CHƯƠNG VII.

Chúng tôi chìm trong những giờ phút nặng nề, u ám cho đến tận mười một giờ trưa, khi phiên tòa chính thức bắt đầu. Cha tôi cùng những người còn lại trong nhà bị triệu tập với tư cách nhân chứng, và tôi theo bước họ đến chốn pháp đình. Xuyên suốt phiên xử - mà với tôi chẳng khác nào một màn bôi nhọ công lý trắng trợn - tôi quằn quại trong nỗi thống khổ như bị lăng trì róc thịt1. Người ta sắp sửa phán xét xem, liệu những tò mò rồ dại và phát minh ngông cuồng của tôi có phải là nguồn cơn tước đoạt sinh mạng của hai người đồng loại hay không. Một người là đứa trẻ luôn hé môi cười, mang trong mình vẹn nguyên nét ngây thơ và niềm vui sống; còn người kia lại sắp phải đối mặt với một cái chết tàn khốc hơn gấp bội, gánh trên vai nỗi ô nhục ê chề khiến cho vụ án mạng càng thêm phần kinh hãi. Justine vốn là một cô gái đức hạnh, mang những phẩm chất hứa hẹn một tương lai êm đềm; thế nhưng, tất thảy giờ đây sắp bị chôn vùi dưới nấm mồ oan khuất. Và tôi, chính tôi là kẻ gieo rắc bi kịch này! Đã cả ngàn lần tôi muốn lao ra nhận lấy tội danh tày trời đang giáng xuống đầu Justine. Song, tôi lại vắng mặt vào đêm xảy ra án mạng, và một lời thú tội dẫu có cất lên cũng chỉ bị gạt đi như tiếng lảm nhảm của một gã điên, chẳng mảy may cứu rỗi được người con gái đang gánh chịu đọa đày vì tôi.

Justine xuất hiện với dáng vẻ trầm tĩnh lạ thường. Cô khoác trên mình bộ tang phục; và khuôn mặt vốn dĩ luôn rạng rỡ của cô, nay được phủ lên nét trang nghiêm bởi những xúc cảm chất chứa, lại toát ra một vẻ đẹp u sầu đến nao lòng. Dẫu vậy, cô vẫn ngẩng cao đầu với niềm tin mãnh liệt vào sự trong sạch của bản thân. Cô không hề run rẩy, dù đang hứng chịu hàng ngàn ánh mắt chòng chọc soi mói cùng những lời nguyền rủa cay độc. Bởi lẽ, chút thiện cảm hiếm hoi mà nhan sắc kia có thể đánh thức đã hoàn toàn bị bóp nghẹt trong tâm trí đám đông, khi họ cứ mải mường tượng về tội ác tày trời mà người ta gán cho cô. Cô cố giữ vẻ điềm nhiên, nhưng sự điềm nhiên ấy lộ rõ nét gượng gạo. Lòng hoảng loạn khi trước của cô đã bị vin vào làm bằng chứng buộc tội, thế nên cô đành phải gồng mình, khoác lên vẻ can trường giả tạo. Vừa bước vào phòng xử án, cô đưa mắt lướt quanh và nhanh chóng nhận ra chỗ gia đình tôi đang ngồi. Một giọt lệ dường như đã làm nhòe đi khóe mắt cô khi nhìn thấy chúng tôi; nhưng rất nhanh, cô thu lại vẻ yếu mềm, trao cho chúng tôi một ánh nhìn chan chứa tình cảm xót xa - một minh chứng câm lặng cho sự vô tội tuyệt đối của người con gái ấy.

