CHƯƠNG II.

London là trạm dừng chân hiện tại của chúng tôi; cả hai quyết định nán lại thành phố hoa lệ và nức tiếng này vài tháng. Clerval háo hức muốn kết giao với những bậc kỳ tài và giới trí thức đương thời. Thế nhưng, với tôi, đó chỉ là thứ yếu. Tâm trí tôi chỉ xoay quanh việc dò la những thông tin cần thiết nhằm hoàn tất lời hứa đã giao ước. Tôi vội vã dùng những bức thư giới thiệu mang theo để tiếp kiến các nhà triết học tự nhiên1 xuất chúng nhất.

Giá như chuyến đi này diễn ra vào những ngày tháng êm đềm khi tôi còn say sưa học hỏi, hẳn nó đã mang lại niềm hân hoan khôn tả. Nhưng giờ đây, một vết nhơ u ám đã phủ bóng lên đời tôi. Tôi đành tìm gặp những con người ấy chỉ để moi móc chút kiến thức về cái lĩnh vực đang ám ảnh mình đến mức điên dại. Những chốn phồn hoa đông đúc chỉ rước thêm vẻ chán chường. Chỉ khi cô độc, tôi mới có thể lấp đầy tâm trí bằng khung cảnh đất trời bao la. Giọng nói dịu dàng của Henry đôi lúc xoa dịu tâm hồn tôi, giúp tôi tự huyễn hoặc bản thân trong một thoáng bình yên ngắn ngủi. Thế nhưng, cứ mỗi lần nhìn những khuôn mặt hối hả, vô tư và ngập tràn hỉ nộ ái ố ngoài kia, cõi lòng tôi lại cuộn trào một nỗi tuyệt vọng cùng cực. Tôi lờ mờ nhận ra một bức tường vô hình, vững chãi đến mức không thể vượt qua, đang chia cắt tôi khỏi đồng loại. Bức tường oan nghiệt ấy được niêm phong bằng máu của William và Justine. Cứ mỗi lần hồi tưởng lại tấn bi kịch gắn liền với hai cái tên ấy, cõi lòng tôi lại quặn thắt trong nỗi thống khổ tột cùng.

Thế nhưng, khi nhìn Clerval, tôi lại bắt gặp hình bóng của chính mình thuở trước. Cậu ấy vẫn luôn hăng say học hỏi, khao khát trải nghiệm và tích lũy tri thức. Những phong tục tập quán mới mẻ mà cậu tận mắt chứng kiến bỗng hóa thành suối nguồn tuôn chảy vô tận, mang lại cho cậu nguồn học vấn và niềm vui sướng không bờ bến. Cậu lúc nào cũng tất bật. Điều duy nhất cản bước những thú vui của cậu chính là vẻ mặt u sầu và chán chường của tôi. Tôi đã ra sức che giấu nỗi dằn vặt ấy hết mức có thể, cốt để không tước đi niềm vui thuần khiết của một người bạn đang háo hức lật mở trang mới của cuộc đời, vốn chẳng vướng bận chút âu lo hay ký ức đắng cay nào. Tôi thường viện cớ bận bịu để từ chối đồng hành cùng cậu, đặng tìm một góc để thu mình lại. Ngay lúc này, tôi bắt tay vào việc gom góp những vật liệu cần thiết để tạo nên một sinh vật mới. Công việc dơ bẩn này chẳng khác nào hình phạt nhục nhã bị từng giọt nước lạnh lẽo, dai dẳng nhỏ xuống đỉnh đầu. Cứ mỗi lần mường tượng đến thứ dị hợm đó, một nỗi thống khổ tột độ lại bóp nghẹt tâm can. Thậm chí, mỗi lần hé môi nhắc tới nó, đôi môi tôi lại run bần bật, và trái tim thì đập loạn nhịp trong nỗi kinh hoàng.

