CHƯƠNG I.

Chẳng có gì giày vò tâm trí con người tàn nhẫn hơn khoảnh khắc mọi giông bão cảm xúc lùi xa, nhường chỗ cho một sự tĩnh lặng chết chóc. Đó là sự bất động đến gai người, một hiện thực tàn khốc đổ ập xuống, tước đoạt cả hy vọng lẫn nỗi sợ hãi khỏi tâm hồn. Justine đã chết. Cô đã vĩnh viễn yên nghỉ, còn tôi vẫn sống. Máu vẫn tuôn trào trong huyết quản, nhưng sự tuyệt vọng cùng nỗi ân hận muộn màng đang nghiền nát trái tim tôi, một sức nặng vô hình mà không điều gì có thể xua tan. Giấc ngủ chối bỏ đôi mắt tôi. Tôi lang thang như một bóng ma mang đầy tội lỗi, bởi chính tay tôi đã gieo rắc những thảm kịch kinh hoàng khôn xiết. Thậm chí, tôi thầm nhủ, vô vàn nỗi kinh hoàng khủng khiếp hơn vẫn còn đang chực chờ phía trước. Đã từng có lúc trái tim tôi ngập tràn lòng nhân ái và tình yêu dành cho cái thiện. Tôi bước vào đời mang theo bao thiện ý, chỉ khắc khoải đợi mong một ngày được phụng sự và cống hiến cho đồng loại. Nhưng giờ đây, tất cả đã tan tành mây khói. Thay vì một cõi lòng thanh thản, nơi tôi có thể bình yên nhìn lại quá khứ và ấp ủ những hy vọng tương lai, tôi lại bị bủa vây bởi sự ăn năn và cảm giác tội lỗi dằn vặt. Chúng cuốn phăng tôi vào một địa ngục tăm tối, đày đọa tôi trong những nỗi đau dữ dội mà ngôn từ vĩnh viễn bất lực.

Những giông bão trong tâm trí đã tàn phá sạch chút sinh khí vừa mới gượng gạo phục hồi sau cú sốc kinh hoàng đầu tiên. Tôi chìm vào cõi trốn tránh. Mọi âm thanh nhuốm màu vui vẻ hay mãn nguyện vang lên đều trở thành cực hình rạch nát tâm can. Niềm an ủi duy nhất còn sót lại chỉ là sự cô độc-một sự cô độc sâu thẳm, tăm tối, lạnh lẽo tựa như cái chết.

Nhìn thấy sự héo mòn từng ngày trong tâm tính và nếp sống của tôi, cha tôi vô cùng đau xót. Người hết lời khuyên can, mong tôi rũ bỏ sự dại dột khi cứ để mặc bản thân chìm sâu vào biển sầu u ám.

"Con có nghĩ," cha nghẹn ngào, "rằng cha không đau đớn sao, Victor? Trên đời này, làm gì có ai yêu thương một đứa trẻ sâu đậm hơn tình yêu cha dành cho em con." Những giọt nước mắt lăn dài trên khóe mắt người khi cất lời. "Nhưng đối với những người còn sống, chẳng phải bổn phận của chúng ta là đừng để bộ dạng sầu thảm này khoét sâu thêm nỗi bất hạnh của họ hay sao? Đó cũng là trách nhiệm với chính bản thân con. Bởi lẽ, nỗi bi thương thái quá sẽ bóp nghẹt mọi bước tiến, mọi niềm vui, hay thậm chí là tước đoạt đi khả năng vun đắp những việc làm hữu ích. Mà thiếu đi những điều đó, con người ta chẳng thể nào tồn tại giữa cõi đời."

Những lời dặn dò ấy dẫu thấm thía và đúng đắn đến đâu, cũng hoàn toàn vô nghĩa với kẻ mang tội như tôi. Lẽ ra, tôi phải là người đầu tiên giấu đi giọt nước mắt để xoa dịu những người thân yêu, giá như sự ân hận không trút thứ nọc độc đắng ngắt của nó vào mọi cảm xúc trong tâm hồn. Giờ đây, tôi chỉ biết đáp lại cha bằng một ánh mắt mịt mù tuyệt vọng, rồi vội vã chạy trốn khỏi ánh nhìn khắc khoải của ông.