Phiên tòa mở màn. Sau khi vị công tố viên dõng dạc đọc bản cáo trạng, vài nhân chứng bước lên bục. Biết bao tình tiết kỳ lạ đan cài vào nhau, bủa vây lấy Justine, đủ sức làm lung lay niềm tin của bất kỳ ai - ngoại trừ một kẻ đã nắm rõ chân tướng vô tội của cô như tôi. Cô đã vắng nhà suốt cái đêm định mệnh ấy, và mãi đến lúc rạng đông mới bị một người đàn bà họp chợ bắt gặp đang lảng vảng quanh khu vực phát hiện thi thể đứa trẻ đáng thương. Khi người đàn bà nọ gặng hỏi cô làm gì ở đó, Justine lộ rõ vẻ mặt hoảng loạn bất thường, chỉ kịp buông vài lời lắp bắp, lộn xộn rồi rời đi. Cô trở về nhà vào khoảng tám giờ sáng. Khi mọi người truy vấn xem đêm qua cô đã đi đâu, cô đáp rằng mình đã đổ xô đi tìm đứa trẻ, rồi khẩn thiết vặn hỏi lại xem liệu đã có tin tức gì của cậu bé chưa. Đến lúc được nhìn thấy cái xác không hồn, cô đã rơi vào cơn kích động tột độ, dẫn đến việc phải nằm liệt giường suốt nhiều ngày ròng rã. Không dừng lại ở đó, bức chân dung được người hầu tìm thấy trong túi áo cô bị lôi ra làm vật chứng. Và khi Elizabeth, với chất giọng run rẩy, xác nhận đó chính là kỷ vật cô đã đích thân đeo lên cổ cậu bé chỉ một giờ trước lúc mất tích, cả khán phòng lập tức ồ lên những tiếng xì xào rùng rợn, nhuốm đầy vẻ căm phẫn và kinh hãi.

Justine được gọi lên bục để tự bào chữa. Xuyên suốt tiến trình xét xử, nét mặt cô không ngừng biến đổi. Sự bàng hoàng, nỗi khiếp sợ và cả niềm đau đớn tột cùng hằn rõ trên từng đường nét. Đôi lúc, cô phải cắn răng kìm lại những giọt lệ chực trào. Thế nhưng, vào giây phút được yêu cầu lên tiếng, cô đã gom nhặt chút sức tàn lực kiệt để cất lời. Giọng cô dẫu đã nhuốm màu run rẩy nhưng vẫn đủ vang vọng khắp gian phòng:-

"Chúa thấu hiểu cho tôi," cô nghẹn ngào, "rằng tôi hoàn toàn trong sạch. Nhưng tôi chẳng dám kỳ vọng những lời phân trần này sẽ mang lại cho mình một phán quyết tha bổng. Tôi chỉ biết trông cậy sự vô tội của mình vào lời giải thích cặn kẽ và chân thật nhất về chuỗi sự kiện đang dồn ép mình vào bước đường cùng. Và tôi cầu mong rằng, nhân phẩm mà tôi hằng gìn giữ bấy lâu sẽ thôi thúc quý tòa mở lòng khoan dung, soi xét tường tận trước bất kỳ tình tiết nào còn ẩn khuất hay nhuốm màu nghi vấn."

Sau đó, cô tường thuật lại mọi việc. Được sự chấp thuận của Elizabeth, cô đã dành trọn buổi tối định mệnh ấy tại nhà một người dì ở Chêne, một ngôi làng cách Geneva chừng một dặm. Trên đường trở về vào khoảng chín giờ, cô tình cờ bắt gặp một người đàn ông lạ mặt. Ông ta hỏi dò xem cô có thấy tung tích của một đứa trẻ đi lạc hay không. Bàng hoàng trước hung tin, cô tức tốc đổ đi tìm kiếm cậu bé suốt nhiều giờ liền. Mãi cho đến khi cổng thành Geneva đóng sập lại, cô mới đành phải tìm nơi tá túc qua đêm trong một nhà kho xập xệ của căn nhà tranh gần đó. Vốn dĩ quen biết chủ nhà, cô chẳng đành lòng gõ cửa quấy rầy giấc ngủ của họ. Thức trắng đêm trong trằn trọc và lo âu, cô rời khỏi nơi trú ẩn ngay khi trời vừa hửng sáng, để tiếp tục lao đi tìm kiếm đứa em trai bé bỏng của tôi. Nếu quả thực bước chân cô có vô tình lướt qua nơi thi thể cậu bé lạnh lẽo nằm lại, thì đó hoàn toàn là do cô chẳng hề hay biết. Cả việc cô tỏ ra hoảng loạn khi bị người đàn bà họp chợ gặng hỏi cũng là lẽ đương nhiên. Bất kỳ ai thức trắng một đêm dài dằng dặc trong tâm trạng thấp thỏm không yên về số phận của bé William tội nghiệp cũng sẽ hành xử như vậy. Riêng về bức chân dung, cô hoàn toàn bất lực, chẳng thể đưa ra lấy một lời lý giải.