Sau vài tháng lưu lại London, chúng tôi nhận được một lá thư từ người bạn Scotland cũ, người từng ghé thăm chúng tôi thuở ở Geneva. Cậu ấy tha thiết miêu tả vẻ đẹp hùng vĩ của quê hương, rồi ướm hỏi liệu chốn tiên cảnh ấy có đủ sức quyến rũ để giữ chân chúng tôi nán lại và ngược lên phía bắc đến Perth, nơi cậu đang nương náu hay không. Clerval vội vàng muốn chớp lấy lời mời gọi đầy hấp dẫn này. Còn tôi, dẫu cho tâm can căm phẫn sự ồn ào của thế nhân, vẫn luôn đau đáu khát khao được chiêm ngưỡng núi non trùng điệp, những dòng sông cuộn chảy, cùng muôn vàn kỳ quan mà Tạo hóa đã hào phóng điểm tô cho chốn trần gian tĩnh lặng.

Chúng tôi đặt chân đến Anh quốc vào dạo đầu tháng Mười, thoắt cái nay đã là tháng Hai. Bởi thế, cả hai quyết định sẽ khởi hành ngược lên phương bắc vào tháng sau. Trong chuyến đi này, chúng tôi không định bám theo trục đường lớn dẫn tới Edinburgh. Thay vào đó, chúng tôi dự tính ghé ngang Windsor, Oxford, Matlock2 cùng những mặt hồ tĩnh lặng ở Cumberland, và kỳ vọng sẽ khép lại chặng hành trình vãn cảnh vào độ cuối tháng Bảy. Tôi lẳng lặng thu xếp đống dụng cụ hóa học cùng mớ vật liệu nhơ nhuốc vừa gom góp được, lòng hạ quyết tâm sẽ dứt điểm cái công việc đáng nguyền rủa này ở một xó xỉnh đìu hiu, khuất nẻo tận vùng cao nguyên phía bắc Scotland.

Chúng tôi rời London vào ngày hai mươi bảy tháng Ba, và dừng chân nán lại Windsor ít hôm để thả bộ qua những khu rừng tuyệt mỹ của xứ này. Với những kẻ lớn lên ở vùng sơn cước như chúng tôi, đây quả là một khung cảnh đầy mới mẻ. Những tán sồi già hùng vĩ, muôn vàn thú rừng sinh sôi phong phú, cùng bầy hươu nai mang dáng vẻ oai vệ - tất thảy đều khơi gợi sự lạ lẫm và hiếu kỳ.

Từ Windsor, chúng tôi tiếp tục ngược lên Oxford. Vừa đặt chân vào lòng thành phố, bao ký ức về những biến cố lịch sử hơn một thế kỷ rưỡi trước bỗng chốc ùa về choáng ngợp tâm trí. Chính nơi này, Vua Charles đệ nhất3 từng tập hợp binh lực. Oxford vẫn một lòng kiên trung với nhà vua, dẫu cho cả vương quốc đã rũ bỏ lý tưởng của ngài để nghiêng về phe nghị viện4 và tiếng gọi của tự do. Hình bóng của vị vua bạc mệnh cùng đoàn tùy tùng xưa kia - chàng Falkland5 đáng mến, gã Gower6 xấc xược, cùng hoàng hậu và vị hoàng tử nhỏ - như thể đã ban cho từng ngõ ngách nơi họ từng nương náu một sức hút lạ kỳ. Tưởng chừng linh hồn của một thời dĩ vãng vẫn còn vương vấn đâu đây, vẫy gọi chúng tôi say sưa lần theo từng dấu chân xưa cũ. Thế nhưng, cho dù trí tưởng tượng có chẳng được thỏa mãn bởi những cảm xúc hoài niệm ấy, thì tự thân diện mạo của Oxford cũng đã cất lên một vẻ đẹp đủ sức khiến người ta phải trầm trồ. Những ngôi trường đại học mang đậm nét cổ kính, nên thơ; những ngả đường toát lên vẻ nguy nga lộng lẫy; còn dòng sông Isis7 hiền hòa thì êm đềm buông mình ôm lấy thị thành, uốn lượn qua những đồng cỏ ngút ngàn xanh mướt. Dòng nước ấy dần mở rộng thành một bến đỗ bình yên, soi bóng cả một quần thể những tháp canh, tháp nhọn và mái vòm hùng vĩ đang êm đềm thu mình giữa hàng cây cổ thụ.

