CHƯƠNG VII.
“Đó là câu chuyện về những người nông phu yêu dấu của tôi. Cứ thế, nó khắc sâu vào tâm khảm. Qua lăng kính về đời sống xã hội mà câu chuyện ấy hé mở, tôi học được cách ngưỡng vọng những đức tính cao đẹp của họ, đồng thời kinh tởm trước những thói hư tật xấu của nhân loại.
“Cho đến thời điểm ấy, tội ác trong mắt tôi vẫn chỉ là một thứ bóng tối xa vời vợi. Trái lại, lòng nhân từ và sự hào hiệp thì luôn hiện hữu ngay trước mắt, thổi bùng trong tôi niềm khao khát cháy bỏng được sắm một vai giữa tấn trò đời rộn rã, nơi biết bao phẩm chất cao quý được phô bày và tỏa sáng. Thế nhưng, trong lúc hồi tưởng lại hành trình khai mở tâm trí của mình, tôi không thể nào bỏ qua một sự kiện tình cờ xảy đến vào đầu tháng Tám năm đó.
“Một đêm nọ, giữa chuyến dạo bước thường nhật vào khu rừng lân cận để kiếm chút thức ăn lót dạ và nhặt nhạnh củi khô mang về cho những người bảo bọc mình, tôi vô tình bắt gặp một chiếc túi da nằm chỏng chơ trên mặt đất. Bên trong là vài món quần áo cùng mấy cuốn sách cũ. Háo hức như vớ được vàng, tôi cuỗm ngay lấy món chiến lợi phẩm ấy rồi mang thẳng về túp lều rách nát của mình. Thật may mắn thay, những cuốn sách nọ lại được in bằng đúng thứ ngôn ngữ mà tôi vừa nằm lòng được đôi chút nền tảng nơi ngôi nhà tranh; chúng bao gồm kiệt tác Thiên Đường Đã Mất, một tập trong bộ Tiểu Sử Nổi Bật của Plutarch1, và Nỗi Đau Của Chàng Werther2. Kho báu vô giá này đã ban cho tôi một niềm hân hoan tột đỉnh; để rồi từ đó, trong lúc những người bạn của tôi còn đang tất bật với nhịp sống thường nhật, tôi không ngừng trau dồi và mài giũa tâm trí mình qua những trang sử ngập tràn cảm xúc ấy.
“Ngài khó lòng mường tượng nổi sức mạnh vần xoay của những trang sách ấy lên tâm hồn tôi. Chúng khơi dậy trong tôi vô vàn ảo ảnh và xúc cảm mới mẻ; khi thì chắp cánh đưa tôi bay bổng tột cùng trong cơn ngây ngất, nhưng lắm lúc lại nhận chìm tôi xuống đáy sâu tuyệt vọng. Đọc Nỗi Đau Của Chàng Werther, bên cạnh sự đắm chìm vào cốt truyện giản dị mà bi thương, tôi còn bị cuốn vào biết bao luồng tư tưởng sâu sắc. Vô số tia sáng rực rỡ đã rọi chiếu vào những góc khuất lấp mà cho tới tận lúc bấy giờ, trí óc tôi vẫn còn quẩn quanh trong màn đêm đặc quánh. Nơi đó, tôi đã khám phá ra cả một mạch ngầm vô tận của những suy tưởng và sự kinh ngạc. Những nếp sống dịu êm, chan chứa hơi ấm gia đình mà cuốn sách vẽ nên, hòa quyện cùng những rung động tinh tế và cao thượng - những thứ luôn hướng con người ta vượt lên trên cái tôi chật hẹp - lại đồng điệu đến lạ kỳ với những gì tôi hằng cảm nhận giữa vòng tay những người ân nhân của mình, và cả với những khao khát luôn sục sôi nơi huyết quản. Nhưng với tôi, chính bản thân Werther lại là một sinh thể mang đầy tính thần thánh, vượt xa bất cứ ai tôi từng chứng kiến hay mường tượng ra. Tính cách của chàng chẳng mang chút khiên cưỡng, phô trương, thế mà lại khắc tạc sâu đậm vào tâm trí. Những dòng triết lý về cái chết và sự tự vẫn đã lấp đầy tâm hồn tôi bằng một nỗi sững sờ khó tả. Tôi nào dám lạm bàn về tính đúng sai của vấn đề ấy, nhưng lòng tôi lại bất giác ngả về phía những suy tư của vị anh hùng nọ. Tôi đã rơi những giọt lệ xót thương cho sự diệt vong của chàng, dẫu cho bản thân chẳng thể thấu hiểu cặn kẽ mọi bề.
“Dẫu vậy, xuyên suốt những trang sách, tôi vẫn không ngừng mang những vần chữ ấy ra đối chiếu với cảm xúc và cảnh ngộ của chính mình. Tôi lờ mờ nhận ra bản thân có đôi nét tương đồng, nhưng đồng thời lại lạc lõng đến dị kỳ so với những sinh mệnh mà tôi đang nghiền ngẫm, và cả với những con người mà tôi hằng ngày vẫn nấp bóng để nghe trộm chuyện trò. Tôi phần nào đồng cảm và thấu hiểu họ, thế nhưng tâm trí tôi vẫn như một mảnh đất hoang sơ chưa thành hình; tôi chẳng nương tựa vào ai, cũng chẳng mang chút mối dây liên kết nào với thế giới này. ‘Con đường ra đi của tôi hoàn toàn tự do;’ và sẽ chẳng có lấy một ai phải xót xa tuôn lệ cho sự lụi tàn của tôi. Hình hài tôi gớm ghiếc, vóc dáng tôi khổng lồ dị dạng: tất cả những điều này rốt cuộc có ý nghĩa gì? Tôi là ai? Tôi là thứ quái thai nào? Tôi từ cõi nào bước ra? Và đâu sẽ là chốn nương thân cuối cùng của đời tôi? Những câu hỏi ấy cứ đau đáu dội lặp đi lặp lại, mài mòn tâm trí, nhưng tôi lại hoàn toàn bất lực trong việc tự tìm ra cho mình một lời giải đáp.