"Tôi biết," nạn nhân bất hạnh nức nở nói tiếp, "tình tiết kia đang chĩa mũi dùi oan nghiệt và chí mạng vào tôi đến nhường nào. Thế nhưng, tôi thực sự bất lực, không tài nào lý giải nổi. Cùng với lời thề danh dự rằng mình hoàn toàn không mảy may hay biết, tôi chỉ còn biết lờ mờ suy đoán xem bằng cách nào mà kỷ vật ấy lại lọt thỏm vào túi áo mình. Song, ngay cả những suy đoán ấy cũng đi vào ngõ cụt. Tôi tin chắc rằng mình không hề gây thù chuốc oán với ai trên cõi đời này. Phỏng có kẻ nào lại mang tâm địa độc ác đến mức nhẫn tâm tàn phá cuộc đời tôi mà chẳng vì một lý do nào cơ chứ? Hay chính tên sát nhân đã lén lút giấu nó vào đó? Tôi không tài nào hiểu được hắn lấy đâu ra cơ hội để ra tay; mà giả như có đi chăng nữa, thì cớ sao hắn lại cất công đánh cắp món đồ trang sức ấy, để rồi lại vứt bỏ nó đi một cách chóng vánh đến vậy?

"Tôi xin phó thác sinh mệnh nhỏ bé này vào sự công minh của quý tòa, dẫu cho trong lòng chẳng còn le lói lấy một tia hy vọng. Tôi chỉ cúi xin quý tòa cho phép triệu tập vài nhân chứng để minh chứng cho nhân phẩm của tôi bấy lâu nay. Và giả như những lời khai ấy vẫn chẳng đủ sức rửa sạch vết nhơ mà người ta đang vấy lên thân tôi, thì tôi đành nhắm mắt cúi đầu nhận lãnh bản án. Nhưng xin hãy nhớ cho, tôi nguyện đem cả sự cứu rỗi của linh hồn mình ở kiếp sau ra để thề độc rằng: Tôi hoàn toàn trong sạch."

Nhiều nhân chứng đã bước lên bục. Họ là những người quen biết Justine từ nhiều năm nay, và thảy đều dành cho cô những lời tốt đẹp. Thế nhưng, nỗi sợ hãi mơ hồ xen lẫn sự căm phẫn tột độ trước tội ác tày đình mà người ta đinh ninh là do cô gây ra, đã khiến họ co rúm lại. Sự e dè bủa vây khiến chẳng một ai cam tâm tình nguyện đứng ra che chở cho cô. Elizabeth đau đớn nhận ra rằng, ngay cả tia sáng cuối cùng - chính là bản chất lương thiện cùng lối sống không một vết xước của Justine - cũng đang chực chờ ngoảnh mặt lại với cô. Dẫu cho tâm can đang cuộn trào những đợt sóng kích động, Elizabeth vẫn mạnh dạn xin phép được cất lời trước công đường.

"Tôi," em chậm rãi cất tiếng, "là chị họ của đứa trẻ bất hạnh vừa bị sát hại. Hay đúng hơn, tôi như một người chị gái ruột thịt, bởi lẽ tôi đã được nuôi dưỡng và chở che dưới cùng một mái ấm với cha mẹ thằng bé ngay từ lúc em ấy cất tiếng khóc chào đời, thậm chí là từ rất lâu trước đó. Chính vì thế, sự hiện diện của tôi trên bục nhân chứng lúc này có thể bị xem là đường đột và không hợp lẽ. Nhưng làm sao tôi có thể trơ mắt đứng nhìn một người đồng loại sắp bị tước đoạt sinh mạng, chỉ vì sự hèn nhát và nhu nhược của những kẻ hằng tự xưng là bạn bè? Tôi cúi xin quý tòa cho phép tôi được nói ra tất thảy những gì mình biết về nhân phẩm của người con gái ấy. Tôi vô cùng gắn bó với bị cáo. Tôi đã sống chung một mái nhà với em ấy - một dạo kéo dài năm năm, và lần khác ngót nghét hai năm trời. Trong suốt ngần ấy thời gian, em ấy luôn ngự trị trong tâm trí tôi như một con người hiền hậu và đáng mến nhất thế gian. Chính em ấy đã túc trực bên phu nhân Frankenstein - người bác gái quá cố của tôi - trong cơn bạo bệnh cuối đời, bằng một thứ tình cảm thiêng liêng cùng sự tận hiến vô bờ bến. Rồi sau đó, em lại tiếp tục gồng gánh việc chăm lo cho mẹ ruột trong suốt chuỗi ngày ốm đau mòn mỏi, bằng một thái độ hiếu nghĩa khiến bất kỳ ai chứng kiến cũng phải nể phục tận tâm can. Mãn tang mẹ, em ấy quay về nương náu dưới mái nhà của bác trai tôi, nơi em lại một lần nữa đón nhận vòng tay yêu thương của cả gia đình. Đặc biệt, em ấy dành một tình cảm sâu nặng lạ thường cho đứa trẻ vắn số vừa qua đời, nâng niu, chăm bẵm thằng bé bằng hơi ấm của một người mẹ hiền. Về phần mình, tôi chẳng cần mảy may đắn đo mà lớn tiếng khẳng định rằng: dẫu cho muôn vàn bằng chứng có đang chĩa thẳng mũi nhọn vào em ấy, tôi vẫn một lòng đặt trọn niềm tin vào sự trong sạch tuyệt đối nơi con người này. Em ấy chẳng có mảy may một động cơ hèn mọn nào để nhúng chàm vào tội ác kinh thiên động địa ấy. Còn về món đồ trang sức đang bị lôi ra làm bằng chứng buộc tội chí mạng kia, nếu như em ấy thực sự đem lòng thèm khát nó, tôi hẳn đã tự tay trao tặng cho em ấy từ lâu rồi. Bởi lẽ, tôi trân quý và nể trọng em ấy hơn bất cứ thứ ngọc ngà châu báu nào trên đời."