Tôi thầm tận hưởng khung cảnh tuyệt mỹ ấy, dẫu niềm vui mong manh đang bị đầu độc bởi những bóng ma ký ức cùng vô vàn dự cảm chẳng lành về tương lai. Tôi vốn sinh ra để đón nhận một cuộc sống an yên. Thuở thiếu thời, chưa một lần sự bất mãn ghé thăm tâm trí tôi. Và nếu đôi khi rớt lại trong bủa vây của nỗi buồn chán, tôi chỉ cần nương mình vào vẻ đẹp của thiên nhiên, hay mải mê chiêm nghiệm những điều tinh túy, siêu phàm từ bàn tay tạo hóa con người là đủ để trái tim được thắp lại ngọn lửa sống, cứu rỗi linh hồn cằn cỗi. Nhưng giờ đây, tôi chẳng khác nào một thân cây khô héo. Lưỡi tầm sét oan nghiệt đã xuyên thủng linh hồn tôi. Giữa cõi đời này, tôi thấy mình thoi thóp tồn tại chỉ để phô bày một đống hoang tàn thảm hại của nhân tính - một kẻ đáng thương hại trong mắt thế nhân, nhưng lại gớm ghiếc, tởm lợm đến mức khó dung thứ với chính mình. Một kết cục bi đát mà có lẽ chẳng bao lâu nữa, tôi sẽ tự tay chấm dứt để không còn phải sống ngắc ngoải mà nhìn ngắm.

Hai chúng tôi lưu lại Oxford khá lâu, ngày ngày rảo bước quanh những vùng lân cận, cất công kiếm tìm mọi tàn tích gắn liền với kỷ nguyên sục sôi nhất của lịch sử Anh Quốc. Những cuộc tản bộ khám phá ngẫu hứng ấy cứ thế miên man vô tận, níu giữ bước chân bởi muôn vàn cảnh sắc nối đuôi nhau hiện ra. Chúng tôi tìm đến lăng mộ ngài Hampden8 lừng lẫy, lặng thinh trước cánh đồng nơi vị anh hùng ái quốc đã trút hơi thở cuối cùng. Trong một phút chốc ngắn ngủi, linh hồn tôi như được nâng bổng khỏi những nỗi sợ hãi tủn mủn, hèn nhát để dấn mình vào cõi chiêm nghiệm về những lý tưởng thiêng liêng của tự do và lòng đức hi sinh - những giá trị mà chính khung cảnh này đây là nhân chứng, là hồi chuông đánh thức. Khoảnh khắc ấy, tôi đã liều lĩnh giật phăng mọi gông cùm trói buộc, ngẩng cao đầu dõi mắt nhìn quanh bằng một tâm thế tự do đầy kiêu hãnh. Thế nhưng, lưỡi dao oan nghiệt vốn dĩ đã găm quá sâu vào da thịt. Khát vọng chợt tắt lịm, đẩy tôi một lần nữa ngã gục, run rẩy và tuyệt vọng, chìm sâu vào cái bản ngã khốn cùng, tăm tối của chính mình.