Khoảng thời gian này, gia đình tôi lui về ngôi nhà ở Belrive1. Sự thay đổi này mang lại cho tôi một niềm an ủi hiếm hoi. Trước kia, việc cổng thành Geneva đóng kín đều đặn vào lúc mười giờ tối2 cùng lệnh cấm nán lại trên hồ sau giờ đó đã biến những bức tường thành trở thành chốn lao tù ngột ngạt. Giờ đây, tôi đã được tự do. Thường thì, vào đêm khuya khi cả nhà đã say giấc, tôi lại lấy thuyền trôi lững lờ trên mặt nước suốt nhiều giờ đồng hồ. Có những lúc tôi giong buồm lên, mặc cho gió thổi đi đâu thì đi; có những lúc, sau khi đã chèo ra đến giữa hồ, tôi buông xuôi mái chèo, để mặc con thuyền dập dềnh theo sóng nước và đắm chìm trong tận cùng những suy tư thống khổ. Giữa bức tranh tĩnh mốc tựa chốn bồng lai ấy, vạn vật đều chìm trong thanh bình, chỉ có tôi là kẻ duy nhất ôm nỗi bất an mà lang bạt vô định. Trừ tiếng vỗ cánh của vài con dơi, hay tiếng ộp oạp chói tai đứt quãng của lũ ếch vang lên mỗi khi tôi tiến lại gần bờ-tôi nhắc lại, vạn vật đều câm lặng, và biết bao lần tôi đã bị cám dỗ trước ý nghĩ gieo mình xuống mặt hồ phẳng lặng kia, để dòng nước buốt giá có thể vùi lấp tôi cùng bao tai ương của chính mình mãi mãi. Nhưng rồi tôi lại kìm lòng được, bởi hình ảnh về một Elizabeth kiên cường mà bất hạnh luôn hiện về, người con gái tôi hết mực trân quý và là ánh sáng duy nhất trói buộc sinh mệnh tôi với cõi đời này. Tôi cũng nghĩ về cha, và về đứa em trai bé bỏng vẫn còn trên dương thế: sao tôi có thể chọn một sự giải thoát hèn mạt, nhẫn tâm vứt bỏ họ trong sự bơ vơ, trần trụi trước móng vuốt của con ác quỷ mà chính tay tôi đã thả rông vào cõi nhân gian?

Những lúc như vậy, tôi khóc nức nở, khao khát đến tuyệt vọng một chút bình yên len lỏi vào tâm trí, cốt chỉ để tự mình có thể mang đến cho họ chút an ủi và hạnh phúc mỏng manh. Nhưng điều đó là bất khả thi. Nỗi ân hận tột cùng đã thiêu rụi mọi tia hy vọng. Chính tay tôi đã gieo rắc những tai ương không thể vãn hồi; và mỗi ngày trôi qua, tôi đều phải sống trong nỗi khiếp sợ chực chờ, nơm nớp lo âu rằng con quái vật do chính mình tạo ra sẽ lại giáng xuống một tội ác mới. Một linh cảm mơ hồ nhưng rùng rợn không ngừng ám ảnh tôi, rằng chuỗi bi kịch này vẫn chưa dừng lại, rằng hắn sẽ còn gây ra một tội ác tày trời nào đó, tàn bạo đến mức làm lu mờ cả những ký ức kinh hoàng đã qua. Nỗi sợ hãi sẽ còn bám riết lấy tôi, chừng nào mà những người tôi yêu thương vẫn còn hít thở bầu không khí này. Sự ghê tởm của tôi đối với ác quỷ ấy đã vượt quá mọi giới hạn ngôn từ. Mỗi khi hình bóng hắn xẹt qua tâm trí, tôi lại nghiến răng trèo trẹo, đôi mắt hằn lên những tia máu vằn vện. Một cơn khát máu sục sôi trỗi dậy, thôi thúc tôi tước đoạt thứ sinh mệnh mà tôi đã quá đỗi ngu ngốc ban phát cho hắn. Cứ mỗi lần ngẫm nghĩ về những tội ác ghê tởm và sự hiểm độc của hắn, lòng thù hận và khát khao báo thù trong tôi lại bùng lên thiêu rụi mọi ranh giới. Tôi sẵn lòng thực hiện một chuyến hành hương đầy đọa đày đến đỉnh cao nhất của dãy Andes3, nếu như khi đặt chân lên đó, tôi có thể tự tay xô hắn xuống tận đáy vực sâu thăm thẳm. Tôi khao khát được đối diện với hắn thêm một lần nữa, để trút trọn vẹn cơn thịnh nộ cuồng bạo lên cái đầu gớm ghiếc của hắn, để rửa hận cho những cái chết oan uổng của William và Justine.