Ôi, Elizabeth tuyệt vời của anh! Khắp khán phòng rộ lên những tiếng xì xào tán thưởng. Nhưng hỡi ôi, sự ngưỡng mộ ấy chỉ dành cho hành động nghĩa hiệp đầy cao thượng của em, chứ tuyệt nhiên chẳng mảy may đoái hoài gì đến việc bênh vực Justine tội nghiệp. Trái lại, cơn phẫn nộ của đám đông lại cuồn cuộn dội xuống đầu người con gái ấy bằng một sự tàn nhẫn và hung hãn gấp bội, họ thi nhau nguyền rủa sự vô ơn bạc nghĩa đến tận cùng của cô. Bản thân Justine cũng rưng rưng dòng lệ khi nghe Elizabeth cất lời, nhưng cô chỉ lặng thinh chẳng đáp. Xuyên suốt phiên tòa, nỗi hoảng loạn và thống khổ trong tôi bị đẩy lên đến tột cùng. Tôi tin vào sự trong sạch của Justine; tôi biết rõ mười mươi điều đó. Lẽ nào con ác quỷ kia - kẻ mà tôi không mảy may nghi ngờ chính là hung thủ tước đoạt sinh mạng em trai tôi - trong một trò đùa man rợ chốn địa ngục, lại rắp tâm đẩy một con người vô tội vào chỗ chết và nhấn chìm cô trong hố sâu ô nhục? Tôi như bị vắt kiệt sức lực trước hoàn cảnh đầy rẫy kinh hoàng này. Và rồi, khi chua xót nhận ra rằng từng tiếng gào thét của đám đông, cùng với nét mặt lạnh lùng của các vị quan tòa, đã âm thầm kết liễu số phận của nạn nhân bất hạnh ấy, tôi lao lảo đảo ra khỏi phòng xử án trong một nỗi đớn đau tột cùng. Những đòn roi tra tấn giáng xuống đầu bị cáo sao có thể sánh bằng nỗi đày đọa đang giày vò tâm can tôi? Cô ấy dẫu sao vẫn được nâng đỡ bởi sự thanh thản của một tâm hồn trong sạch, còn tôi, những chiếc nanh độc ác của sự ân hận đang không ngừng cào xé lồng ngực, quyết chẳng chịu buông tha.

Tôi chìm ngập trong một đêm dài đau đớn đằng đẵng, chẳng le lói lấy một tia sáng hy vọng nào. Bình minh ló dạng, tôi kéo lê những bước chân nặng trĩu quay lại tòa án. Môi và cổ họng tôi khô khốc, đắng nghét. Tôi chẳng đủ can đảm để cất lời dò hỏi cái tin tức định mệnh ấy. Nhưng vốn là người quen mặt, viên chức nọ lập tức đoán được tâm can tôi. Những lá phiếu đã được rải xuống; tất thảy đều nhuốm một màu đen tang tóc. Justine đã bị kết án tử.