Mang theo bao tiếc nuối, chúng tôi đành từ biệt Oxford để xuôi về Matlock, chặng dừng chân kế tiếp. Cảnh vật nơi nương náu này đôi lúc lại gọi về những bóng hình của phong cảnh Thụy Sĩ; chỉ khác là mọi thứ dường như bị thu bé lại, và những sườn đồi thoai thoải ngát xanh lại vắng bóng chiếc vương miện tuyết trắng ngần của dải Alps phía xa - thứ vốn luôn kề cận những ngọn núi phủ rợp bóng thông nơi quê nhà. Chúng tôi cũng đã ghé thăm những hang động kỳ bí, rảo bước qua những gian phòng tiêu bản lịch sử tự nhiên nhỏ bé. Ở đó, những hiện vật lạ mắt được bày biện hệt như cách người ta vẫn thường làm trong các bộ sưu tập tại Servox hay Chamounix. Khi Clerval vô tình nhắc đến cái tên "Chamounix", toàn thân tôi bỗng lạnh toát, run lên bần bật. Ngay tắp lự, tôi hối thúc cậu mau chóng rời khỏi Matlock - mảnh đất gợi nhắc một khung cảnh chất chứa quá nhiều kinh hoàng, ám ảnh.

Từ Derby, chuyến hành trình lại trôi về phương bắc, đưa chúng tôi nán lại suốt hai tháng trời giữa Cumberland và Westmoreland9. Ở nơi này, tôi dễ dàng đánh lừa bản thân rằng mình đang phiêu bạt giữa những ngọn núi hùng vĩ Thụy Sĩ. Kia là những mảng tuyết trắng mong manh còn vấn vương sườn núi phía bắc, kia là mặt hồ phẳng lặng, và kia nữa là tiếng róc rách trong ngần của những con suối đá - tất cả dệt nên một bức tranh thân thuộc đến quặn lòng. Tại đây, chúng tôi may mắn kết giao cùng vài người bạn mới. Họ hồ hởi, nồng nhiệt đến mức suýt chút nữa đã thành công trong việc gạt bỏ những bóng đen trong tâm trí tôi, để tôi thực sự nếm trải trọn vẹn niềm vui. Nhưng niềm hân hoan của Clerval dĩ nhiên vĩ đại hơn tôi bội phần. Tâm hồn cậu như được giải phóng khi hòa mình vào thế giới của những khối óc tài hoa. Cậu nhận ra những năng lực tiềm tàng, những tài nguyên dồi dào chảy trong huyết quản - thứ mà cậu chưa từng một lần dám tin mình sở hữu khi chỉ quanh quẩn kết giao cùng những kẻ thấp kém hơn. "Mình có thể gửi gắm phần đời còn lại nơi này," cậu từng tâm sự với tôi; "và khi ẩn mình giữa những đỉnh núi này, hiếm khi nào mình phải mảy may luyến tiếc xứ Thụy Sĩ hay dòng sông Rhine."

Dẫu vậy, cậu sớm ngộ ra rằng kiếp lữ hành là một bản giao hưởng đan xen giữa khoái lạc và những nỗi đau âm ỉ. Cảm xúc của cậu dường như lúc nào cũng bị kéo căng ra hết cỡ. Cứ hễ cơ thể chực buông mình xuống tận hưởng khoảnh khắc ngơi nghỉ, thì cậu lại chua xót nhận ra mình đành rũ bỏ chốn bình yên đầy hoan lạc ấy. Phải dứt áo ra đi, mải miết rượt đuổi một điều mới lạ, để rồi thứ ánh sáng diệu kỳ ấy vừa kịp chiếm trọn tâm trí, cậu lại phải gạt bỏ nó sang một bên, lao theo những cám dỗ xa xôi khác.