“Tập sách Tiểu Sử Nổi Bật của Plutarch mà tôi có được, mở ra một chân trời lịch sử về những người tiên phong xây dựng nền cộng hòa cổ đại. Cuốn sách này lại dội vào tâm hồn tôi một luồng tác động trái ngược hoàn toàn so với Nỗi Đau Của Chàng Werther. Nếu những mộng tưởng của Werther gieo rắc vào lòng tôi nỗi bi quan và tuyệt vọng, thì Plutarch lại khai sáng cho tôi những tư tưởng vĩ đại. Ông nâng bổng tôi thoát khỏi cái kén chật hẹp của những quẩn quanh cá nhân, để từ đó biết ngưỡng vọng và tôn kính những vì tinh tú anh hùng của các thời đại đã qua. Nhiều điều tôi đọc được đã vượt xa tầm hiểu biết và kinh nghiệm ít ỏi của bản thân. Tôi chỉ mang máng hình dung về những đế quốc huy hoàng, những thảo nguyên bao la, những dòng sông cuộn chảy, và cả những đại dương thăm thẳm. Nhưng tôi lại hoàn toàn mù tịt về những thị trấn sầm uất hay những tụ điểm đông đúc nhộn nhịp. Căn nhà tranh của những người bảo bọc tôi chính là ngôi trường duy nhất từng dạy tôi về bản ngã con người; nhưng những trang sách này lại hé mở ra trước mắt tôi những vũ đài rộng lớn và hùng tráng hơn gấp bội. Tôi say sưa đọc về những vĩ nhân dấn thân vào chuyện quốc gia đại sự, những kẻ cai trị hoặc thậm chí là tàn sát chính đồng loại của mình. Tôi cảm nhận được ngọn lửa đam mê mãnh liệt nhất dành cho đức hạnh đang bùng cháy trong huyết quản, cùng với đó là sự ghê tởm tột độ dành cho cái ác, dẫu cho sự hiểu biết của tôi về những khái niệm ấy vẫn còn rất đỗi tương đối, chỉ đơn thuần dựa trên sự đo lường giữa niềm vui và nỗi đau. Chắp cánh bởi những xúc cảm ấy, một cách tự nhiên, tôi được dẫn lối để sùng bái những nhà lập pháp vì hòa bình như Numa, Solon, và Lycurgus3, hơn là những kẻ như Romulus hay Theseus4. Chính nếp sống gia trưởng giản dị, êm đềm của những ân nhân đã giúp cho những ấn tượng ấy bám rễ sâu vào tâm thức tôi; có lẽ, giả như bước ngoặt đầu đời của tôi với nhân loại được dẫn dắt bởi một chiến binh trẻ tuổi, kẻ hừng hực ngọn lửa vinh quang và chết chóc, thì tâm hồn tôi ắt hẳn đã bị tiêm nhiễm bởi những xúc cảm hoàn toàn khác biệt.”
“Nhưng Thiên Đường Đã Mất lại thức tỉnh trong tôi những xúc cảm muôn phần sâu sắc và khác biệt. Cũng giống như những cuốn sách từng tình cờ rơi vào tay mình, tôi nghiền ngẫm tác phẩm ấy như một pho sử có thật. Bức tranh về một Thượng đế toàn năng khai chiến với chính những sinh thể do Người tạo ra đã khuấy động trong tôi sự kinh ngạc xen lẫn nỗi sợ hãi tột cùng. Bất cứ khi nào bắt gặp những tình tiết tương đồng, tôi lại đem đối chiếu với số phận của chính mình. Tựa như Adam5, tôi dường như được sinh ra mà chẳng mang theo bất kỳ sợi dây liên kết nào với muôn loài đang hiện hữu; nhưng ở mọi phương diện khác, hoàn cảnh của ông ấy lại cách tôi cả một vực thẳm. Adam bước ra từ bàn tay của Thượng đế như một tạo tác hoàn mỹ, ngập tràn hạnh phúc và viên mãn, được Đấng Sáng Tạo chở che bằng tình yêu thương đặc biệt. Ông ấy được phép trò chuyện và hấp thụ tri thức từ những sinh thể siêu việt; trong khi tôi chỉ là một kẻ khốn khổ, bơ vơ và hoàn toàn cô độc. Đã không ít lần, tôi cay đắng nhận ra Satan6 mới chính là hiện thân chân thực nhất cho số phận của mình. Bởi lẽ, cũng như ác quỷ, mỗi khi chứng kiến niềm hạnh phúc của những người đã bảo bọc mình, thứ mật đắng của lòng đố kỵ lại dâng trào và thiêu đốt tâm can tôi.
“Và rồi, một sự kiện khác đã đến, như một đòn giáng mạnh mẽ củng cố thêm những cảm xúc cay đắng ấy. Chẳng bao lâu sau khi tìm được nơi trú ẩn tại túp lều, tôi phát hiện ra vài tờ giấy trong túi bộ quần áo từng lấy đi từ phòng thí nghiệm của ngài. Ban đầu, tôi chẳng hề bận tâm. Thế nhưng giờ đây, khi đã đủ khả năng giải mã những ký tự trên mặt giấy, tôi bắt đầu say sưa nghiên cứu. Đó chính là cuốn nhật ký ngài viết trong suốt bốn tháng trước khi ban cho tôi sự sống. Từng bước tiến hành công việc thí nghiệm đều được ngài ghi chép lại một cách vô cùng tỉ mỉ, đan xen cùng những sự kiện xảy ra trong gia đình. Chắc chắn ngài vẫn còn nhớ những trang viết này. Chúng đây. Mọi bí mật về nguồn gốc khốn khiếp của tôi đều được phơi bày trần trụi. Toàn bộ chuỗi sự việc kinh tởm dẫn đến sự ra đời của tôi đều được lột tả cặn kẽ; và cả những lời miêu tả chi tiết nhất về diện mạo gớm ghiếc, đáng tởm của tôi cũng hiện diện trên đó. Những ngôn từ ấy họa nên nỗi kinh hoàng của chính ngài, đồng thời gieo vào lòng tôi một nỗi khiếp đảm không thể nào gột rửa. Cảm giác buồn nôn quặn thắt lấy tôi khi đọc chúng. ‘Đáng nguyền rủa thay cái ngày ta được trao cho sự sống!’ tôi gào lên trong tột cùng đau đớn. ‘Kẻ sáng tạo tàn nhẫn! Tại sao ngài lại nhào nặn ra một con quái vật quá đỗi kinh tởm, đến mức chính ngài cũng phải quay lưng đi trong sự ghê sợ? Bằng lòng xót thương, Thượng đế đã họa nên con người tinh khôi và đẹp đẽ theo hình mẫu của chính Người; nhưng hình hài này của tôi lại là một thứ cặn bã mô phỏng từ ngài, và chính sự tương đồng ấy càng khiến nó trở nên kinh hãi gấp bội. Ngay cả Satan còn có những kẻ đồng hành, những ác quỷ đồng loại kề cận để ngưỡng mộ và sát cánh; còn tôi lại bơ vơ lạc lõng giữa sự ruồng rẫy và lòng căm hận của thế gian.’