Tôi chẳng thể nào giả vờ khoác lác rằng mình có thể diễn tả trọn vẹn những xúc cảm bủa vây lúc bấy giờ. Quá khứ đã từng quẳng tôi vào những nỗi kinh hoàng tột độ, và tôi cũng đã cố gắng gọt giũa ngôn từ để phác họa lại chúng. Nhưng hỡi ôi, mọi ngôn từ đều trở nên bất lực, chẳng tài nào lột tả được cái khái niệm về sự tuyệt vọng bệnh hoạn đang ăn mòn tận tâm can tôi trong khoảnh khắc ấy. Người viên chức nọ còn bồi thêm một đòn chí mạng, rằng Justine đã cúi đầu nhận tội. "Thật ra thì," ông ta dửng dưng nhận xét, "trong một vụ án mà mọi thứ đã rành rành ra thế này, lời thú tội ấy dẫu chẳng cần thiết cho lắm, nhưng tôi lại vô cùng mừng rỡ khi có được nó. Và thú thực mà nói, chẳng vị quan tòa nào của chúng tôi lại muốn tuyên án tử một kẻ phạm tội chỉ đơn thuần dựa vào những bằng chứng hoàn cảnh, dẫu cho chúng có mang tính quyết định đến nhường nào đi chăng nữa."

Khi tôi lết những bước chân rã rời trở về nhà, Elizabeth đã vội vã chạy ùa ra, cuống cuồng gặng hỏi kết quả.

"Em à," tôi khó nhọc đáp, "mọi chuyện đã được định đoạt đúng như điều tồi tệ nhất mà em có thể mường tượng ra. Các quan tòa thà để mười người vô tội phải hàm oan, còn hơn để lọt lưới một kẻ thủ ác. Nhưng… cô ấy đã thú nhận rồi."

Tin dữ ấy chẳng khác nào một đòn giáng trời giáng xuống đầu Elizabeth tội nghiệp, đập nát niềm tin vững như bàn thạch mà em hằng đặt vào sự trong sạch của Justine.

"Chao ôi!" em nức nở, "sau cú sốc này, làm sao em còn dám đặt niềm tin vào lòng nhân từ của con người thêm một lần nào nữa đây? Justine, người mà em nhất mực yêu thương và trân quý như máu mủ ruột rà, sao em ấy có thể khoác lên mình nụ cười ngây thơ dường ấy chỉ để che đậy cho sự phản trắc cay độc? Đôi mắt dịu dàng của em ấy, một đôi mắt tưởng chừng như chẳng thể dung chứa bất kỳ tia tàn nhẫn hay ác ý nào, vậy mà… vậy mà em ấy lại nhẫn tâm phạm tội giết người!"

Ngay sau đó, chúng tôi hay tin nạn nhân đáng thương đã bày tỏ nguyện vọng được gặp em họ tôi. Cha tôi vốn chẳng hề muốn em đi; nhưng rồi ông đành nhượng bộ, để mặc cho lý trí và cảm xúc của chính em tự đưa ra quyết định. "Vâng," Elizabeth cất lời, "em sẽ đi, dẫu con bé có thực sự mang tội; và anh, Victor, anh sẽ đi cùng em: em không thể gánh vác việc này một mình." Chỉ riêng ý nghĩ về chuyến đi này thôi cũng đủ trở thành một màn tra tấn tàn khốc đối với tâm can tôi, nhưng tôi chẳng thể nào chối từ.

Chúng tôi bước vào buồng giam tăm tối, và nhìn thấy Justine đang thu mình trên chiếc nệm rơm nơi góc phòng; đôi tay em bị còng chặt, và đầu gục xuống hai đầu gối. Khi nhận ra chúng tôi bước vào, em vội gượng đứng lên; và đến khi chỉ còn lại chúng tôi với nhau, em đã gieo mình dưới chân Elizabeth, bật khóc nức nở. Em họ tôi cũng nhòa lệ.

"Ôi, Justine!" em cất tiếng, "sao em lại nhẫn tâm cướp đi niềm an ủi cuối cùng của chị. Chị đã từng tin tưởng tuyệt đối vào sự trong sạch của em; dẫu khi đó chị có đớn đau đến nhường nào, thì chị cũng không hề cảm thấy khốn cùng như giây phút này."