Chúng tôi vừa khép lại chuyến du ngoạn quanh những vùng hồ lộng lẫy tại Cumberland và Westmoreland. Những sợi dây liên kết thân tình mới chớm nở với vài người dân hiếu khách nơi đây chưa kịp đậm sâu thì thời hạn hội ngộ với người bạn Scotland đã gõ cửa. Đành gạt đi mọi nuối tiếc, chúng tôi một lần nữa dấn bước lên đường. Về phần mình, tôi chẳng hề vương vấn nửa lời oán thán. Việc trì hoãn lời giao ước trong một khoảng thời gian dài đã khoét sâu nỗi kinh hoàng về sự phẫn nộ vô đáy của con ác quỷ. Rất có thể, ngay lúc này, hắn vẫn lởn vởn quanh Thụy Sĩ, nhẫn tâm trút cơn thịnh nộ khát máu lên đầu những người thân yêu nhất của tôi. Ý nghĩ quỷ quái đó như một bóng ma bám riết lấy tâm trí, đày đọa tôi trong mọi khoảnh khắc mà lẽ ra tôi đã có thể giành giật lấy một chút bình yên thong thả. Tôi mòn mỏi ngóng chờ những phong thư với một sự nôn nóng đến điên dại: chỉ cần chậm trễ vài hôm, tôi sẽ tự đày ải mình vào sự khốn cùng, hoàn toàn bị khuất phục trước hàng ngàn nỗi hoang mang sợ hãi. Ấy vậy mà, lúc những cánh thư cập bến, vừa thoáng thấy nét chữ thanh tú của Elizabeth hay nét chữ vững chãi của cha, bàn tay tôi lại trở nên bủn rủn, không đủ can đảm bóc ra để đối diện với phán quyết của số phận. Có những lúc, trí tưởng tượng điên rồ lại thì thầm rằng con quái vật đang âm thầm bám gót, và có lẽ hắn sẽ mượn mạng sống của người bạn đồng hành để trừng phạt sự chậm trễ của tôi. Mỗi khi ý nghĩ đó xông lên bóp nghẹt tâm trí, tôi tuyệt nhiên không dám rời Henry nửa bước. Tôi bám riết lấy cậu như một chiếc bóng ngoan đạo, liều mình bảo vệ cậu khỏi cơn thịnh nộ vô hình của kẻ hủy diệt. Tôi có cảm giác như tự tay mình đã gieo rắc một tội ác tày trời, và nhận thức bần cùng ấy chẳng phút nào ngưng cấu xé tâm can. Rõ ràng tôi vô tội, thế nhưng lời nguyền kinh khiếp tôi trót rước vào thân lại đang giáng xuống đầu tôi muôn vàn đắng cay, mang theo thứ hơi thở chết chóc còn tàn khốc hơn muôn vạn tội lỗi trên đời.

Tôi đặt chân đến Edinburgh với một đôi mắt lờ đờ cùng tâm trí uể oải, rã rời, mặc dù nhịp đập phồn hoa nơi đây dư sức mê hoặc ngay cả những kẻ mang số phận bi đát nhất. Clerval chẳng mấy mặn mà với thành phố này nếu đem so với Oxford; nét cổ kính rêu phong của thị thành trước rõ ràng đã chiếm trọn trái tim cậu. Tuy vậy, vẻ đẹp ngăn nắp, tinh tươm của khu phố mới Edinburgh, tòa lâu đài đậm chất lãng mạn, cùng những vùng ven mang vẻ đẹp ngoạn mục bậc nhất thế gian - với Arthur’s Seat10 vươn mình sừng sững, Giếng St. Bernard11 róc rách tuôn trào, và dãy Pentland hùng vĩ - cũng phần nào bù đắp cho sự hụt hẫng đó, lấp đầy tâm hồn cậu bằng sự háo hức lẫn niềm ngưỡng mộ vô ngần. Còn tôi, tôi chỉ mải miết gặm nhấm nỗi nôn nóng, khao khát được lao nhanh đến điểm tận cùng của chuyến hành trình vô định này.

Một tuần sau, chúng tôi rời khỏi Edinburgh, rong ruổi qua ngả Coupar, St. Andrews, rồi men theo đôi bờ sông Tay ngược về Perth, nơi người bạn cũ đang mỏi mòn trông ngóng. Nhưng tâm trí tôi bấy giờ làm gì còn chốn dung thân cho những nụ cười hay dăm ba câu chuyện phiếm cùng người xa lạ. Tôi càng chẳng màng gượng gạo khoác lên mình vẻ ân cần niềm nở mà người ta vẫn hằng kỳ vọng ở một vị khách phương xa. Bởi thế, tôi đã ngỏ lời cùng Clerval, bộc bạch ý nguyện muốn được tự mình đơn độc bước tiếp trên chặng đường khám phá Scotland.