“Đó là những tâm tư quẩn quanh trong những khắc khoải tuyệt vọng và cô độc của tôi. Thế nhưng, mỗi khi ngắm nhìn những phẩm chất cao quý của gia đình nông dân ấy, về bản ngã đáng yêu và đầy ắp nhân từ của họ, tôi lại tự nhủ lòng rằng một khi họ thấu hiểu được sự ngưỡng vọng thiết tha tôi dành cho tâm hồn họ, họ sẽ rủ lòng thương xót, và thứ tha cho cái nhân dạng gớm ghiếc này. Lẽ nào họ lại nhẫn tâm xua đuổi khỏi ngưỡng cửa một kẻ - dẫu mang hình hài quái dị đến nhường nào - đang khẩn thiết van lơn chút lòng trắc ẩn và tình bằng hữu? Tôi quyết tâm gạt bỏ sự tuyệt vọng, dốc lòng sửa soạn cho cuộc tương phùng định mệnh sắp tới, cuộc gặp gỡ sẽ phán quyết tương lai của tôi. Tôi đã trì hoãn mong mỏi này thêm vài tháng, bởi lẽ ván cược sinh tử này gieo vào tôi nỗi run rẩy tột cùng nếu lỡ mai thất bại. Hơn nữa, tôi nhận thấy trí tuệ của mình ngày một rộng mở qua từng trải nghiệm thực tại, nên tôi nán lại thêm một thời gian để trau dồi thêm sự khôn ngoan trước khi chính thức diện kiến.
“Trong khi ấy, mái tranh nghèo cũng chứng kiến muôn vàn đổi thay. Sự hiện diện của nàng Safie như luồng sinh khí gieo rắc niềm hân hoan lên những phận người trú ngụ nơi đây; và tôi cũng lờ mờ nhận ra cuộc sống của họ dường như đã no đủ hơn. Chàng Felix và nàng Agatha giờ có thêm thời gian để chuyện trò và tiêu khiển, nhờ có người hầu đỡ đần việc vặt. Tuy chẳng có vẻ gì là dư dả, nhưng họ ánh lên sự mãn nguyện và ngập tràn hạnh phúc; tâm hồn họ bình lặng và thanh thản bao nhiêu, thì thâm tâm tôi lại cuộn trào giông bão bấy nhiêu. Trí tuệ càng mở mang bao nhiêu, tôi càng cay đắng nhận ra thân phận kẻ đứng bên lề của mình bấy nhiêu. Phải, tôi từng nâng niu một tia hy vọng; nhưng rồi nó vỡ vụn, hệt như ảo ảnh lung linh và cái bóng chập chờn vô định kia, mỗi khi tôi soi mình xuống dòng nước trong veo, hay vô tình bắt gặp cái bóng quái gở của chính mình dưới bóng trăng lạnh lẽo.
“Tôi cố oằn mình bóp nghẹt nỗi sợ hãi chực chờ nuốt chửng lấy bản thân, dồn hết nhuệ khí cho bài kiểm tra mà tôi đinh ninh phải đối diện trong vài tháng tới. Đôi lúc, tôi thả trôi tâm trí mình, rũ bỏ mọi xiềng xích của lý trí, để mặc cõi lòng lang bạt giữa những cánh đồng Địa đàng7. Tôi thậm chí còn cả gan mường tượng ra những tinh túy đáng yêu, dịu dàng đang thổn thức cùng những rung cảm nơi tôi, xua tan màn sương mù u ám; những dung nhan tựa thiên thần ấy đang sưởi ấm hồn tôi bằng những nụ cười ủi an. Nhưng hỡi ôi, tất thảy chỉ là một giấc mộng phù du: chẳng có nàng Eva8 nào kề cạnh vuốt ve nỗi sầu muộn hay san sẻ tâm tư cùng tôi; tôi trơ trọi một mình trong cõi nhân sinh này. Tôi xót xa nhớ lại lời khẩn cầu của Adam dành cho Đấng Tạo Hóa của mình; thế nhưng Đấng Tạo Hóa của tôi đang ở chốn nao? Ngài đã vứt bỏ tôi rồi, và, trong tận cùng sâu thẳm của một trái tim rỉ máu, tôi đã buông lời nguyền rủa ngài.
“Mùa thu âm thầm lướt qua. Tôi sững sờ xen lẫn bi thương khi chứng kiến những chiếc lá héo úa và rụng lả tả, nhường chỗ cho thiên nhiên khoác lên mình tấm áo cằn cỗi và thê lương, hệt như cái ngày đầu tiên tôi ngẩn ngơ trước cảnh sắc rừng núi và vầng trăng diệu kỳ. Dẫu vậy, tôi chẳng mấy bận tâm đến thời tiết khắc nghiệt; cấu tạo thể chất dị thường cho phép tôi chống chọi với cái lạnh buốt giá tốt hơn là cái nóng bức bối. Mất đi thú vui lớn nhất là mải mê say đắm trước những đóa hoa, những bầy chim chóc và xiêm y lộng lẫy của mùa hạ, tôi đổ dồn mọi sự chú ý về phía gia đình người nông dân. Hạnh phúc của họ chẳng hề phai nhạt khi mùa hạ đã tàn phai. Họ đùm bọc và đồng cảm với nhau; niềm vui của họ được thắp lên từ chính những người thân yêu nhất, chẳng hề xao động bởi những biến thiên của ngoại cảnh. Càng quan sát họ, khao khát được sưởi ấm trong vòng tay nhân từ của họ càng bùng cháy mãnh liệt; trái tim tôi gào thét khát vọng được những con người thánh thiện ấy thừa nhận và yêu thương. Được thấy những ánh mắt dịu dàng ánh lên sự trìu mến hướng về phía mình, đó đã là cái đích cuối cùng cho tham vọng còm cõi của tôi. Tôi chẳng dám mường tượng đến cảnh họ sẽ chối bỏ tôi trong sự khinh miệt và hãi hùng. Những người khốn khổ tá túc trước cửa nhà họ chưa từng bị xua đuổi bao giờ. Sự thực là, thứ tôi mong mỏi còn quý giá hơn vạn lần những miếng ăn hay giấc ngủ; tôi cần lòng tốt và sự cảm thông cơ; nhưng tôi tin chắc rằng, dẫu sinh ra từ vũng bùn lầy, tôi cũng không đến nỗi hoàn toàn không xứng đáng với ân huệ ấy.