"Và tiểu thư cũng cho rằng em thực sự, thực sự độc ác đến thế sao? Ngay cả tiểu thư cũng hùa theo những kẻ thù ngoài kia để chà đạp em ư?" Giọng em nghẹn ngào, đứt quãng giữa những tiếng nấc.

"Đứng lên đi, Justine tội nghiệp," Elizabeth xót xa, "sao em lại phải quỳ, nếu em vô tội? Chị không phải là kẻ thù của em; chị đã luôn tin em trong sạch, bất chấp mọi bằng chứng rành rành, cho đến khi chị nghe nói chính em đã tự mình thừa nhận tội lỗi. Cái cớ sự đó, chẳng lẽ em định bảo là dối trá sao; và hãy yên tâm đi, Justine thân mến, rằng không một thế lực nào có thể làm suy suyển niềm tin của chị dành cho em dù chỉ là một khoảnh khắc, ngoại trừ chính lời thú tội thốt ra từ miệng em."

"Em đã thú nhận; nhưng lời thú nhận ấy là một sự dối trá. Em nhận tội, những mong có thể được ban ơn xá tội; nhưng giờ đây, lời nói dối ấy lại đè nặng lên trái tim em hơn muôn ngàn tội ác khác. Xin Chúa lòng lành hãy thứ tha cho em! Kể từ lúc em bị kết án, vị cha xứ của em đã liên tục bủa vây; ngài đe dọa và uy hiếp, cho đến khi em gần như thực sự tin rằng mình chính là con ác quỷ như lời ngài phán xét. Ngài dọa sẽ rút phép thông công2 và đày đọa em vào ngọn lửa địa ngục vĩnh hằng trong những giây phút cuối đời, nếu em vẫn ngoan cố. Tiểu thư ơi, em biết nương tựa vào ai đây; tất cả đều nhìn em bằng ánh mắt khinh miệt dành cho một kẻ khốn nạn bị kết án phải chịu sự ô nhục và đọa đày. Em có thể làm gì khác được đây? Trong một phút yếu lòng, em đã thỏa hiệp với một lời nói dối; và giờ đây em mới thực sự nếm trải tận cùng nỗi thống khổ."

Em nghẹn lời, nức nở bật khóc, rồi lại nói tiếp-"Em đã kinh hoàng khi nghĩ rằng, tiểu thư ngọt ngào của em, tiểu thư sẽ tin Justine của tiểu thư-người mà phu nhân đáng kính đã hết lòng tin tưởng, và cũng là người mà tiểu thư từng yêu mến-lại là một sinh vật có khả năng rắp tâm thực hiện một tội ác tày trời mà chẳng ai ngoài chính con ác quỷ mới có thể ra tay. William bé bỏng thân yêu! Đứa trẻ đáng yêu nhất trần đời! Chị sẽ sớm được gặp lại em trên thiên đường, nơi tất cả chúng ta sẽ ngập tràn hạnh phúc; và ý nghĩ ấy chính là niềm an ủi lớn lao nhất dành cho chị, khi chị đang bước những bước cuối cùng đến cái chết ô nhục này."

"Ôi, Justine! Hãy tha thứ cho chị vì đã có một giây phút hồ đồ nghi ngờ em. Sao em lại đi thú nhận cơ chứ? Nhưng đừng than khóc nữa, Justine thân mến; chị sẽ đi khắp mọi nơi để tuyên cáo sự vô tội của em, và buộc họ phải tin. Dẫu vậy, em vẫn phải chết; em, người bạn thuở nhỏ của chị, người đồng hành cùng chị, người còn hơn cả một người em gái. Chị sẽ chẳng thể nào sống sót nổi qua một tấn bi kịch kinh hoàng đến nhường này."

"Tiểu thư Elizabeth ngọt ngào, thân yêu ơi, xin người đừng khóc. Lẽ ra tiểu thư nên vực em dậy bằng những kỳ vọng về một kiếp nhân sinh tốt đẹp hơn, và cứu rỗi em khỏi những bận tâm vụn vặt của cái thế giới đầy rẫy bất công và xung đột này. Đừng, người bạn tuyệt vời của em, xin đừng dìm em vào vực sâu tuyệt vọng."