"Cậu hãy cứ ở lại và tận hưởng niềm vui nhé," tôi nói, "hãy chọn chính nơi đây làm điểm hẹn của chúng ta. Có lẽ tôi sẽ vắng mặt chừng một hoặc hai tháng. Nhưng nài xin cậu, đừng cố can dự vào hành trình này. Xin hãy để tôi được lẩn khuất trong sự tĩnh lặng và cô độc một thời gian ngắn. Mong rằng khi trở lại, tôi có thể mang về một tâm hồn nhẹ nhõm hơn, để đồng điệu cùng niềm hân hoan đang rộn rã trong cậu."

Henry đã hết lời khuyên can; nhưng khi nhận ra quyết tâm sắc đá của tôi, cậu đành buông xuôi. Tuy thế, cậu vẫn khẩn khoản dặn dò tôi phải thường xuyên gửi thư về. "Tôi thà cất bước theo chân cậu," cậu thở dài, "để san sẻ những dặm trường nhọc nhằn và cô độc ấy, còn hơn là phải nấn ná lại chốn này giữa những người Scotland xa lạ. Vậy nên, người bạn trân quý của tôi ơi, hãy sớm quay về nhé. Chỉ khi có cậu kề bên, tôi mới thực sự cảm nhận được hơi ấm thân thuộc của gia đình."

Sau phút chia tay người bạn tri kỷ, tôi cất bước tìm đến một chốn hoang vu, heo hút nhất của vùng Scotland, để được một mình vùi lấp trong bóng tối và hoàn tất nốt công việc oan nghiệt. Tôi chẳng còn mảy may nghi ngờ gì nữa: con ác quỷ đó vẫn đang âm thầm bám gót tôi, và nó sẽ lạnh lùng hiện hình ngay khoảnh khắc giao kèo kết thúc, để tước đoạt lấy người bạn đời của nó.

Với lòng quyết tâm sắt đá, tôi băng qua những dải cao nguyên hoang vu phía bắc, chọn lấy một hòn đảo xa xôi nhất thuộc quần đảo Orkney12 để che giấu những dự định của mình. Khung cảnh nơi đây quả thực là một tấm phông màn hoàn hảo cho thứ công việc mà tôi sắp sửa nhúng tay vào. Cả hòn đảo trơ trọi như một phiến đá khổng lồ, được bao bọc bởi những vách núi dựng đứng, ngày đêm hứng chịu từng đợt sóng biển cuồng nộ gào thét bủa vây. Đất đai khô cằn đến độ chỉ lơ thơ vài vạt cỏ úa cho dăm ba con bò gầy gò nhai lại, cùng chút đỉnh yến mạch nuôi sống năm nhân khẩu nhỏ bé trên đảo. Hình hài gầy guộc, xương xẩu của họ là minh chứng rõ rệt nhất cho những bữa ăn khốn cùng. Mỗi khi họ muốn tự thưởng cho bản thân một bữa tiệc "xa xỉ" với rau củ và bánh mì, hay thậm chí chỉ là một ngụm nước ngọt, tất cả đều phải được tiếp tế từ đất liền, cách đó tận năm dặm đường biển.

Trên khoảng đất hoang tàn này chỉ có ba túp lều rách nát, và một trong số đó tình cờ bị bỏ trống đúng lúc tôi đặt chân đến. Tôi đã thuê lại nó. Căn lều chỉ vỏn vẹn hai gian phòng, phơi bày trần trụi sự dơ dáy của một cảnh bần cùng tột độ. Mái tranh xiêu vẹo chực chờ đổ sụp, những bức tường đá nham nhở không lấy một lớp vữa trát, còn cánh cửa gỗ thì đã bung hẳn khỏi bản lề. Tôi liền mướn người tu sửa sơ sài, mua sắm vài món đồ đạc thiết yếu và dọn vào ở. Sự xuất hiện đột ngột của tôi lẽ ra phải gây xôn xao ít nhiều, thế nhưng, mọi giác quan của những con người đáng thương kia dường như đã bị sự thiếu thốn và cái nghèo cùng cực làm cho tê liệt hoàn toàn. Nhờ vậy, tôi được sống trong cảnh ẩn dật, chẳng mảy may bị ai dòm ngó hay quấy rầy. Thậm chí, tôi còn hiếm khi nhận được một lời cảm tạ cho chút thức ăn hay quần áo cũ mà mình đem cho; những nỗi thống khổ triền miên dường như đã bào mòn đến cả những xúc cảm thô sơ nhất của con người.

