CHƯƠNG III.

Một buổi tối nọ, tôi ngồi tĩnh lặng trong phòng thí nghiệm. Mặt trời đã khuất dạng từ lâu, nhường chỗ cho vầng trăng lờ mờ nhô lên từ phía biển khơi. Ánh sáng cạn kiệt, không đủ để tôi tiếp tục phần việc dang dở, nên tôi đành ngồi lặng yên, chìm đắm trong dòng suy tưởng rã rời, tự hỏi xem liệu mình nên gác lại mọi thứ đêm nay hay phải dồn toàn bộ tâm trí để hoàn thành nó trong sự gấp rút điên cuồng. Giữa lúc ấy, một chuỗi những ý nghĩ xẹt qua tâm trí, ép buộc tôi phải đối diện với hậu quả kinh hoàng từ chính đôi bàn tay mình. Ba năm trước, tôi cũng từng lao vào một ảo vọng tương tự. Để rồi, thứ tôi tạo ra lại là một ác quỷ với sự tàn bạo vô tiền khoáng hậu, vò nát trái tim tôi và nhấn chìm nó vĩnh viễn vào vũng lầy của nỗi ân hận đắng cay. Giờ đây, tôi lại sửa soạn nhào nặn một sinh vật khác. Một cá thể mà tôi hoàn toàn mù mịt về bản ngã của ả; ả có thể mang dã tâm tàn độc gấp vạn lần tên ác quỷ kia, có thể tìm thấy khoái cảm bệnh hoạn trong sự chém giết và sự đau đớn của con người. Hắn từng thề độc sẽ lánh xa cõi người, giấu mình vào chốn hoang vu tận cùng thế giới; thế nhưng, ả thì chưa từng thốt ra lời thề ấy. Ả - một sinh thể sở hữu trọn vẹn lý trí và tư duy - hoàn toàn có quyền chối bỏ một giao ước được lập ra trước cả khi ả mang hình hài. Thậm chí, chúng còn có thể ghê tởm lẫn nhau; bản thân sinh vật đang tồn tại kia đã đủ tởm lợm vì sự gớm ghiếc của chính mình, lẽ nào hắn lại không nảy sinh sự kinh hãi tột độ khi thấy một hình hài dị dạng tương tự đội lốt thân xác nữ giới sao? Ả cũng có thể quay lưng với hắn trong sự buồn nôn tột cùng, khao khát tìm đến nét đẹp siêu việt của con người; ả sẽ vứt bỏ hắn, để hắn lại chìm vào hố sâu của sự cô độc, bị dằn vặt bởi nỗi nhục nhã ê chề khi bị chính đồng loại ruồng rẫy.

Cho dù chúng thực sự rời bỏ châu Âu, mang nhau đến náu mình ở những miền hoang mạc của thế giới mới1 đi chăng nữa, thì một trong những hệ quả tất yếu đầu tiên của sự đồng cảm mà con ác quỷ đang điên cuồng khao khát - chính là những đứa con. Một chủng tộc ác quỷ sẽ sinh sôi nảy nở trên khắp Trái Đất, đẩy sự tồn tại của nhân loại vào bờ vực diệt vong đầy rẫy nỗi kinh hoàng. Liệu tôi có quyền gì, chỉ vì mong cầu chút bình yên cho riêng mình, mà giáng tai ương xuống muôn đời sau? Trước đây, tôi từng bị lung lay bởi lời lẽ ngụy biện đầy xảo ngôn của con quái vật tôi tạo ra; tôi từng gục ngã trước những lời đe dọa man rợ của hắn: nhưng giờ phút này, lần đầu tiên, sự thâm độc đằng sau lời hứa ấy bỗng rực lên rõ nét trong tâm trí tôi. Tôi rùng mình nghẹn thở khi nghĩ đến viễn cảnh tương lai muôn đời sau sẽ nguyền rủa tên tôi như một hiện thân của đại họa, một kẻ vì sự ích kỷ hèn nhát đã sẵn sàng mua lấy sự an bài cho chính mình bằng cái giá có thể là cả sự tồn vong của toàn nhân loại.

Toàn thân tôi run lên bần bật, trái tim như ngừng đập; vừa ngước mắt lên, dưới ánh trăng mờ ảo, tôi kinh hoàng bắt gặp hình bóng ác quỷ lù lù bên khung cửa sổ. Một nụ cười nhăn nhúm, tởm lợm vặn vẹo trên đôi môi hắn, đôi mắt hắn trừng trừng dán chặt vào tôi, nơi tôi đang ngồi thực thi cái nghĩa vụ chết tiệt mà hắn đã giao phó. Đúng vậy, hắn đã âm thầm bám theo tôi suốt những chặng đường mòn mỏi; hắn đã lẩn khuất trong những cánh rừng rậm rạp, thu mình trong hang sâu tăm tối, hay vật vờ giữa những dải hoang mạc mênh mông; và giờ đây, hắn hiện diện ở chốn này để giám sát tiến độ của tôi, thèm khát đòi lại trọn vẹn lời hứa của tôi.