“Mùa đông chầm chậm kéo tới, khép lại một vòng tuần hoàn trọn vẹn của đất trời kể từ cái giây phút tôi mở mắt chào đời. Tâm trí tôi lúc này dồn cả vào việc lập mưu để bước chân vào ngôi nhà tranh của những vị ân nhân trong mộng. Tôi đã vạch ra đủ mọi viễn cảnh, nhưng rồi quyết định hạ cược vào một nước đi táo bạo: tôi sẽ bước vào nhà lúc ông lão mù lòa chỉ có một mình. Tôi đủ nhạy bén để ngộ ra rằng, chính cái nhân dạng gớm ghiếc trái với luân thường đạo lý này mới là nguồn cơn gieo rắc sự khiếp đảm cho bất cứ ai xui xẻo chạm mặt tôi. Giọng nói của tôi, dẫu có khàn đục thô ráp, thì tựu trung cũng chẳng có gì đáng sợ; do đó, tôi đinh ninh rằng, nhân lúc những người con của ông vắng nhà, nếu tôi đoạt được thiện cảm và sự chở che của ông lão De Lacey, thì biết đâu đấy, nhờ có ông, tôi sẽ được những người trẻ tuổi hơn cưu mang.
“Một ngày nọ, khi vạt nắng nhạt nhòa lướt qua những chiếc lá đỏ úa rụng đầy trên mặt đất, mang theo chút tươi sáng mỏng manh nhưng chẳng thể xua tan đi cái lạnh giá, nàng Safie, nàng Agatha và chàng Felix quyết định dạo bước quanh vùng nông thôn. Theo đúng ý nguyện của mình, ông lão chọn ở lại một mình trong căn nhà tranh bé nhỏ. Khi những người con đã rời đi, ông chậm rãi nâng cây đàn guitar lên, khẽ khàng gảy những khúc nhạc sầu thảm mà vô cùng da diết, những âm điệu ngọt ngào và bi ai hơn bất cứ thanh âm nào tôi từng nghe ông tấu lên trước đó. Thoạt đầu, gương mặt ông bừng lên một niềm vui nhẹ nhõm, thế nhưng, khi phím đàn tiếp tục rung lên, bóng dáng của sự trầm tư và nỗi u sầu dần thay thế. Cuối cùng, ông đặt nhạc cụ sang một bên, chìm sâu vào cõi suy tưởng miên man.
“Trái tim tôi đập thình thịch liên hồi. Đây chính là thời khắc định mệnh, phút giây thử thách sẽ quyết định những mầm hy vọng tôi hằng ấp ủ, hoặc sẽ xô ngã tôi vào vực thẳm của nỗi sợ hãi tột cùng. Những người hầu trong vùng đã rủ nhau đi xem một phiên chợ gần đó. Không gian bên trong và xung quanh ngôi nhà tranh chìm vào một sự tĩnh lặng tuyệt đối: đó là một cơ hội ngàn vàng. Thế nhưng, khi tôi toan bước đi để thực hiện kế hoạch của mình, chân tay tôi bỗng chốc rụng rời, và tôi đổ gục xuống nền đất lạnh lẽo. Tôi lảo đảo gượng dậy, vắt kiệt chút dũng khí ít ỏi còn sót lại trong mình, rồi dời những tấm ván tôi từng đặt trước túp lều để che giấu nơi ẩn nấp. Luồng không khí trong lành ùa vào làm tôi bừng tỉnh, và, với lòng quyết tâm vừa được nhen nhóm lại, tôi bước về phía cánh cửa ngôi nhà tranh.
“Tôi gõ cửa. ‘Ai đó?’ ông lão lên tiếng - ‘Mời vào.’
“Tôi bước vào trong; ‘Xin thứ lỗi vì sự đường đột này,’ tôi cất lời, ‘tôi là một lữ khách đang khao khát một chốn nghỉ chân; ông sẽ làm một ơn huệ lớn, nếu ông rủ lòng thương cho phép tôi được sưởi ấm vài phút bên bếp lửa nhà mình.’
“‘Cứ vào đi,’ ông De Lacey đáp lời; ‘tôi sẽ xem mình có thể giúp anh nguôi ngoai phần nào không. Nhưng thật không may, các con tôi đều đã đi vắng, và vì đôi mắt đã mù lòa, tôi e rằng mình khó lòng chuẩn bị được cho anh chút thức ăn đàng hoàng.’
“‘Xin ngài đừng bận lòng, hỡi vị chủ nhà tốt bụng. Tôi đã mang sẵn thức ăn rồi; chút hơi ấm và sự nghỉ ngơi mới là những điều duy nhất tôi đang khẩn khoản tìm kiếm lúc này.’
“Tôi ngồi xuống, và một bầu không khí im lặng bao trùm lấy hai người. Tôi thừa biết rằng từng giây từng phút lúc này đều quý giá tựa ngàn vàng, vậy mà tôi vẫn cứ do dự, chẳng biết phải mở lời ra sao. Giữa lúc ấy, ông lão bỗng cất tiếng-
“‘Nghe qua chất giọng của anh, hỡi người khách lạ, tôi đoán anh là đồng hương của tôi;-anh là người Pháp có phải không?’
“‘Không thưa ông; nhưng tôi được một gia đình người Pháp nuôi dạy, và chỉ hiểu được ngôn ngữ đó. Tôi đang trên đường tìm kiếm sự cưu mang từ vài người bạn, những người mà tôi chân thành yêu mến, và tôi đặt trọn vẹn hy vọng vào lòng tốt của họ.’
“‘Họ có phải là người Đức không?’
“‘Không, họ là người Pháp. Nhưng xin chúng ta hãy đổi chủ đề. Tôi là một sinh linh vô cùng khốn khổ và lạc loài; tôi nhìn quanh quất, và nhận ra mình chẳng có lấy một bóng hình ruột thịt hay một người bạn nào trên cõi đời này. Những con người đáng mến mà tôi đang cất công tìm kiếm chưa từng một lần gặp mặt tôi, và hầu như chẳng biết chút gì về tôi. Lòng tôi giờ đây đang bị bủa vây bởi muôn vàn nỗi sợ hãi; bởi lẽ nếu tôi thất bại, tôi sẽ vĩnh viễn là một kẻ bị cả thế giới ruồng rẫy.’