"Chị sẽ cố gắng an ủi em; nhưng chị e rằng, đây là một tội ác quá đỗi cay nghiệt và đớn đau để có thể mưu cầu sự an ủi, bởi vì chẳng còn lại dẫu chỉ một tia hy vọng nào. Dù vậy, cầu trời ban phước cho em, Justine thân yêu nhất của chị, một sự cam chịu tĩnh tại, và một đức tin được thăng hoa vượt ra khỏi thế giới phàm tục này. Ôi! Chị căm ghét những màn kịch và sự chế nhạo của cái trần thế này biết bao! Khi một sinh mạng bị tước đoạt, một sinh mạng khác ngay lập tức bị đưa lên đoạn đầu đài3 theo một cách thức tra tấn tàn bạo nhất; để rồi những kẻ hành quyết, với đôi bàn tay vẫn còn vương mùi máu của sự ngây thơ, lại huyễn hoặc bản thân rằng chúng vừa làm một việc vô cùng vĩ đại. Chúng gọi đó là sự đền tội. Cái danh xưng thật đáng kinh tởm! Khi từ đó được thốt ra, chị thừa biết rằng những hình phạt tàn khốc và kinh khủng hơn sắp sửa được giáng xuống, vượt xa cả những gì mà một tên bạo chúa u ám nhất từng nghĩ ra để thỏa mãn cơn khát máu báo thù tột độ của hắn. Thế nhưng, điều này chẳng phải là sự an ủi dành cho em, Justine của chị, trừ phi quả thực em có thể kiêu hãnh mà mỉm cười khi thoát khỏi một cái hang ổ bẩn thỉu và khốn nạn đến thế. Chao ôi! Ước gì chị được yên nghỉ bên bác gái và bé William đáng yêu của chị, thoát khỏi một thế giới đã trở nên quá đỗi tởm lợm, và thoát khỏi những khuôn mặt người mà chị chỉ thấy rùng mình ghê sợ."

Justine mỉm cười yếu ớt. "Đây, thưa tiểu thư, là sự tuyệt vọng, chứ chẳng phải là sự cam chịu. Em không được học cái bài học mà tiểu thư muốn truyền dạy cho em. Hãy nói về chuyện khác đi, chuyện gì đó mang lại sự bình yên, chứ đừng khoét sâu thêm vào nỗi thống khổ này nữa."

Suốt cuộc trò chuyện đó, tôi thu mình vào một góc phòng giam tăm tối để giấu đi nỗi thống khổ kinh hoàng đang giày xéo tâm can. Tuyệt vọng ư! Ai dám cất lời về hai chữ ấy chứ? Cô gái đáng thương kia, người mà chỉ rạng sáng mai thôi sẽ phải bước qua ranh giới ảm đạm giữa sự sống và cái chết, cũng chẳng thể nào cảm nhận được nỗi đau đớn tột cùng và cay đắng như tôi lúc này. Tôi nghiến chặt răng, bật ra một tiếng rên rỉ từ tận đáy sâu tâm hồn. Justine giật mình. Khi nhận ra tôi, em cất bước lại gần và nói: "Thưa thiếu gia, ngài thật tốt bụng khi đến thăm em. Em hy vọng, ngài không tin rằng em có tội."

Tôi nghẹn ngào không thốt nên lời. "Không đâu, Justine," Elizabeth lên tiếng, "anh ấy còn tin chắc vào sự vô tội của chị hơn cả em cơ; bởi vì ngay cả khi nghe tin chị đã nhận tội, anh ấy cũng tuyệt đối không tin."

"Em thực lòng biết ơn thiếu gia. Trong những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời, em cất giữ một lòng biết ơn chân thành nhất dành cho những ai đã đối xử tử tế với mình. Tình thương của mọi người dành cho một kẻ khốn cùng như em mới ngọt ngào làm sao! Nó đã xoa dịu đi quá nửa nỗi bất hạnh trong em; và giờ đây em cảm thấy mình đã có thể nhắm mắt xuôi tay trong bình yên, khi sự vô tội của em đã được tiểu thư cùng thiếu gia công nhận."