Khi tôi giương mắt nhìn hắn, khuôn mặt gớm ghiếc ấy hiện rõ sự thâm hiểm và xảo trá tột cùng. Lời hứa tạo ra một con quái vật thứ hai bỗng chốc dội vào não tôi cảm giác điên loạn, và trong cơn rùng mình phẫn nộ, tôi xé toạc cái xác thịt chưa hoàn thiện mà mình đang dở dang. Tên ác quỷ trừng mắt chứng kiến cảnh tôi tự tay bóp nát sinh vật mà toàn bộ tương lai và hạnh phúc của hắn phụ thuộc vào, và với một tiếng hú ma quái ngập tràn sự tuyệt vọng cùng khao khát trả thù đẫm máu, hắn lẩn vào bóng tối.

Tôi lao ra khỏi phòng, khóa chặt cánh cửa, thầm lập một lời thề thiêng liêng từ sâu thẳm linh hồn rằng sẽ vĩnh viễn đoạn tuyệt với công việc này; rồi lết những bước chân lẩy bẩy, tôi tìm về căn phòng của mình. Chỉ còn lại một mình tôi; không một ai kề cạnh để xua tan bầu không khí đặc quánh sự u ám, và kéo tôi thoát khỏi sự đè nén kinh tởm của những cơn ác mộng tồi tệ nhất.

Nhiều giờ trôi qua, tôi vẫn chôn chân bên bệ cửa sổ, hướng ánh nhìn ra biển cả; khung cảnh gần như tĩnh lặng tuyệt đối, những cơn gió đã ngưng thổi, và vạn vật thiên nhiên dường như đang thiếp đi dưới ánh nhìn êm đềm của vầng trăng. Điểm xuyết trên mặt nước lấp loáng là vài chiếc thuyền đánh cá, thỉnh thoảng một làn gió nhẹ mang theo tiếng gọi nhau văng vẳng của những người ngư dân. Tôi cảm nhận được sự tĩnh mịch ấy, dù bản thân gần như không mảy may ý thức được sự sâu thẳm tột độ của nó cho đến khi đôi tai tôi chợt bừng tỉnh bởi tiếng mái chèo khua nước sát bờ, và một bóng người cập bến ngay sát ngôi nhà của tôi.

Chỉ vài phút sau, tiếng bản lề cửa cọt kẹt vang lên, khe khẽ như thể có ai đó đang rón rén đột nhập. Cơn run rẩy ớn lạnh chạy dọc khắp cơ thể tôi; linh tính mách bảo tôi kẻ đó là ai. Tôi khao khát gào lên, đánh thức một người nông dân nào đó trong ngôi nhà tranh cách đây không xa. Thế nhưng, một cảm giác bất lực đã hoàn toàn bủa vây lấy tôi, thứ cảm giác ngột ngạt vẫn thường chẹt ngang cổ họng trong những cơn ác mộng kinh hoàng, khi ta tuyệt vọng vung vẫy hòng trốn chạy khỏi mối nguy hiểm cận kề mà đôi chân cứ mãi chôn chặt xuống đất sâu.

Ngay sau đó, tiếng bước chân nện xuống dọc theo hành lang. Cánh cửa bật mở, và tên ác quỷ mà tôi ngày đêm kinh hãi lù lù xuất hiện. Đóng sập cửa lại, hắn sấn sổ tiến về phía tôi, rồi rít lên bằng một chất giọng nghèn nghẹt:

"Ngươi đã xé nát chính tác phẩm mà mình khởi tạo. Ngươi định làm cái quái gì thế? Ngươi dám lật lọng sao? Ta đã phải cắn răng nếm trải bao tủi nhục và đọa đày: ta lặn lội rời khỏi Thụy Sĩ theo gót ngươi; ta trườn rạp dọc đôi bờ sông Rhine, lẩn khuất giữa những hòn đảo rợp bóng liễu rủ, trèo đèo lội suối vượt qua những đỉnh đồi trập trùng. Ròng rã nhiều tháng trời, ta lay lắt sống sót trên những miền hoang mạc cằn cỗi của nước Anh, lê bước giữa những bãi hoang vu vắng lặng của Scotland. Ta đã cắn rứt chịu đựng tận cùng nỗi nhọc nhằn, cái lạnh thấu xương và những cơn đói khát cào xé. Vậy mà giờ đây, ngươi dám nhẫn tâm tàn phá những hy vọng tột cùng của ta sao?"

"Cút ngay! Ta thà phá vỡ lời thề còn hơn. Ta sẽ không bao giờ tạo thêm một sinh linh nào giống như mi, một kẻ cũng gớm ghiếc và tàn độc hệt như mi."