“‘Xin anh đừng tuyệt vọng. Không có lấy một người bạn quả thực là một nỗi bất hạnh tột cùng; thế nhưng, trái tim con người, khi không bị vẩn đục bởi những định kiến hay tư lợi tầm thường, vốn luôn đong đầy tình yêu thương đồng loại và lòng bác ái bao la. Vì thế, hãy vững tin vào những hy vọng của anh; và nếu những người bạn đó thực sự là những con người tử tế và đáng mến, xin anh đừng vội bỏ cuộc.’
“‘Họ rất đỗi tốt bụng - họ là những sinh thể tuyệt vời nhất trên thế gian này; nhưng, thật cay đắng thay, họ lại mang trong lòng định kiến sâu nặng về tôi. Tôi vốn dĩ có một bản tính lương thiện; cuộc đời tôi cho đến tận lúc này vẫn hoàn toàn vô hại, và, ở một khía cạnh nào đó, tôi còn mang lại ích lợi; thế nhưng một định kiến chí mạng đã che khuất đôi mắt họ. Đáng lẽ ra họ phải nhìn thấy một người bạn chan chứa cảm xúc và đôn hậu, thì họ lại chỉ mường tượng ra một con quái vật đáng ghê tởm.’
“‘Đó quả thực là một nỗi bất hạnh; nhưng nếu anh thực sự không có lỗi lầm gì, lẽ nào anh không thể giúp họ nhận ra sự thật sao?’
“‘Tôi sắp sửa bước vào nhiệm vụ khó khăn đó đây; và chính vì lý do ấy mà bao nỗi khiếp sợ đang siết chặt lấy tâm trí tôi. Tôi yêu thương những người bạn này bằng một tình cảm đằm thắm nhất; tôi đã, mà họ chẳng hề hay biết, suốt nhiều tháng trời miệt mài âm thầm giúp đỡ họ mỗi ngày. Vậy mà họ lại khăng khăng tin rằng tôi mang dã tâm hãm hại họ, và cái định kiến nghiệt ngã đó chính là bức tường thành mà tôi đang khao khát được đập tan.’
“‘Những người bạn này của anh hiện đang sống ở đâu?’
“‘Ngay gần nơi này thôi.’
“Ông lão thoáng khựng lại, rồi chậm rãi tiếp lời, ‘Nếu anh sẵn lòng giãi bày thẳng thắn với tôi những góc khuất trong câu chuyện của anh, biết đâu tôi lại có thể giúp ích phần nào trong việc hóa giải những hiểu lầm, để họ nhận ra sự thật. Tôi bị mù, không thể nhìn thấy khuôn mặt anh, nhưng có điều gì đó trong từng lời nói của anh đã thuyết phục tôi rằng anh là một người chân thành. Tôi tuy nghèo khổ, và cũng là một kẻ lưu đày nơi đất khách; nhưng tôi sẽ cảm thấy thực sự hạnh phúc nếu có thể giúp đỡ một con người bằng bất cứ cách nào.’
“‘Hỡi người đàn ông tuyệt vời! Tôi xin cúi đầu tạ ơn ông, và xin đón nhận lời đề nghị vô cùng hào hiệp này. Ông đã nâng đỡ tôi lên từ tận cùng cát bụi bằng chính lòng nhân hậu của mình; và tôi vững tin rằng, nhờ sự trợ giúp của ông, tôi sẽ không bị đuổi khỏi xã hội loài người hay mất đi sự đồng cảm từ những người đồng loại của ông.’
“‘Xin Chúa chứng giám cho điều đó! Ngay cả khi anh thực sự mang tội; bởi vì sự ruồng bỏ chỉ có thể dồn ép anh vào bước đường cùng của sự tuyệt vọng, chứ không thể dẫn lối anh hướng tới đức hạnh. Tôi cũng là một kẻ bất hạnh nếm trải đủ cay đắng; tôi và gia đình mình từng bị kết án, dù chúng tôi hoàn toàn vô tội. Vì thế, anh hãy cứ tự mình phán xét xem, liệu tôi có thể không thấu hiểu cho những nỗi đau của anh hay không.’
“‘Biết lấy gì để cảm tạ ông đây, hỡi vị ân nhân duy nhất và tuyệt vời nhất của tôi? Từ chính đôi môi của ông, lần đầu tiên trong đời tôi được nghe thấy những lời lẽ đong đầy lòng nhân ái hướng về phía mình; tôi sẽ mãi mãi ghi tạc ân tình này. Và lòng nhân đạo cao cả của ông trong giờ phút này đã thắp lên trong tôi niềm tin mãnh liệt vào sự thành công trước những người bạn mà tôi sắp sửa đối mặt.’
“‘Tôi có thể vinh hạnh được biết tên và nơi ở của những người bạn đó không?’
“Tôi sững lại. Đây, tôi thầm nghĩ, chính là khoảnh khắc phán quyết, thời khắc sẽ tước đoạt của tôi tất cả, hoặc sẽ ban tặng cho tôi niềm hạnh phúc vĩnh hằng. Tôi vùng vẫy trong tuyệt vọng để gom góp chút kiên định cuối cùng nhằm trả lời ông, nhưng nỗ lực đó dường như đã vắt kiệt chút sức lực tàn tạ trong tôi; tôi đổ gục xuống ghế, bật khóc nức nở. Ngay chính khoảnh khắc nghẹt thở ấy, tôi bỗng nghe thấy những tiếng bước chân của những người bảo bọc trẻ tuổi. Không còn một giây phút nào để do dự nữa; tôi vội vàng nắm chặt lấy bàn tay ông lão, thống thiết kêu lên: ‘Bây giờ chính là lúc đó!-xin hãy cứu rỗi và che chở cho tôi! Ông và gia đình ông chính là những người bạn mà tôi đang mỏi mòn tìm kiếm. Xin đừng bỏ rơi tôi trong giờ phút sinh tử này!’
“‘Lạy Chúa lòng lành!’ ông lão kinh hãi thốt lên, ‘anh rốt cuộc là ai?’