Và thế là cô gái đáng thương ấy đã cố gắng an ủi người khác, cũng như an ủi chính bản thân mình. Em quả thực đã tìm thấy được sự thanh thản và cam chịu mà em hằng mong mỏi. Nhưng tôi, kẻ sát nhân thực sự, lại cảm nhận rõ con giòi bọ không bao giờ chết đang ngày đêm đục khoét lồng ngực4, cướp đi của tôi mọi hy vọng và niềm an ủi mỏng manh nhất. Elizabeth cũng khóc, em cũng đau đớn khôn nguôi; nhưng nỗi đau của em là nỗi đau của sự ngây thơ thanh khiết, giống như một đám mây lướt qua vầng trăng sáng, dẫu có che khuất đôi chút thì cũng chẳng thể nào làm hoen ố được thứ ánh sáng vằng vặc kia. Còn với tôi, sự thống khổ và tuyệt vọng đã ngấm sâu vào tận cốt tủy; tôi mang theo một ngọn lửa địa ngục rực cháy trong tim, thiêu đốt mọi thứ mà chẳng gì có thể dập tắt. Chúng tôi đã ở lại phòng giam vài giờ đồng hồ cùng Justine; và phải khó khăn lắm Elizabeth mới có thể dứt lòng rời bước. "Em ước gì," em nức nở, "em được chết cùng chị; em không thể sống nổi trong cái thế giới đầy rẫy khổ đau này nữa."

Justine cố gượng giữ vẻ mặt vui tươi, vất vả giấu đi những giọt nước mắt đắng cay trực trào. Em ôm chầm lấy Elizabeth, và cất tiếng, dẫu chất giọng đã lạc đi vì kìm nén sự xúc động: "Vĩnh biệt tiểu thư ngọt ngào, Elizabeth trân quý nhất của em, người bạn duy nhất và yêu dấu của em; cầu mong thiên đường rộng lượng sẽ ban phước lành và chở che cho tiểu thư; mong sao đây sẽ là bi kịch cuối cùng mà người phải gánh chịu. Hãy sống, hãy hạnh phúc, và mang lại hạnh phúc cho những người xung quanh."

Trên đường trở về, Elizabeth thì thầm: "Anh không biết đâu, Victor thân yêu của em, em đã nhẹ nhõm đến nhường nào khi giờ đây em thực sự tin vào sự vô tội của cô gái bất hạnh ấy. Nếu niềm tin em đặt vào chị ấy là sai lầm, có lẽ cả đời này em sẽ chẳng bao giờ tìm lại được sự bình yên nữa. Bởi ngay cái khoảnh khắc em thực sự tin rằng chị ấy có tội, em đã nếm trải một nỗi đau đớn dằn vặt đến mức chẳng thể nào chịu đựng nổi. Giờ thì trái tim em đã nhẹ bẫng rồi. Dù người vô tội vẫn phải chịu đày đọa, nhưng người mà em luôn trân quý và xem là tốt bụng đã không hề phản bội lại niềm tin của em. Chỉ ngần ấy thôi cũng đủ để em cảm thấy được an ủi phần nào."

Người em họ đáng mến của tôi! Những suy nghĩ của em mới dịu dàng và thanh cao làm sao, tựa hệt như ánh mắt lấp lánh và chất giọng thân thương của chính em vậy. Nhưng còn tôi-tôi là một kẻ khốn cùng hèn hạ, và chẳng một ai trên cõi đời này có thể hình dung thấu được nỗi đọa đày thống khổ mà tôi đang phải gánh chịu lúc bấy giờ.

HẾT TẬP I.





  1. Thành ngữ mượn từ hình phạt 'lăng trì' (tùng xẻo) thời phong kiến phương Đông, được người dịch sử dụng để lột tả hình tượng hóa nỗi đau đớn tận cùng về mặt tinh thần của Victor, khi phải chứng kiến người vô tội chịu án oan vì mình. 

  2. Hình phạt nặng nề nhất trong Công giáo, tước bỏ quyền tham gia các bí tích và tư cách thành viên của giáo hội. Đối với một người có đức tin vào thời đại đó, bị rút phép thông công đồng nghĩa với việc linh hồn sẽ vĩnh viễn bị đọa đày ở địa ngục. 

  3. Đài hành hình công khai, nơi các tử tù bị xử tử (thường là bằng máy chém, chặt đầu hoặc treo cổ). Đây là hình thức thi hành án tử hình phổ biến ở châu Âu thế kỷ 18-19. 

  4. Một điển tích xuất phát từ Kinh Thánh (Mark 9:48: "nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt"), thường được dùng trong văn học phương Tây để ẩn dụ cho sự cắn rứt lương tâm và nỗi ân hận tột cùng luôn dằn vặt con người từ bên trong.