"Tên nô lệ kia, trước đây ta còn chịu khó giảng giải lý lẽ với ngươi, nhưng ngươi đã tự chứng tỏ mình chẳng đáng để ta phải nhún nhường. Khắc cốt ghi tâm điều này, ta đang nắm giữ sức mạnh. Ngươi cứ tưởng bản thân đang khốn cùng lắm sao? Ta hoàn toàn có thể đày đọa ngươi đến mức thảm hại nhất, khiến ngươi phải kinh tởm chính cả ánh sáng ban ngày. Ngươi là kẻ tạo ra ta, nhưng ta mới chính là chủ nhân của ngươi. Hãy ngoan ngoãn phục tùng!"

"Thời khắc yếu hèn của ta đã vĩnh viễn lùi xa, và ách thống trị sức mạnh của mi cũng đến lúc phải chấm dứt. Những lời đe dọa bỉ ổi ấy đừng hòng lay chuyển được ta dấn thân vào một tội ác tày trời; trái lại, chúng chỉ càng hun đúc thêm quyết tâm sắt đá trong ta, rằng sẽ tuyệt đối không tạo ra thêm bất kỳ mầm mống tội lỗi nào để đồng hành cùng mi. Lẽ nào ta lại vô lương tâm đến mức gieo rắc xuống cõi đời này thêm một con ác quỷ, một kẻ lấy cái chết và sự đọa đày của kẻ khác làm thú vui tiêu khiển? Cút đi! Ta đã quyết, và những lời xảo trá của mi giờ đây chỉ tổ đổ thêm dầu vào ngọn lửa căm phẫn trong ta mà thôi."

Quái vật bắt gặp vẻ kiên định hằn sâu trên gương mặt tôi, hắn liền nghiến răng trèo trẹo trong sự uất hận tột cùng. "Phải chăng mỗi một gã đàn ông trên thế gian này," hắn điên cuồng gào rống, "đều tìm được cho mình một người vợ để ấp ôm, mỗi một con thú đều có bạn tình của riêng nó, còn ta thì vĩnh viễn phải ôm lấy sự cô độc đến chết? Ta đã từng mang trong mình thứ cảm xúc yêu thương tha thiết, thế nhưng đổi lại chỉ là sự căm ghét và khinh bỉ tột độ. Hỡi kẻ kia, ngươi có quyền căm hận ta; nhưng hãy mở to mắt ra mà coi chừng! Chuỗi ngày sắp tới của ngươi sẽ lụi tàn trong nơm nớp lo sợ và thống khổ khôn nguôi, rồi chẳng mấy chốc, một tia sét oan nghiệt sẽ giáng ráng xuống, vĩnh viễn tước đoạt đi thứ hạnh phúc phù du của ngươi. Ngươi tưởng mình có quyền được hưởng hạnh phúc, trong khi bắt ta phải oằn mình gánh chịu sự đọa đày tận cùng hay sao? Ngươi có thể phũ phàng bóp nghẹt mọi khát khao cháy bỏng của ta; nhưng ngọn lửa thù hận thì vẫn ngùn ngụt cháy-sự trả thù, kể từ giờ phút này, với ta còn trân quý hơn cả ánh sáng hay nguồn sống! Ta có thể tan xác; nhưng trước lúc đó, ngươi, tên bạo chúa khát máu đã chà đạp ta, sẽ phải thốt lên những lời nguyền rủa ngay cả ánh mặt trời đang mỉa mai chiếu rọi vào sự thê thảm của chính mình. Hãy vểnh tai lên mà nghe rõ; vì ta chẳng còn biết sợ hãi là gì, và cũng chính vì thế mà ta trở nên vô song. Ta sẽ rình rập bằng mưu mô xảo quyệt của loài rắn độc, chờ ngày tiêm những giọt nọc chết chóc nhất vào ngươi. Hỡi con người, ngươi sẽ phải cúi đầu hối hận vì những vết thương sâu hoắm mà ngươi đã nhẫn tâm khắc lên ta."

"Ác quỷ, im ngay! Đừng có làm vấy bẩn bầu không khí bằng những âm thanh dơ dáy đó nữa. Ta đã tuyên bố quyết định cuối cùng với mi, và ta không phải loại hèn nhát mạt hạng mà chịu quỳ gối trước những lời dọa dẫm ngông cuồng. Hãy cút đi và để ta yên; ý chí của ta giờ đây là tảng đá vĩnh cửu."

"Được thôi. Ta sẽ đi. Nhưng hãy nhớ cho kỹ, ta sẽ ở bên ngươi trong đêm tân hôn của ngươi."

Tôi điên cuồng lao về phía trước, gào lên uất ức: "Tên khốn kiếp! Trước khi đặt bút ký vào bản án tử hình của ta, thì hãy lo giữ lấy cái mạng chó của mi trước đi."