“Vào đúng khoảnh khắc đó, cánh cửa ngôi nhà tranh bật mở. Chàng Felix, nàng Safie và nàng Agatha bước vào. Có ngôn từ nào lột tả được nỗi kinh hoàng và sững sờ hằn rõ trên gương mặt họ khi chạm mắt với tôi? Nàng Agatha ngất lịm đi; còn nàng Safie, hoảng loạn đến mức chẳng thể nán lại đỡ đần người bạn mình, lao vụt ra khỏi ngôi nhà. Chàng Felix xông thẳng tới, và bằng một sức mạnh phi thường, chàng giằng phắt tôi ra khỏi người cha mà tôi đang ôm ghì lấy đầu gối. Trong cơn cuồng nộ tột bậc, chàng quật tôi ngã nhào xuống đất, rồi vung gậy nện lên người tôi những đòn hung bạo. Lẽ ra, tôi thừa sức xé xác chàng thành trăm mảnh, dễ dàng như con mãnh sư xé toạc một con linh dương. Thế nhưng, cõi lòng tôi khi ấy đã chìm sâu xuống tận cùng vực thẳm đắng cay, và tôi cắn răng kìm mình lại. Thấy chàng chuẩn bị giáng thêm một đòn tàn nhẫn nữa, tôi đành lùi bước, hoàn toàn gục ngã trước nỗi đau đớn thể xác lẫn sự giày vò tâm can. Nhân lúc mọi người đang rối loạn, tôi chạy vụt khỏi ngôi nhà, lủi thẳng về cái ổ tồi tàn của mình mà chẳng một ai hay biết.”
“Ngay khoảnh khắc định mệnh ấy, cánh cửa căn nhà gỗ bật mở. Chàng Felix, nàng Safie và nàng Agatha bước vào. Bút mực nào có thể thấu tả nỗi kinh hoàng và vẻ sững sờ tột độ in hằn trên gương mặt họ khi đối diện với tôi? Nàng Agatha lịm người, gục ngã; còn nàng Safie, chẳng màng đến việc đỡ lấy người bạn thiết tha, đã hoảng loạn lao vút ra ngoài. Felix chồm tới bằng một luồng sức mạnh phi thường, giằng phắt tôi ra khỏi người cha già mà tôi đang tuyệt vọng bấu víu lấy đôi đầu gối. Trong cơn cuồng nộ bừng bừng, chàng quật tôi ngã nhào xuống đất, rồi vung gậy giáng xuống thân thể tôi những đòn thù tàn khốc. Lẽ ra tôi đã có thể xé xác chàng thành trăm mảnh, dễ dàng như chúa sơn lâm vồ xé con linh dương non nớt. Nhưng không, trái tim tôi lúc bấy giờ đã chìm sâu trong hố thẳm của muôn vàn cay đắng; và tôi đã cắn răng cam chịu. Thấy chàng lại lăm lăm chực giáng thêm một đòn nữa, tôi đành để nỗi đớn đau cùng sự dằn vặt sâu xé khuất phục, vội vã lùi bước khỏi mái tranh. Giữa cảnh tượng hỗn loạn bủa vây, tôi tháo chạy, lẩn trốn về chốn túp lều tăm tối của mình mà không một ai hay biết.”
-
Tác phẩm 'Parallel Lives' của sử gia Hy Lạp Plutarch (thế kỷ 1), ghi chép tiểu sử các vĩ nhân Hy Lạp và La Mã cổ đại. Cuốn sách này giúp Quái vật hình thành nhận thức về đạo đức, lịch sử nhân loại và sự vĩ đại cũng như tàn ác của loài người. ↩
-
Tiểu thuyết 'Die Leiden des jungen Werthers' (1774) của đại văn hào Đức Goethe. Tác phẩm lãng mạn kinh điển này mang đến cho Quái vật khái niệm sâu sắc về tình yêu tuyệt vọng, sự giằng xé nội tâm và sự bế tắc dẫn đến cái chết tự nguyện. ↩
-
Tên của các vị vua và nhà lập pháp vĩ đại thời cổ đại (Numa của La Mã, Solon của Athens, Lycurgus của Sparta), những người nổi tiếng với việc xây dựng luật pháp, hòa bình và trật tự xã hội. ↩
-
Tên của những vị anh hùng và vua lập quốc huyền thoại (Romulus của Rome, Theseus của Athens), nhưng sự nghiệp của họ lại gắn liền với bạo lực, chiến tranh chinh phạt và huynh đệ tương tàn. ↩
-
Con người đầu tiên được Chúa tạo ra theo Kinh Thánh. Quái vật tự so sánh mình với Adam vì cả hai đều là thụ tạo đầu tiên trong loài của mình, nhưng Adam được Đấng Tạo Hóa yêu thương chở che, còn nó thì bị ruồng bỏ. ↩
-
Thiên thần sa ngã trong tác phẩm 'Thiên Đường Đã Mất', kẻ nổi loạn chống lại Chúa và bị đày xuống địa ngục. Quái vật thấy sự tương đồng sâu sắc với Satan ở nỗi cô độc vĩnh hằng và lòng đố kỵ trước hạnh phúc của người khác. ↩
-
Vườn Eden trong Kinh Thánh, biểu tượng cho trạng thái nguyên sơ thuần khiết, viên mãn và hạnh phúc tuyệt đối của con người trước khi sa ngã. ↩
-
Người phụ nữ đầu tiên trong Kinh Thánh, được Chúa tạo ra để làm bạn đời san sẻ cùng Adam. Quái vật tuyệt vọng khao khát một người bạn đồng hành tương tự để xua tan nỗi cô độc cùng cực của mình. ↩
CHAPTER VII.
“Such was the history of my beloved cottagers. It impressed me deeply. I learned, from the views of social life which it developed, to admire their virtues, and to deprecate the vices of mankind.
“As yet I looked upon crime as a distant evil; benevolence and generosity were ever present before me, inciting within me a desire to become an actor in the busy scene where so many admirable qualities were called forth and displayed. But, in giving an account of the progress of my intellect, I must not omit a circumstance which occurred in the beginning of the month of August of the same year.
“One night, during my accustomed visit to the neighbouring wood, where I collected my own food, and brought home firing for my protectors, I found on the ground a leathern portmanteau, containing several articles of dress and some books. I eagerly seized the prize, and returned with it to my hovel. Fortunately the books were written in the language the elements of which I had acquired at the cottage; they consisted of Paradise Lost, a volume of Plutarch’s Lives, and the Sorrows of Werter. The possession of these treasures gave me extreme delight; I now continually studied and exercised my mind upon these histories, whilst my friends were employed in their ordinary occupations.