Ngôi nhà của chúng tôi chìm sâu trong tang tóc. Sau chuỗi biến cố kinh hoàng vừa qua, sức khỏe của cha tôi đã suy sụp nặng nề. Elizabeth ngày càng trở nên u buồn và tuyệt vọng. Em chẳng còn thiết tha gì đến những công việc thường nhật. Với em, tận hưởng bất cứ niềm vui nào lúc này đều giống như một sự báng bổ dành cho những người đã khuất. Em cho rằng chỉ có nỗi bi thương bất tận cùng những giọt nước mắt mới là thứ thành kính đích đáng nhất để tưởng nhớ sự ngây thơ vừa bị vùi dập và hủy hoại. Bóng dáng của một cô gái hạnh phúc thuở nào-người từng cùng tôi lang thang dọc bờ hồ trong những tháng năm thơ ấu, háo hức thêu dệt nên tương lai rực rỡ của chúng tôi-nay đã không còn nữa. Em dần thu mình vào cõi lặng im, đôi môi thường thoáng thở dài về sự vô thường của cõi nhân sinh cũng như kiếp người mong manh như rơm rác.

"Anh họ thân mến, mỗi khi ngẫm lại," em xót xa cất lời, "về cái chết thê thảm của Justine Moritz, em chợt thấy mình không còn có thể nhìn nhận thế giới này theo cách trước đây nữa. Trước kia, em vốn xem những câu chuyện về sự tha hóa và bất công-những điều từng đọc trong sách hay nghe người đời kể lại-chỉ là bóng ma của dĩ vãng, hay những cái ác do trí tưởng tượng thêu dệt nên. Ít ra, chúng vẫn còn quá đỗi xa xôi, hiện diện trong lý trí nhiều hơn là khắc sâu vào tâm khảm. Thế nhưng giờ đây, bi kịch đã gõ cửa nhà chúng ta. Con người hiện lên trong mắt em chẳng khác nào những con quái vật đang khát máu đồng loại. Dù vậy, nói thế thì quả thực em đã không công bằng. Ai cũng tin rằng cô gái đáng thương ấy có tội. Nếu cô ấy thực sự gây ra tội ác để rồi phải gánh chịu án phạt, thì chắc chắn cô ấy là sinh vật đốn mạt nhất trần đời. Chỉ vì vài món đồ trang sức cỏn con, mà nỡ lòng sát hại đứa con trai bé bỏng của chính ân nhân, của chính người bạn thân thiết! Một đứa trẻ mà cô ấy đã tự tay chăm bẵm từ thuở lọt lòng, và luôn tỏ ra yêu thương chẳng khác gì máu mủ ruột rà! Dù em chẳng thể nào chấp nhận cái chết của bất kỳ ai, nhưng quả thực, một sinh vật như thế vốn dĩ không xứng đáng được tồn tại trong xã hội loài người. Vậy mà cô ấy lại hoàn toàn vô tội. Em biết, tận sâu trong tim em cảm nhận được cô ấy vô tội. Anh cũng có chung suy nghĩ đó, và điều ấy càng củng cố thêm niềm tin nơi em. Than ôi! Victor, khi một lời dối trá có thể mang gương mặt giống hệt như sự thật, thì thử hỏi ai dám tự đảm bảo cho mình một hạnh phúc vững bền? Em cảm thấy như thể mình đang chênh vênh bước đi trên mép vực thẳm, nơi hàng ngàn kẻ đang chực chờ chen lấn, xô đẩy, rắp tâm đẩy em rơi thẳng xuống đáy sâu. William và Justine đều đã bị sát hại, trong khi tên ác nhân thực sự thì vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Hắn tự do rảo bước trên cõi đời này, và thậm chí biết đâu đấy, còn đang được người đời kính trọng. Thế nhưng, dẫu cho em có bị kết án tử hình trên đoạn đầu đài vì chính những tội danh tày trời ấy, em cũng sẽ không bao giờ chấp nhận đánh đổi vị trí với một tên khốn nạn như hắn."