Trong chốn nương náu cô liêu này, tôi dành trọn các buổi sáng để giam mình với công việc. Nhưng khi ráng chiều buông xuống và thời tiết ôn hòa hơn, tôi lại thả bộ dọc theo bãi biển lởm chởm sỏi đá, trầm ngâm lắng nghe tiếng sóng biển gầm rú dữ dội rồi vỡ tan dưới gót chân mình. Một khung cảnh tuy đơn điệu nhưng chưa bao giờ ngừng biến ảo. Nhìn cảnh vật trước mắt, tâm trí tôi lại miên man trôi về Thụy Sĩ. Chao ôi, quê hương tôi sao lại đối lập hoàn toàn với chốn hoang tàn đáng sợ này! Ở đó, những dải đồi trập trùng được khoác lên mình tấm áo xanh mướt của các vườn nho, những mái nhà tranh mộc mạc nép mình san sát trên các thảm thảo nguyên êm đềm. Những mặt hồ phẳng lặng như gương, trong vắt phản chiếu bầu trời thanh bình; và ngay cả khi bị những cơn gió vô tình khuấy động, sự xôn xao của chúng cũng chỉ tựa như một trò đùa tinh nghịch của trẻ thơ, thật chẳng thấm tháp gì nếu đem so với tiếng gầm thét thịnh nộ của đại dương bao la.

Thuở mới đặt chân đến, tôi đã tự phân bổ thời gian của mình như thế. Tuy nhiên, càng dấn sâu vào công việc, mỗi ngày trôi qua với tôi lại càng trở nên kinh hoàng và đáng ghê tởm. Có những lúc, tôi rùng mình kinh hãi, không tài nào ép nổi bản thân bước vào phòng thí nghiệm suốt nhiều ngày liền. Thế nhưng lại có những khi, tôi điên cuồng cắm mặt vào công việc không kể ngày đêm chỉ mong sao nhanh chóng kết thúc sự dằn vặt này. Quả thực, đó là một quá trình đáng ghê tởm mà tôi đã trót sa chân. Nhớ lại thí nghiệm đầu tiên, một thứ cuồng tín sục sôi đã làm tôi mù quáng, che khuất mọi sự kinh dị trong việc mình làm; tâm trí tôi khi ấy chỉ dán chặt vào thành quả cuối cùng, còn đôi mắt thì nhắm nghiền trước sự man rợ của chính bàn tay mình. Nhưng giờ đây, tôi đang lao vào công việc này bằng một cái đầu lạnh lẽo và vô cảm, để rồi trái tim tôi không ngừng quặn thắt, trực trào cơn buồn nôn trước chính tạo tác nhơ nhuốc của mình.

Bị giam cầm trong chốn hoang vu này, đắm chìm vào một công việc quỷ ám, và bị bủa vây bởi sự cô độc tuyệt đối - nơi không một điều gì có thể lôi kéo sự chú ý của tôi dù chỉ là một khoảnh khắc khỏi thực tại tàn nhẫn, tinh thần tôi đã hoàn toàn sụp đổ. Tôi trở nên bồn chồn, hoang tưởng và căng thẳng tột độ. Mỗi phút mỗi giây, trái tim tôi đều giật thót trước nỗi sợ hãi tột cùng rằng kẻ thù đang bám đuổi mình. Có những lúc, tôi ngồi thu lu, đôi mắt dán chặt xuống sàn nhà lạnh lẽo, chẳng dám ngước lên vì e sợ ánh nhìn của mình sẽ vô tình chạm trán với con ác quỷ mà tôi kinh tởm đến tận xương tủy. Tôi thậm chí không dám đi xa khỏi tầm mắt của con người, luôn nơm nớp lo sợ rằng hễ tôi chỉ có một mình, hắn sẽ lù lù xuất hiện để đòi lại cô dâu của mình.