“I can hardly describe to you the effect of these books. They produced in me an infinity of new images and feelings, that sometimes raised me to ecstacy, but more frequently sunk me into the lowest dejection. In the Sorrows of Werter, besides the interest of its simple and affecting story, so many opinions are canvassed, and so many lights thrown upon what had hitherto been to me obscure subjects, that I found in it a never-ending source of speculation and astonishment. The gentle and domestic manners it described, combined with lofty sentiments and feelings, which had for their object something out of self, accorded well with my experience among my protectors, and with the wants which were for ever alive in my own bosom. But I thought Werter himself a more divine being than I had ever beheld or imagined; his character contained no pretension, but it sunk deep. The disquisitions upon death and suicide were calculated to fill me with wonder. I did not pretend to enter into the merits of the case, yet I inclined towards the opinions of the hero, whose extinction I wept, without precisely understanding it.
“As I read, however, I applied much personally to my own feelings and condition. I found myself similar, yet at the same time strangely unlike the beings concerning whom I read, and to whose conversation I was a listener. I sympathized with, and partly understood them, but I was unformed in mind; I was dependent on none, and related to none. ‘The path of my departure was free;’ and there was none to lament my annihilation. My person was hideous, and my stature gigantic: what did this mean? Who was I? What was I? Whence did I come? What was my destination? These questions continually recurred, but I was unable to solve them.
“The volume of Plutarch’s Lives which I possessed, contained the histories of the first founders of the ancient republics. This book had a far different effect upon me from the Sorrows of Werter. I learned from Werter’s imaginations despondency and gloom: but Plutarch taught me high thoughts; he elevated me above the wretched sphere of my own reflections, to admire and love the heroes of past ages. Many things I read surpassed my understanding and experience. I had a very confused knowledge of kingdoms, wide extents of country, mighty rivers, and boundless seas. But I was perfectly unacquainted with towns, and large assemblages of men. The cottage of my protectors had been the only school in which I had studied human nature; but this book developed new and mightier scenes of action. I read of men concerned in public affairs governing or massacring their species. I felt the greatest ardour for virtue rise within me, and abhorrence for vice, as far as I understood the signification of those terms, relative as they were, as I applied them, to pleasure and pain alone. Induced by these feelings, I was of course led to admire peaceable law-givers, Numa, Solon, and Lycurgus, in preference to Romulus and Theseus. The patriarchal lives of my protectors caused these impressions to take a firm hold on my mind; perhaps, if my first introduction to humanity had been made by a young soldier, burning for glory and slaughter, I should have been imbued with different sensations.
“But Paradise Lost excited different and far deeper emotions. I read it, as I had read the other volumes which had fallen into my hands, as a true history. It moved every feeling of wonder and awe, that the picture of an omnipotent God warring with his creatures was capable of exciting. I often referred the several situations, as their similarity struck me, to my own. Like Adam, I was created apparently united by no link to any other being in existence; but his state was far different from mine in every other respect. He had come forth from the hands of God a perfect creature, happy and prosperous, guarded by the especial care of his Creator; he was allowed to converse with, and acquire knowledge from beings of a superior nature: but I was wretched, helpless, and alone. Many times I considered Satan as the fitter emblem of my condition; for often, like him, when I viewed the bliss of my protectors, the bitter gall of envy rose within me.
“Another circumstance strengthened and confirmed these feelings. Soon after my arrival in the hovel, I discovered some papers in the pocket of the dress which I had taken from your laboratory. At first I had neglected them; but now that I was able to decypher the characters in which they were written, I began to study them with diligence. It was your journal of the four months that preceded my creation. You minutely described in these papers every step you took in the progress of your work; this history was mingled with accounts of domestic occurrences. You, doubtless, recollect these papers. Here they are. Every thing is related in them which bears reference to my accursed origin; the whole detail of that series of disgusting circumstances which produced it is set in view; the minutest description of my odious and loathsome person is given, in language which painted your own horrors, and rendered mine ineffaceable. I sickened as I read. ‘Hateful day when I received life!’ I exclaimed in agony. ‘Cursed creator! Why did you form a monster so hideous that even you turned from me in disgust? God in pity made man beautiful and alluring, after his own image; but my form is a filthy type of your’s, more horrid from its very resemblance. Satan had his companions, fellow-devils, to admire and encourage him; but I am solitary and detested.’
“These were the reflections of my hours of despondency and solitude; but when I contemplated the virtues of the cottagers, their amiable and benevolent dispositions, I persuaded myself that when they should become acquainted with my admiration of their virtues, they would compassionate me, and overlook my personal deformity. Could they turn from their door one, however monstrous, who solicited their compassion and friendship? I resolved, at least, not to despair, but in every way to fit myself for an interview with them which would decide my fate. I postponed this attempt for some months longer; for the importance attached to its success inspired me with a dread lest I should fail. Besides, I found that my understanding improved so much with every day’s experience, that I was unwilling to commence this undertaking until a few more months should have added to my wisdom.
“Several changes, in the mean time, took place in the cottage. The presence of Safie diffused happiness among its inhabitants; and I also found that a greater degree of plenty reigned there. Felix and Agatha spent more time in amusement and conversation, and were assisted in their labours by servants. They did not appear rich, but they were contented and happy; their feelings were serene and peaceful, while mine became every day more tumultuous. Increase of knowledge only discovered to me more clearly what a wretched outcast I was. I cherished hope, it is true; but it vanished, when I beheld my person reflected in water, or my shadow in the moon-shine, even as that frail image and that inconstant shade.
“I endeavoured to crush these fears, and to fortify myself for the trial which in a few months I resolved to undergo; and sometimes I allowed my thoughts, unchecked by reason, to ramble in the fields of Paradise, and dared to fancy amiable and lovely creatures sympathizing with my feelings and cheering my gloom; their angelic countenances breathed smiles of consolation. But it was all a dream: no Eve soothed my sorrows, or shared my thoughts; I was alone. I remembered Adam’s supplication to his Creator; but where was mine? he had abandoned me, and, in the bitterness of my heart, I cursed him.