Tôi lặng người lắng nghe những lời bộc bạch ấy trong nỗi đớn đau tột cùng. Tôi, dẫu không trực tiếp ra tay, nhưng về bản chất mới chính là kẻ sát nhân thực sự. Đọc được nỗi thống khổ hằn sâu trên khuôn mặt tôi, Elizabeth ân cần nắm lấy tay tôi và dịu dàng nói: "Anh họ thân yêu nhất của em, anh phải bình tĩnh lại. Những bi kịch này đã đả kích anh sâu sắc đến nhường nào, có lẽ chỉ Chúa mới thấu trọn; nhưng nỗi đau của em chẳng thể nào sánh bằng anh. Có một nét tuyệt vọng, đan xen cùng sự thù hận đôi khi lóe lên trên nét mặt anh, khiến em không khỏi run sợ. Xin hãy bình tĩnh lại, Victor thân yêu của em. Em nguyện đánh đổi cả mạng sống của mình chỉ để mang lại sự bình yên cho anh. Chúng ta chắc chắn sẽ lại hạnh phúc thôi: được sống thanh bình trên chính quê hương mình, mặc kệ những bon chen thế sự, thì thử hỏi còn bão giông nào có thể xáo trộn được sự tĩnh lặng của chúng ta cơ chứ?"

Lệ tuôn rơi khi em thốt lên những lời này. Có lẽ, tận sâu thẳm, bản thân em cũng hoài nghi chính những lời an ủi mà mình vừa trao đi. Dẫu vậy, em vẫn gượng nở một nụ cười, cố gắng xua đuổi con ác quỷ đang ẩn nấp trong trái tim tôi. Cha tôi, người chỉ đơn thuần nhìn nhận sự bất hạnh hằn rõ trên gương mặt tôi như một biểu hiện thái quá của nỗi buồn đau thường tình, tin rằng một thú tiêu khiển hợp sở thích sẽ là phương thuốc tốt nhất để trả lại cho tôi sự thanh thản vốn có. Chính vì lẽ đó, cha đã quyết định chuyển gia đình về vùng thôn quê; và cũng xuất phát từ mong mỏi ấy, nay cha lại đề xuất tất cả chúng tôi nên làm một chuyến dã ngoại đến thung lũng Chamounix4. Tôi từng đặt chân đến đó, nhưng Elizabeth và Ernest thì chưa. Cả hai thường mang một niềm khao khát cháy bỏng được tận mắt chiêm ngưỡng phong cảnh nơi này-vùng đất từng được miêu tả với họ là vô cùng kỳ diệu và tráng lệ. Vì thế, chúng tôi rời khỏi Geneva để bắt đầu chuyến hành trình vào khoảng giữa tháng Tám, gần hai tháng sau cái chết bi thương của Justine.

Tiết trời đẹp đến lạ kỳ; và giá như cõi lòng trĩu nặng của tôi có thể được xua tan bởi một khung cảnh thoảng qua, thì chuyến dã ngoại này hẳn đã trọn vẹn như dụng ý từ ái của cha. Dẫu vậy, cảnh sắc thiên nhiên cũng đôi phần lay động tâm can tôi; có đôi lúc, nó như xoa dịu, dẫu chẳng thể nào dập tắt được ngọn lửa sầu thảm đang thiêu đốt tâm hồn. Suốt ngày đầu tiên, chúng tôi rong ruổi trên xe ngựa. Từ ban mai, những đỉnh núi xa xăm đã lờ mờ hiện ra ở chân trời, và chúng tôi cứ thế tiến dần về phía đó. Thung lũng mà chúng tôi đi qua, nơi được dòng sông Arve5 rạch một đường chạy dọc theo lộ trình, dường như đang mỗi lúc một thắt lại quanh chúng tôi. Khi ánh tà dương vừa tắt, chúng tôi choáng ngợp trước những ngọn núi sừng sững cùng các vách đá khổng lồ đang đổ bóng chênh vênh bủa vây tứ phía. Tiếng gầm gào của dòng Arve cuộn trào qua những phiến đá, hòa cùng tiếng thác đổ ầm vang giữa núi rừng không ngớt dội vào không gian.