Dẫu vậy, tôi vẫn cắn răng tiếp tục công việc, và những nỗ lực ấy cũng đã có những bước tiến đáng kể. Tôi trông đợi ngày nó hoàn thành với một niềm hi vọng run rẩy và đầy cuồng loạn, một thứ hi vọng mà tôi chẳng dám tự hỏi lòng mình. Nhưng xen lẫn trong đó lại là những dự cảm mờ mịt, tăm tối về một tai ương khủng khiếp sắp giáng xuống, khiến trái tim tôi cứ thế co thắt lại trong lồng ngực.




  1. Thuật ngữ phổ biến thời xưa dùng để chỉ các nhà khoa học, đặc biệt là những người nghiên cứu về vật lý, hóa học và các hiện tượng tự nhiên, trước khi từ 'nhà khoa học' (scientist) ra đời. ↩

  2. Một thị trấn thuộc hạt Derbyshire, Anh, nổi tiếng với các hẻm núi sâu, suối nước khoáng và các hang động mang vẻ đẹp tự nhiên. ↩

  3. Charles I (1600-1649) là vị vua Anh từng đóng quân tại Oxford trong cuộc Nội chiến Anh. Cuộc chiến kết thúc bằng việc ông bị chặt đầu, mở ra thời kỳ Cộng hòa ngắn ngủi dưới sự lãnh đạo của Nghị viện. ↩

  4. Trong Nội chiến Anh (1642-1651), phe Nghị viện (Parliamentarians) đấu tranh chống lại quyền lực tuyệt đối của hoàng gia (phe bảo hoàng), đòi hỏi nhiều quyền tự do và dân chủ hơn. ↩

  5. Lucius Cary, Tử tước Falkland đệ nhị, là một học giả, nhà thơ và chính trị gia lỗi lạc. Ông theo phe bảo hoàng và tử trận năm 1643 trong cuộc Nội chiến Anh. ↩

  6. Trong nguyên tác tiếng Anh, nhân vật này là Goring (George Goring) - một vị tướng phe bảo hoàng khét tiếng với tính cách kiêu ngạo, xấc xược. Có thể đây là một sai sót nhỏ trong việc chuyển ngữ của bản dịch. ↩

  7. Tên gọi truyền thống của một đoạn sông Thames chảy qua thành phố Oxford, Anh. ↩

  8. John Hampden (1595-1643) là một chính trị gia người Anh, một trong những người đầu tiên dám đứng lên chống lại quyền lực của Vua Charles I, được xem là một vị anh hùng ái quốc đấu tranh vì quyền lợi của Nghị viện. ↩

  9. Hai hạt lịch sử nằm ở vùng Tây Bắc nước Anh, bao trọn phần lớn Vùng Hồ (Lake District) nổi tiếng với phong cảnh đồi núi và hồ nước tuyệt đẹp. ↩

  10. Ngọn đồi chính và là đỉnh cao nhất trong nhóm đồi tạo thành Công viên Holyrood ở trung tâm Edinburgh, Scotland. Nơi đây vốn là một ngọn núi lửa đã tắt. ↩

  11. St. Bernard's Well là một giếng nước khoáng lịch sử nằm ven sông Water of Leith ở Edinburgh, từng được cho là có khả năng chữa bệnh. ↩

  12. Một quần đảo nằm ở vùng biển phía bắc Scotland, nổi tiếng với khí hậu khắc nghiệt, cảnh quan hoang sơ, cằn cỗi và vô cùng hẻo lánh. ↩