Tôi chực vồ lấy hắn; nhưng với sự nhanh nhẹn quỷ quyệt, hắn luồn lách né tránh và vọt lẹ ra khỏi căn nhà. Chỉ trong vài khoảnh khắc ngắn ngủi, tôi đã thấy bóng dáng hắn thấp thoáng trên chiếc thuyền nhỏ, xé toạc mặt nước với tốc độ kinh hồn như một mũi tên xé gió, rồi nhanh chóng bị những con sóng bạc đầu nuốt chửng vào màn đêm mịt mùng.

Sự tĩnh lặng rợn người lại bao trùm lấy không gian; thế nhưng những lời nguyền rủa độc địa của hắn vẫn cứ dai dẳng gào thét bên tai tôi. Dòng máu trong tôi sục sôi cơn thịnh nộ, khát khao được lao ra săn lùng kẻ đã bóp nghẹt sự bình yên của đời mình, nhấn chìm hắn vĩnh viễn xuống đáy đại dương tăm tối. Tôi bồn chồn rảo bước, đi tới đi lui như một kẻ mộng du giữa căn phòng lạnh lẽo. Trí tưởng tượng bắt đầu giăng ra muôn vàn ảo ảnh man rợ để dằn vặt, đâm chém tâm can tôi. Cớ sao tôi lại không quyết liệt truy đuổi, không sống mái một phen sinh tử cùng hắn? Vậy mà tôi lại trơ mắt đứng nhìn hắn chuồn mất, hướng thẳng về phía đất liền bao la. Tôi rùng mình ớn lạnh khi mường tượng đến kẻ xui xẻo nào sẽ trở thành nạn nhân tiếp theo tế sống cho cơn khát máu không đáy của con quái vật. Và rồi, từng chữ sắc lẹm trong lời hắn lại văng vẳng: “Ta sẽ ở bên ngươi trong đêm tân hôn của ngươi.” Vậy ra đó chính là canh giờ định mệnh cho sự lụi tàn của tôi. Khi thời khắc nghiệt ngã ấy điểm, tôi sẽ phải lìa đời, qua đó vĩnh viễn thỏa mãn và dập tắt ngọn lửa thù hận thâm hiểm trong hắn. Lạ thay, viễn cảnh cõi chết ấy chẳng hề mảy may khiến tôi run sợ. Nhưng khi nghĩ về Elizabeth yêu dấu của đời tôi-về những giọt nước mắt tức tưởi và nỗi bi thương tột cùng sẽ xé nát cõi lòng nàng, khi tận mắt chứng kiến người yêu thương nhất bị tước đoạt tàn nhẫn khỏi vòng tay-thì những dòng lệ đắng cay, lần đầu tiên trong suốt nhiều tháng đằng đẵng, lại tức tưởi tuôn trào từ khóe mắt. Trong sâu thẳm, tôi hạ quyết tâm sắt đá rằng sẽ tuyệt đối không gục ngã trước kẻ thù nếu chưa cắn rứt đến giọt máu cuối cùng trong một trận huyết chiến rúng động.

Màn đêm u ám dần lùi xa, nhường chỗ cho vầng dương ngoi lên từ đại dương mênh mông. Những cảm xúc cuộn trào trong tôi cũng dần lắng đọng, nhưng sự tĩnh lặng ấy chỉ là tàn dư khi cơn cuồng nộ hung bạo đã chìm lỉm vào đáy vực sâu thẳm của sự tuyệt vọng. Tôi bước ra khỏi căn nhà, rời xa hiện trường nhơ nhuốc của cuộc đụng độ kinh hoàng đêm qua, lang thang một cách vô hồn dọc theo bãi biển. Nơi đây, tôi gần như xem nó như một rào cản vĩnh cửu ngăn cách bản thân khỏi đồng loại; không, phải nói đúng hơn là một khao khát cháy bỏng mong sao sự cô lập ấy hóa thành hiện thực đang âm thầm sinh sôi trong tôi. Tôi thầm ước giá như mình có thể chôn vùi cả phần đời còn lại trên tảng đá cằn cỗi này. Dù có tiều tụy, mỏi mòn, nhưng chí ít trái tim sẽ không bao giờ bị xé toạc bởi bất kỳ một cú sốc bi thương nào nữa. Bởi nếu quay gót trở về, tôi sẽ bị lôi ra làm vật tế thần đẫm máu, hoặc phải trừng trừng bất lực chứng kiến những người ruột thịt yêu thương nhất gục chết dưới móng vuốt nhọn hoắt của con ác quỷ do chính tay mình tác tạo nên.