Ngày hôm sau, chúng tôi tiếp tục hành trình trên lưng la. Càng dấn bước lên cao, thung lũng càng khoác lên mình một vẻ huy hoàng và kỳ vĩ đến choáng ngợp. Những tàn tích lâu đài hoang lạnh vắt vẻo bên những vách đá chênh vênh nơi rặng thông bạt ngàn bao phủ; dòng Arve vẫn miệt mài cuộn sóng dữ dội, và lác đác vài mái tranh lẩn khuất giữa tán cây, tất cả đan cài thành một bức tranh diễm lệ đến nghẹt thở. Nhưng vẻ mỹ lệ ấy mới thực sự bừng sáng và thăng hoa nhờ dãy Alps6 hùng tráng. Những chóp núi nhọn hoắt cùng vòm đá trắng toát lấp lánh băng tuyết kiêu hãnh vươn mình sừng sững vượt lên trên tất cả, tựa hồ một thế giới xa xăm nào đó, nơi trú ngụ của một giống loài hoàn toàn khác biệt.

Băng qua cầu Pelissier7, nơi khe núi bị dòng nước xẻ dọc dần mở rộng ra trước mắt, chúng tôi bắt đầu men theo triền núi nhô cao. Chẳng bao lâu, đoàn người đã đặt chân vào thung lũng Chamounix. Nơi đây mang một dáng vẻ kỳ vĩ và oai linh hơn, dẫu không còn đậm chất thơ và đẹp tựa bích họa như thung lũng Servox8 vừa bỏ lại phía sau. Những ngọn núi cao chót vót khoác tấm áo tuyết trắng xóa hợp thành một đường biên giới tự nhiên bao bọc lấy thung lũng. Cảnh sắc hoang tàn của những lâu đài xưa cũ hay những cánh đồng trù phú nay đã vắng bóng. Những sông băng khổng lồ trườn ra sát lối đi; văng vẳng bên tai là tiếng sấm rền vang của những trận lở tuyết, để rồi mắt ta dõi theo lớp bụi mù mịt cuộn lên nơi cơn phẫn nộ của thiên nhiên vừa càn quét qua. Mont Blânc9, ngọn Mont Blânc tối cao và rực rỡ, kiêu hãnh vươn lên từ giữa những aiguilles10, với khối dome11 vĩ đại sừng sững uy nghi nhìn xuống thung lũng.

Trong suốt hành trình, đôi lúc tôi gượng ép mình hòa chung vào niềm hân hoan của Elizabeth, cố gắng chỉ cho em thấy những sắc độ tuyệt mỹ của bức tranh phong cảnh. Nhưng thường thì, tôi cứ để con la lững thững rớt lại phía sau, tự giam mình trong ngục tù dằn vặt của những suy tưởng u ám. Lắm khi, tôi lại quất roi thúc con vật lao vượt lên trước những người đồng hành, khát khao được trốn chạy khỏi họ, khỏi cõi đời này, và hơn tất thảy, là để trốn chạy khỏi chính bản thân mình. Tới khi vạn vật lùi lại một khoảng cách xa, tôi liền tuột xuống yên, gieo mình xuống thảm cỏ, mặc cho nỗi kinh hoàng cùng sự tuyệt vọng bóp nghẹt lấy hơi thở. Tám giờ tối, tôi đặt chân đến Chamounix. Cha tôi và Elizabeth lúc này đã rã rời vì mệt mỏi; riêng Ernest, cậu em cùng đi với chúng tôi, vẫn giữ nguyên vẻ hào hứng và tràn trề sinh lực. Trở ngại duy nhất có chăng làm vơi đi niềm háo hức trong em là cơn gió nam đang thổi tới, mang theo điềm báo về một trận mưa vào ngày hôm sau.

Chúng tôi sớm lui về phòng nghỉ ngơi, nhưng nào phải để chìm vào giấc ngủ; ít nhất đối với tôi là thế. Tôi đứng chôn chân hàng giờ bên ô cửa sổ, ánh mắt vô hồn dõi theo những tia chớp nhợt nhạt rạch xé màn đêm phía trên đỉnh Mont Blânc, và đôi tai thì thao thức lắng nghe tiếng gầm gào cuộn xiết của dòng Arve tuôn trào ngay bên dưới bậu cửa sổ của mình.

