ra họ phải nhìn thấy một người bạn chan chứa cảm xúc và đôn hậu, thì họ lại chỉ mường tượng ra một con quái vật đáng ghê tởm.’

“‘Đó quả thực là một nỗi bất hạnh; nhưng nếu anh thực sự không có lỗi lầm gì, lẽ nào anh không thể giúp họ nhận ra sự thật sao?’

“‘Tôi sắp sửa bước vào nhiệm vụ khó khăn đó đây; và chính vì lý do ấy mà bao nỗi khiếp sợ đang siết chặt lấy tâm trí tôi. Tôi yêu thương những người bạn này bằng một tình cảm đằm thắm nhất; tôi đã, mà họ chẳng hề hay biết, suốt nhiều tháng trời miệt mài âm thầm giúp đỡ họ mỗi ngày. Vậy mà họ lại khăng khăng tin rằng tôi mang dã tâm hãm hại họ, và cái định kiến nghiệt ngã đó chính là bức tường thành mà tôi đang khao khát được đập tan.’

“‘Những người bạn này của anh hiện đang sống ở đâu?’

“‘Ngay gần nơi này thôi.’

“Ông lão thoáng khựng lại, rồi chậm rãi tiếp lời, ‘Nếu anh sẵn lòng giãi bày thẳng thắn với tôi những góc khuất trong câu chuyện của anh, biết đâu tôi lại có thể giúp ích phần nào trong việc hóa giải những hiểu lầm, để họ nhận ra sự thật. Tôi bị mù, không thể nhìn thấy khuôn mặt anh, nhưng có điều gì đó trong từng lời nói của anh đã thuyết phục tôi rằng anh là một người chân thành. Tôi tuy nghèo khổ, và cũng là một kẻ lưu đày nơi đất khách; nhưng tôi sẽ cảm thấy thực sự hạnh phúc nếu có thể giúp đỡ một con người bằng bất cứ cách nào.’

“‘Hỡi người đàn ông tuyệt vời! Tôi xin cúi đầu tạ ơn ông, và xin đón nhận lời đề nghị vô cùng hào hiệp này. Ông đã nâng đỡ tôi lên từ tận cùng cát bụi bằng chính lòng nhân hậu của mình; và tôi vững tin rằng, nhờ sự trợ giúp của ông, tôi sẽ không bị đuổi khỏi xã hội loài người hay mất đi sự đồng cảm từ những người đồng loại của ông.’

“‘Xin Chúa chứng giám cho điều đó! Ngay cả khi anh thực sự mang tội; bởi vì sự ruồng bỏ chỉ có thể dồn ép anh vào bước đường cùng của sự tuyệt vọng, chứ không thể dẫn lối anh hướng tới đức hạnh. Tôi cũng là một kẻ bất hạnh nếm trải đủ cay đắng; tôi và gia đình mình từng bị kết án, dù chúng tôi hoàn toàn vô tội. Vì thế, anh hãy cứ tự mình phán xét xem, liệu tôi có thể không thấu hiểu cho những nỗi đau của anh hay không.’

“‘Biết lấy gì để cảm tạ ông đây, hỡi vị ân nhân duy nhất và tuyệt vời nhất của tôi? Từ chính đôi môi của ông, lần đầu tiên trong đời tôi được nghe thấy những lời lẽ đong đầy lòng nhân ái hướng về phía mình; tôi sẽ mãi mãi ghi tạc ân tình này. Và lòng nhân đạo cao cả của ông trong giờ phút này đã thắp lên trong tôi niềm tin mãnh liệt vào sự thành công trước những người bạn mà tôi sắp sửa đối mặt.’

“‘Tôi có thể vinh hạnh được biết tên và nơi ở của những người bạn đó không?’

“Tôi sững lại. Đây, tôi thầm nghĩ, chính là khoảnh khắc phán quyết, thời khắc sẽ tước đoạt của tôi tất cả, hoặc sẽ ban tặng cho tôi niềm hạnh phúc vĩnh hằng. Tôi vùng vẫy trong tuyệt vọng để gom góp chút kiên định cuối cùng nhằm trả lời ông, nhưng nỗ lực đó dường như đã vắt kiệt chút sức lực tàn tạ trong tôi; tôi đổ gục xuống ghế, bật khóc nức nở. Ngay chính khoảnh khắc nghẹt thở ấy, tôi bỗng nghe thấy những tiếng bước chân của những người bảo bọc trẻ tuổi. Không còn một giây phút nào để do dự nữa; tôi vội vàng nắm chặt lấy bàn tay ông lão, thống thiết kêu lên: ‘Bây giờ chính là lúc đó!-xin hãy cứu rỗi và che chở cho tôi! Ông và gia đình ông chính là những người bạn mà tôi đang mỏi mòn tìm kiếm. Xin đừng bỏ rơi tôi trong giờ phút sinh tử này!’

“‘Lạy Chúa lòng lành!’ ông lão kinh hãi thốt lên, ‘anh rốt cuộc là ai?’