Tôi vất vưởng đi dạo quanh hòn đảo tựa như một bóng ma không chốn dung thân, vĩnh viễn bị chia cắt khỏi mọi thứ mình trân quý, và rỉ máu trong sự chia ly xé ruột ấy. Khi mặt trời đứng bóng, rải những tia nắng chói chang xuống trần thế, tôi gục người xuống thảm cỏ xanh, rồi nhanh chóng bị kéo tuột vào một giấc ngủ sâu thẳm mộng mị. Cả đêm hôm trước tôi thức trắng, từng nơ-ron thần kinh bị căng như dây đàn, đôi mắt sưng húp tấy đỏ vì sự thiếu ngủ và cả những nỗi đớn đau vô tận. Giấc mộng mị đã giúp tôi tỉnh táo trở lại. Khoảnh khắc bừng tỉnh, tôi cảm thấy tâm hồn như được tái sinh, như lại được hòa quyện vào chủng tộc loài người thân thuộc, và tôi bắt đầu chiêm nghiệm lại những biến cố vừa lướt qua bằng một sự điềm tĩnh lạ thường. Ấy vậy mà, những lời lẽ sắc như dao của con ác quỷ vẫn không ngừng vang vọng bên tai tựa hồi chuông báo tử. Chúng mờ ảo trôi dạt như một cơn ác mộng, nhưng lại hiện hữu một cách rõ nét và nặng nề chẳng khác nào thực tại đắng cay.

Mặt trời đã chìm sâu xuống chân trời, mà tôi vẫn thẫn thờ ngồi trên bờ biển. Vừa cắn dở chiếc bánh yến mạch để xoa dịu cơn đói đang cồn cào cắn rứt ruột gan, tôi chợt thấy một chiếc thuyền đánh cá rẽ sóng cập bến gần đó. Một gã đàn ông trên thuyền bước xuống, trao tận tay tôi một bưu kiện. Bên trong chứa những phong thư từ Geneva, cùng một bức thư tay từ Clerval, lời lẽ khẩn thiết giục giã tôi mau chóng đến tụ họp cùng cậu. Cậu nhắc nhở rằng đã gần một năm đằng đẵng trôi qua kể từ ngày chúng tôi dời gót khỏi Thụy Sĩ, thế mà nước Pháp vẫn còn nằm ngoài những dấu chân. Vì lẽ đó, cậu tha thiết van nài tôi hãy mau chóng rời khỏi hòn đảo hoang lương cô độc này, và đến gặp cậu tại Perth trong vòng một tuần tính từ thời điểm nhận thư, để cả hai có thể tính toán kế hoạch cho những chuyến phiêu du rày đây mai đó tiếp theo. Bức thư này, ở một góc độ nào đó, như một liều thuốc hồi sinh, kéo tôi trở lại với nhịp đập của sự sống. Tôi quyết định sẽ rời bỏ hòn đảo này trong vòng hai ngày tới.

Tuy vậy, trước lúc khởi hành, vẫn còn một nhiệm vụ cuối cùng mà chỉ nội việc nghĩ đến thôi cũng đủ khiến tôi rùng mình kinh hãi: tôi buộc phải đóng gói đống dụng cụ hóa học của mình. Để làm được điều đó, tôi phải cắn răng bước vào căn phòng từng chứng kiến thứ công việc bẩn thỉu, đáng ghê tởm ấy, phải tự tay chạm vào những công cụ mà chỉ lướt mắt qua thôi đã khiến dạ dày tôi cuộn trào buồn nôn. Sáng hôm sau, ngay khi vệt nắng rạng đông hé rạng, tôi cố gom nhặt chút dũng khí ít ỏi còn sót lại, run rẩy mở khóa cánh cửa căn phòng thí nghiệm. Những mảnh xác thịt băm vằm của sinh vật dở dang mà tôi vừa tàn phá nằm ngổn ngang vương vãi trên sàn nhà lạnh lẽo. Trái tim tôi thắt lại, tôi có cảm tưởng như chính tay mình vừa mới tàn sát, băm vằm da thịt đang thoi thóp của một con người. Tôi đứng chết trân một lúc để cố trấn tĩnh trước khi dám lê bước vào sâu hơn. Với đôi bàn tay run rẩy liên hồi, tôi vội vã chuyển các món dụng cụ ra khỏi gian phòng. Nhưng một ý nghĩ chợt vụt qua, nhắc nhở tôi tuyệt đối không được phép để lại bất kỳ tàn tích nào của thứ công việc quỷ ám này, tránh gieo rắc nỗi khiếp đảm và nghi ngờ cho những người nông dân hiền lành. Tôi đành cắn răng tống khứ hết tất cả tàn dư vào một chiếc giỏ lớn, xúc thêm một lượng lớn đất đá đổ lên trên, rồi chất đống chúng lại, quả quyết sẽ quăng vứt toàn bộ xuống biển khơi ngay trong đêm nay. Trong lúc chờ đợi thời khắc đó, tôi ngồi bần thần trên bãi biển, cắm cúi lau chùi và xếp dọn lại bộ thiết bị hóa học của mình một cách vô hồn.