“Autumn passed thus. I saw, with surprise and grief, the leaves decay and fall, and nature again assume the barren and bleak appearance it had worn when I first beheld the woods and the lovely moon. Yet I did not heed the bleakness of the weather; I was better fitted by my conformation for the endurance of cold than heat. But my chief delights were the sight of the flowers, the birds, and all the gay apparel of summer; when those deserted me, I turned with more attention towards the cottagers. Their happiness was not decreased by the absence of summer. They loved, and sympathized with one another; and their joys, depending on each other, were not interrupted by the casualties that took place around them. The more I saw of them, the greater became my desire to claim their protection and kindness; my heart yearned to be known and loved by these amiable creatures: to see their sweet looks turned towards me with affection, was the utmost limit of my ambition. I dared not think that they would turn them from me with disdain and horror. The poor that stopped at their door were never driven away. I asked, it is true, for greater treasures than a little food or rest; I required kindness and sympathy; but I did not believe myself utterly unworthy of it.
“The winter advanced, and an entire revolution of the seasons had taken place since I awoke into life. My attention, at this time, was solely directed towards my plan of introducing myself into the cottage of my protectors. I revolved many projects; but that on which I finally fixed was, to enter the dwelling when the blind old man should be alone. I had sagacity enough to discover, that the unnatural hideousness of my person was the chief object of horror with those who had formerly beheld me. My voice, although harsh, had nothing terrible in it; I thought, therefore, that if, in the absence of his children, I could gain the good-will and mediation of the old De Lacy, I might, by his means, be tolerated by my younger protectors.
“One day, when the sun shone on the red leaves that strewed the ground, and diffused cheerfulness, although it denied warmth, Safie, Agatha, and Felix, departed on a long country walk, and the old man, at his own desire, was left alone in the cottage. When his children had departed, he took up his guitar, and played several mournful, but sweet airs, more sweet and mournful than I had ever heard him play before. At first his countenance was illuminated with pleasure, but, as he continued, thoughtfulness and sadness succeeded; at length, laying aside the instrument, he sat absorbed in reflection.
“My heart beat quick; this was the hour and moment of trial, which would decide my hopes, or realize my fears. The servants were gone to a neighbouring fair. All was silent in and around the cottage: it was an excellent opportunity; yet, when I proceeded to execute my plan, my limbs failed me, and I sunk to the ground. Again I rose; and, exerting all the firmness of which I was master, removed the planks which I had placed before my hovel to conceal my retreat. The fresh air revived me, and, with renewed determination, I approached the door of their cottage.
“I knocked. ‘Who is there?’ said the old man-‘Come in.’
“I entered; ‘Pardon this intrusion,’ said I, ‘I am a traveller in want of a little rest; you would greatly oblige me, if you would allow me to remain a few minutes before the fire.’
“‘Enter,’ said De Lacy; ‘and I will try in what manner I can relieve your wants; but, unfortunately, my children are from home, and, as I am blind, I am afraid I shall find it difficult to procure food for you.’
“‘Do not trouble yourself, my kind host, I have food; it is warmth and rest only that I need.’
“I sat down, and a silence ensued. I knew that every minute was precious to me, yet I remained irresolute in what manner to commence the interview; when the old man addressed me-
“‘By your language, stranger, I suppose you are my countryman;-are you French?’
“‘No; but I was educated by a French family, and understand that language only. I am now going to claim the protection of some friends, whom I sincerely love, and of whose favour I have some hopes.’
“‘Are these Germans?’
“‘No, they are French. But let us change the subject. I am an unfortunate and deserted creature; I look around, and I have no relation or friend upon earth. These amiable people to whom I go have never seen me, and know little of me. I am full of fears; for if I fail there, I am an outcast in the world for ever.’
“‘Do not despair. To be friendless is indeed to be unfortunate; but the hearts of men, when unprejudiced by any obvious self-interest, are full of brotherly love and charity. Rely, therefore, on your hopes; and if these friends are good and amiable, do not despair.’
“‘They are kind-they are the most excellent creatures in the world; but, unfortunately, they are prejudiced against me. I have good dispositions; my life has been hitherto harmless, and, in some degree, beneficial; but a fatal prejudice clouds their eyes, and where they ought to see a feeling and kind friend, they behold only a detestable monster.’
“‘That is indeed unfortunate; but if you are really blameless, cannot you undeceive them?’
“‘I am about to undertake that task; and it is on that account that I feel so many overwhelming terrors. I tenderly love these friends; I have, unknown to them, been for many months in the habits of daily kindness towards them; but they believe that I wish to injure them, and it is that prejudice which I wish to overcome.’
“‘Where do these friends reside?’
“‘Near this spot.’
“The old man paused, and then continued, ‘If you will unreservedly confide to me the particulars of your tale, I perhaps may be of use in undeceiving them. I am blind, and cannot judge of your countenance, but there is something in your words which persuades me that you are sincere. I am poor, and an exile; but it will afford me true pleasure to be in any way serviceable to a human creature.’
“‘Excellent man! I thank you, and accept your generous offer. You raise me from the dust by this kindness; and I trust that, by your aid, I shall not be driven from the society and sympathy of your fellow-creatures.’
“‘Heaven forbid! even if you were really criminal; for that can only drive you to desperation, and not instigate you to virtue. I also am unfortunate; I and my family have been condemned, although innocent: judge, therefore, if I do not feel for your misfortunes.’
“‘How can I thank you, my best and only benefactor? from your lips first have I heard the voice of kindness directed towards me; I shall be for ever grateful; and your present humanity assures me of success with those friends whom I am on the point of meeting.’
“‘May I know the names and residence of those friends?’
“I paused. This, I thought, was the moment of decision, which was to rob me of, or bestow happiness on me for ever. I struggled vainly for firmness sufficient to answer him, but the effort destroyed all my remaining strength; I sank on the chair, and sobbed aloud. At that moment I heard the steps of my younger protectors. I had not a moment to lose; but, seizing the hand of the old man, I cried, ‘Now is the time!-save and protect me! You and your family are the friends whom I seek. Do not you desert me in the hour of trial!’
“‘Great God!’ exclaimed the old man, ‘who are you?’
“At that instant the cottage door was opened, and Felix, Safie, and Agatha entered. Who can describe their horror and consternation on beholding me? Agatha fainted; and Safie, unable to attend to her friend, rushed out of the cottage. Felix darted forward, and with supernatural force tore me from his father, to whose knees I clung: in a transport of fury, he dashed me to the ground, and struck me violently with a stick. I could have torn him limb from limb, as the lion rends the antelope. But my heart sunk within me as with bitter sickness, and I refrained. I saw him on the point of repeating his blow, when, overcome by pain and anguish, I quitted the cottage, and in the general tumult escaped unperceived to my hovel.”