“Vào đúng khoảnh khắc đó, cánh cửa ngôi nhà tranh bật mở. Chàng Felix, nàng Safie và nàng Agatha bước vào. Có ngôn từ nào lột tả được nỗi kinh hoàng và sững sờ hằn rõ trên gương mặt họ khi chạm mắt với tôi? Nàng Agatha ngất lịm đi; còn nàng Safie, hoảng loạn đến mức chẳng thể nán lại đỡ đần người bạn mình, lao vụt ra khỏi ngôi nhà. Chàng Felix xông thẳng tới, và bằng một sức mạnh phi thường, chàng giằng phắt tôi ra khỏi người cha mà tôi đang ôm ghì lấy đầu gối. Trong cơn cuồng nộ tột bậc, chàng quật tôi ngã nhào xuống đất, rồi vung gậy nện lên người tôi những đòn hung bạo. Lẽ ra, tôi thừa sức xé xác chàng thành trăm mảnh, dễ dàng như con mãnh sư xé toạc một con linh dương. Thế nhưng, cõi lòng tôi khi ấy đã chìm sâu xuống tận cùng vực thẳm đắng cay, và tôi cắn răng kìm mình lại. Thấy chàng chuẩn bị giáng thêm một đòn tàn nhẫn nữa, tôi đành lùi bước, hoàn toàn gục ngã trước nỗi đau đớn thể xác lẫn sự giày vò tâm can. Nhân lúc mọi người đang rối loạn, tôi chạy vụt khỏi ngôi nhà, lủi thẳng về cái ổ tồi tàn của mình mà chẳng một ai hay biết.”


“Ngay khoảnh khắc định mệnh ấy, cánh cửa căn nhà gỗ bật mở. Chàng Felix, nàng Safie và nàng Agatha bước vào. Bút mực nào có thể thấu tả nỗi kinh hoàng và vẻ sững sờ tột độ in hằn trên gương mặt họ khi đối diện với tôi? Nàng Agatha lịm người, gục ngã; còn nàng Safie, chẳng màng đến việc đỡ lấy người bạn thiết tha, đã hoảng loạn lao vút ra ngoài. Felix chồm tới bằng một luồng sức mạnh phi thường, giằng phắt tôi ra khỏi người cha già mà tôi đang tuyệt vọng bấu víu lấy đôi đầu gối. Trong cơn cuồng nộ bừng bừng, chàng quật tôi ngã nhào xuống đất, rồi vung gậy giáng xuống thân thể tôi những đòn thù tàn khốc. Lẽ ra tôi đã có thể xé xác chàng thành trăm mảnh, dễ dàng như chúa sơn lâm vồ xé con linh dương non nớt. Nhưng không, trái tim tôi lúc bấy giờ đã chìm sâu trong hố thẳm của muôn vàn cay đắng; và tôi đã cắn răng cam chịu. Thấy chàng lại lăm lăm chực giáng thêm một đòn nữa, tôi đành để nỗi đớn đau cùng sự dằn vặt sâu xé khuất phục, vội vã lùi bước khỏi mái tranh. Giữa cảnh tượng hỗn loạn bủa vây, tôi tháo chạy, lẩn trốn về chốn túp lều tăm tối của mình mà không một ai hay biết.”




  1. Tác phẩm 'Parallel Lives' của sử gia Hy Lạp Plutarch (thế kỷ 1), ghi chép tiểu sử các vĩ nhân Hy Lạp và La Mã cổ đại. Cuốn sách này giúp Quái vật hình thành nhận thức về đạo đức, lịch sử nhân loại và sự vĩ đại cũng như tàn ác của loài người. 

  2. Tiểu thuyết 'Die Leiden des jungen Werthers' (1774) của đại văn hào Đức Goethe. Tác phẩm lãng mạn kinh điển này mang đến cho Quái vật khái niệm sâu sắc về tình yêu tuyệt vọng, sự giằng xé nội tâm và sự bế tắc dẫn đến cái chết tự nguyện. 

  3. Tên của các vị vua và nhà lập pháp vĩ đại thời cổ đại (Numa của La Mã, Solon của Athens, Lycurgus của Sparta), những người nổi tiếng với việc xây dựng luật pháp, hòa bình và trật tự xã hội. 

  4. Tên của những vị anh hùng và vua lập quốc huyền thoại (Romulus của Rome, Theseus của Athens), nhưng sự nghiệp của họ lại gắn liền với bạo lực, chiến tranh chinh phạt và huynh đệ tương tàn. 

  5. Con người đầu tiên được Chúa tạo ra theo Kinh Thánh. Quái vật tự so sánh mình với Adam vì cả hai đều là thụ tạo đầu tiên trong loài của mình, nhưng Adam được Đấng Tạo Hóa yêu thương chở che, còn nó thì bị ruồng bỏ. 

  6. Thiên thần sa ngã trong tác phẩm 'Thiên Đường Đã Mất', kẻ nổi loạn chống lại Chúa và bị đày xuống địa ngục. Quái vật thấy sự tương đồng sâu sắc với Satan ở nỗi cô độc vĩnh hằng và lòng đố kỵ trước hạnh phúc của người khác. 

  7. Vườn Eden trong Kinh Thánh, biểu tượng cho trạng thái nguyên sơ thuần khiết, viên mãn và hạnh phúc tuyệt đối của con người trước khi sa ngã. 

  8. Người phụ nữ đầu tiên trong Kinh Thánh, được Chúa tạo ra để làm bạn đời san sẻ cùng Adam. Quái vật tuyệt vọng khao khát một người bạn đồng hành tương tự để xua tan nỗi cô độc cùng cực của mình.