Không gì có thể diễn tả trọn vẹn hơn sự chuyển biến dữ dội đang quặn thắt trong tâm trí tôi kể từ đêm con ác quỷ ấy hiện hình. Trước kia, tôi từng đối diện với lời hứa của chính mình bằng một nỗi tuyệt vọng đen tối, xem đó như một bản án chung thân mà dù hậu quả có thảm khốc đến nhường nào cũng đành phải nhắm mắt làm ngơ thi hành. Thế nhưng lúc này đây, tôi như vừa được cất đi tấm màn u minh che khuất tầm mắt, và lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn thấu vạn vật một cách tường tận đến rợn người. Ý định điên rồ bắt tay tiếp tục công việc tà đạo ấy đã bị dập tắt, vĩnh viễn không còn hé nở trong tâm trí tôi ngay cả trong một chớp mắt. Những lời hăm dọa đầy mùi chết chóc vừa nghe như tảng đá ngàn cân đè bẹp những suy tư trong tôi, nhưng tôi chẳng hề đắn đo mà tin rằng, một hành động tự nguyện quay đầu hoàn toàn có thể giúp tôi thoát khỏi tai ương đó. Tôi đã tự đúc kết một quyết tâm sắt đá trong thâm tâm: việc tạo thêm một mầm mống quỷ dữ khác hệt như sinh vật mà tôi lầm lỗi nhào nặn lần đầu, sẽ chẳng khác nào một tội ác tột cùng của sự ích kỷ, đê hèn và tàn độc nhất thế gian. Và tôi đã không ngần ngại quét sạch khỏi tâm can mọi cám dỗ nhơ nhớp có thể dẫn dắt mình đi đến một ngã rẽ sai lầm nào khác.

Đêm khuya dần về sáng, giữa khoảng hai và ba giờ, vầng trăng nhợt nhạt mới từ từ ló rạng; tôi bèn mang chiếc giỏ của mình đặt lên một chiếc thuyền con, rồi dong buồm ra khơi cách bờ chừng bốn dặm. Vạn vật chìm trong một sự tĩnh lặng đến gai người. Xa xa, bóng vài chiếc ngư thuyền đang nương theo sóng quay về đất liền, nhưng tôi đã vội vã bẻ lái để tránh xa họ. Trong thâm tâm, tôi run rẩy ôm một nỗi sợ hãi tột cùng, ngỡ như mình đang sửa soạn thực hiện một tội ác tày trời, lén lút lảng tránh mọi cuộc chạm trán với đồng loại. Đúng lúc ấy, vầng trăng vốn đang vằng vặc sáng bỗng bị một đám mây đen đặc nuốt chửng. Chớp lấy khoảnh khắc bóng tối che khuất, tôi quăng ngay chiếc giỏ xuống lòng biển sâu. Tôi lặng người nghe tiếng bọt nước sủi ùng ục khi nó chìm dần vào bóng tối vô tận, và rồi vội vã chèo thuyền trốn chạy khỏi nơi đó.

Bầu trời mỗi lúc một u ám hơn, nhưng không khí lại trong vắt lạ thường dẫu cho những cơn gió đông bắc đang dần trỗi dậy mang theo cái rét buốt xương. Lạ lùng thay, cái lạnh ấy lại gột rửa tâm trí tôi, mang đến một luồng sinh khí sảng khoái và êm đềm. Cảm giác thư thái len lỏi khiến tôi quyết định sẽ nán lại, mặc cho mình lênh đênh lâu hơn trên mặt nước bao la. Sau khi cố định bánh lái về một hướng, tôi thả người nằm dài trên đáy thuyền gỗ. Những đám mây xám xịt giăng kín che khuất mặt trăng, bủa vây mọi thứ trong một màn đêm mù mịt. Giữa bốn bề vắng lặng, bên tai tôi chỉ còn văng vẳng tiếng mũi thuyền xé toạc những con sóng; tiếng nước vỗ rì rầm như một khúc hát ru miên man, kéo tôi chìm vào một giấc ngủ sâu chỉ ngay sau đó ít lâu.

Tôi không rõ mình đã chìm trong tình cảnh này bao lâu, nhưng khi bừng tỉnh, mặt trời đã lên khá cao. Gió rít từng hồi dữ dội, còn những con sóng điên cuồng gào thét như chực chờ nuốt chửng chiếc thuyền mỏng manh của tôi. Nhận ra gió đang thổi từ hướng đông bắc, tôi biết mình đã bị cuốn trôi rất xa khỏi bờ biển nơi tôi khởi hành. Tôi ra sức cố gắng chuyển hướng con thuyền, nhưng liền cay đắng nhận ra rằng chỉ cần gắng gượng thêm chút nữa thôi, nước sẽ ập vào nhấn chìm tất cả. Giữa tình cảnh vô vọng ấy, tôi chẳng còn cách nào khác ngoài việc buông xuôi mặc cho gió dập sóng vùi. Phải thú nhận rằng, nỗi kinh hoàng đã bắt đầu manh nha xâm chiếm tâm trí tôi. Chẳng có lấy một chiếc la bàn trong tay, và với vốn hiểu biết quá đỗi nông cạn về địa lý của vùng đất này, ánh mặt trời kia cũng chẳng mang lại cho tôi chút hy vọng nào. Rất có thể tôi sẽ bị cuốn văng ra giữa Đại Tây Dương bao la, rồi chết mòn trong những sự đày đọa của cơn đói khát, hoặc bị vùi lấp dưới làn nước hung hãn đang gầm gào giằng xé quanh mình. Đã lênh đênh giữa biển khơi suốt nhiều giờ liền, tôi bắt đầu nếm trải sự hành hạ của cơn khát cháy họng, như một khúc dạo đầu cho những thảm kịch tồi tệ hơn đang rình rập. Ngước nhìn lên, tôi chỉ thấy bầu trời bị giăng kín bởi những đám mây u ám cuồn cuộn bay theo gió, hết lớp này đến lớp khác; nhìn xuống mặt biển đen ngòm, tôi biết đây rồi sẽ là nấm mồ chôn vùi đời mình. “Đồ ác quỷ,” tôi bật thốt lên, “nhiệm vụ của mi đã hoàn thành rồi đó!” Hình bóng Elizabeth, cha tôi, và cả Clerval lần lượt hiện ra trong tâm trí; và tôi dần chìm vào một cõi mộng mị u uất, một trạng thái tuyệt vọng và kinh hoàng đến mức, dẫu cho lúc này đây khi cảnh tượng ấy sắp sửa khép lại trước mắt tôi mãi mãi, tôi vẫn không khỏi rùng mình mỗi khi nhớ lại.

Vài giờ đồng hồ chầm chậm trôi qua; cho đến khi mặt trời ngả bóng về phía chân trời, cuồng phong cũng dần lắng xuống thành những cơn gió nhẹ hiu hiu, và biển cả không còn tung bọt trắng xóa gầm gào. Thế nhưng, thế chỗ cho sóng dữ lại là một đợt triều cường cuồn cuộn dâng cao; tôi cảm thấy ruột gan cồn cào buồn nôn, và giữa lúc đôi tay gần như chẳng còn chút sức lực nào để níu giữ bánh lái, thì đột nhiên, một dải đất nhô cao lấp ló nơi phía nam lọt vào tầm mắt tôi.

Thân xác rã rời sau ngần ấy giờ chống chọi với sự kiệt quệ và nỗi sợ hãi tột cùng, sự hiện diện bất ngờ của một tia hy vọng sống sót liền trào dâng trong tim tôi như một dòng suối ấm áp, và những giọt nước mắt không tự chủ được cứ thế lăn dài.

Cảm xúc của con người ta mới thật dễ đổi thay làm sao, và cái khát vọng sống mãnh liệt mà chúng ta bám víu mới thật kỳ lạ làm sao, ngay cả khi ta đang vùng vẫy dưới đáy vực sâu của sự khốn cùng! Vội vã xé một phần quần áo để dựng thành cánh buồm tạm bợ, tôi khấp khởi điều hướng con thuyền tiến về phía đất liền. Thoạt nhìn, dải đất ấy có vẻ hoang vu và lởm chởm đá sỏi; nhưng khi đến gần hơn, tôi dễ dàng nhận ra những dấu vết canh tác của con người. Thấp thoáng vài chiếc thuyền neo đậu gần bờ, tôi vỡ òa khi biết mình đã may mắn dạt vào một chốn có người ở. Hăm hở men theo những khúc quanh eo biển, tôi vẫy gọi bóng dáng một tháp chuông vừa nhô ra sau mũi đất nhỏ. Vắt kiệt chút sức tàn, tôi quyết định hướng thẳng thuyền về phía thị trấn, hy vọng tìm được chút thức ăn lót dạ. May mắn thay, tôi vẫn mang theo tiền bên người. Khi mũi thuyền vừa rẽ qua eo đất, một thị trấn nhỏ nhắn, tinh tươm cùng một bến cảng xinh đẹp hiện ra đón lấy tôi; trái tim tôi như muốn nhảy cẫng lên vì niềm vui sướng tột độ trước sự giải thoát diệu kỳ này.

Trong lúc tôi đang luống cuống neo thuyền và thu dọn cánh buồm, vài người dân đã bắt đầu tò mò kéo đến. Sự xuất hiện của tôi dường như khiến họ vô cùng kinh ngạc; nhưng thay vì dang tay giúp đỡ, họ lại chụm đầu xì xầm, trao nhau những ánh nhìn dò xét. Nếu là vào một thời điểm khác, hẳn thái độ ấy đã dấy lên trong tôi ít nhiều sự cảnh giác. Nhưng lúc đó, tôi chỉ mải để tâm đến việc họ đang nói tiếng Anh; và thế là tôi liền dùng ngôn ngữ ấy để bắt chuyện với họ: “Các bạn tốt của tôi,” tôi cất lời, “các bạn có thể vui lòng cho tôi biết tên của thị trấn này, và tôi đang ở đâu không?”

“Anh sẽ biết điều đó sớm thôi,” một người đàn ông cất giọng gắt gỏng đáp lời. “Có lẽ anh đã mò đến một nơi chẳng mấy vừa ý mình đâu; nhưng tôi cá với anh rằng, anh sẽ chẳng có quyền lựa chọn chỗ trọ cho mình đâu.”

Tôi sững sờ trước lời đáp trả thô lỗ từ một người xa lạ; và càng hoang mang hơn khi bắt gặp những khuôn mặt nhăn nhó, đầy vẻ thù địch của đám người đi cùng anh ta. “Cớ sao anh lại ăn nói cộc cằn với tôi như vậy?” tôi phản ứng lại: “Chắc chắn đây không phải là cách người Anh tiếp đón những người khách lạ một cách thiếu tình người như thế.”

“Tôi chẳng biết,” người đàn ông sẵng giọng, “phong tục của người Anh ra sao; nhưng phong tục của người Ireland là căm ghét những kẻ đê tiện ác ôn.”

Giữa lúc cuộc đối thoại kỳ quặc ấy diễn ra, đám đông xung quanh mỗi lúc một đông thêm. Những khuôn mặt vây quanh tôi ánh lên sự pha trộn kỳ lạ giữa vẻ tò mò và sự giận dữ, khiến tôi cảm thấy bất an vô cùng, và đôi chút sợ hãi bắt đầu len lỏi trong tâm trí. Tôi dò hỏi đường đến quán trọ; nhưng tuyệt nhiên chẳng một ai hé nửa lời. Tôi đành rảo bước tiến về phía trước, trong khi đám đông lầm lì bám sát gót, những tiếng xì xào bàn tán nổi lên không ngớt; cho đến khi một gã đàn ông với gương mặt khó ưa bước tới, vỗ mạnh vào vai tôi và nói, “Đi thôi, ngài, ngài phải theo tôi đến gặp ông Kirwin, để khai báo về thân phận của mình.”

“Ông Kirwin là ai? Tại sao tôi lại phải giải trình về bản thân? Chẳng lẽ đây không phải là một xứ sở tự do hay sao?”

“Phải rồi, thưa ngài, tự do là dành cho những kẻ lương thiện cơ. Ông Kirwin là quan tòa ở đây; và ngài phải giải trình về cái chết của một quý ngài vừa bị phát hiện sát hại tại nơi này đêm qua.”

Câu trả lời như một nhát búa giáng thẳng vào tâm trí tôi; nhưng tôi đã cố gắng chấn tĩnh lại ngay lập tức. Tôi vô tội; điều đó có thể dễ dàng được chứng minh: vì thế, tôi lẳng lặng bước theo kẻ dẫn đường, và được đưa đến một trong những ngôi nhà khang trang nhất thị trấn. Lúc ấy, tôi đã kiệt quệ đến mức muốn gục ngã vì đói khát và mệt nhoài; nhưng giữa vòng vây của đám đông xa lạ, tôi tự nhủ phải cố gắng gom góp chút sức lực cuối cùng để đứng vững, quyết không để sự suy nhược của thể xác bị hiểu lầm thành vẻ sợ hãi hay nét cắn rứt của kẻ mang tội. Nào ngờ đâu, thảm họa sắp sửa ập xuống đầu tôi chỉ trong vài khoảnh khắc nữa thôi sẽ chôn vùi tôi mãi mãi, nhấn chìm mọi nỗi sợ hãi về sự ô nhục hay cái chết vào trong hố sâu của sự tuyệt vọng và kinh hoàng tột độ.

Tôi phải dừng bút lại nơi đây; bởi để có thể hồi tưởng và kể lại từng chi tiết xác đáng của những sự kiện kinh hoàng sắp tới, tôi cần phải gom nhặt toàn bộ nghị lực của mình.




  1. "Thế giới mới" (New World) là thuật ngữ lịch sử (đặc biệt phổ biến từ thế kỷ 16) được người châu Âu dùng để chỉ châu Mỹ, nhằm phân biệt với "Thế giới cũ" (châu Âu, châu Á và châu Phi). Trong văn cảnh này, nó ám chỉ vùng hoang mạc ở Nam Mỹ nơi con quái vật đã hứa sẽ đến lưu vong. ↩