Chẳng có gì tàn phá tâm trí con người dữ dội hơn khi những xúc cảm vừa bị xới tung bởi hàng chuỗi biến cố dồn dập, thì ngay lập tức, ta lại phải trơ trọi đối diện với sự tĩnh lặng mang hình hài của cái chết. Sự bất động đầy ám ảnh ấy đã tước đoạt khỏi linh hồn cả niềm hy vọng mỏng manh lẫn những nỗi sợ hãi mơ hồ. Justine đã chết; cô đã chìm vào giấc ngủ ngàn thu; còn tôi thì vẫn sống. Máu vẫn tuôn chảy rần rật trong huyết quản, nhưng một gánh nặng của sự tuyệt vọng và nỗi ân hận tột cùng đã nghiền nát trái tim tôi, một bóng đen không một thế lực nào có thể xua tan. Giấc ngủ cự tuyệt đôi mắt tôi; tôi vất vưởng lang thang như một bóng ma gieo rắc tai ương, bởi lẽ chính tôi đã gián tiếp nhào nặn nên những tội ác kinh hoàng không thể thốt thành lời. Thậm chí, tôi tự nhủ, vẫn còn vô vàn những viễn cảnh tồi tệ, thê thảm hơn thế đang nấp trong bóng tối chực chờ.

Vậy mà từng có thời, trái tim này vốn dĩ ngập tràn lòng nhân ái và tình yêu thuần khiết dành cho cái thiện. Tôi đã bước vào đời bằng những khao khát cao cả, mòn mỏi đợi chờ khoảnh khắc được biến ý niệm thành hành động, để cống hiến trọn vẹn sinh mệnh này cho nhân loại. Nhưng giờ đây, mọi thứ đã nát vụn: thay vì được ấp ủ một lương tâm thanh thản - thứ cho phép tôi ngoái nhìn quá khứ trong sự mãn nguyện và thắp lên những tia sáng hứa hẹn cho tương lai - tôi lại bị xiết chặt bởi cảm giác tội lỗi và sự hối hận muộn màng. Chúng đày đọa tôi, cuốn tôi vào tầng địa ngục sâu thẳm của những cơn dằn vặt xé nát tâm can, thứ mà không một ngôn từ nào trên cõi đời này đủ sức diễn tả.

Thứ cực hình tâm lý ấy đã hủy hoại hoàn toàn chút sinh lực vừa mới nhen nhóm lại trong tôi sau cú sốc ban đầu. Tôi trốn chạy khỏi loài người; mọi thanh âm của niềm vui sướng hay sự thỏa mãn đều vang vọng như một hình phạt tàn khốc. Sự cô độc trở thành chốn nương náu duy nhất - một sự cô độc sâu thẳm, tăm tối và lạnh lẽo như hơi thở của thần chết.

Cha tôi đứt từng khúc ruột khi chứng kiến sự biến đổi thê thảm trong tâm tính và thói quen của tôi. Ông cố gắng đánh thức tôi khỏi sự u mê, can ngăn việc tôi cứ mãi buông mình chết chìm trong vũng lầy bi thương tột độ.

"Con nghĩ rằng, Victor," cha nói, "cha không đớn đau sao? Trên cõi đời này, chẳng ai có thể yêu thương một đứa trẻ hơn tình yêu cha dành cho em con;" (những giọt nước mắt chực trào nơi khóe mắt ông khi cất lời); "nhưng chẳng phải bổn phận của chúng ta đối với những người còn sống là đừng gieo thêm nỗi bất hạnh cho họ bằng bộ dạng sầu thảm này sao? Đó cũng là trách nhiệm với chính sinh mệnh của con; bởi nỗi ưu phiền cạn kiệt sẽ bóp nghẹt mọi bước tiến, mọi niềm vui và cả những phận sự thiết thực nhất trong đời. Thiếu đi những điều đó, làm sao con có thể tiếp tục tồn tại giữa xã hội loài người."

Những lời răn dạy ấy tuy vô cùng chí lý, nhưng lại hoàn toàn vô nghĩa với kẻ mang đầy tội lỗi như tôi. Lẽ ra, tôi đã phải là người đầu tiên nuốt ngược nỗi đau vào trong để làm chỗ dựa cho những người thân yêu, nếu như sự ân hận không tiêm thứ nọc độc đắng ngắt của nó vào từng ngóc ngách xúc cảm trong tôi. Giờ đây, tôi chỉ biết đáp lại ánh mắt của cha bằng một sự tuyệt vọng câm lặng, rồi vội vã quay đi, trốn chạy khỏi ánh nhìn xót xa của ông.

Tiết trời đẹp đến lạ kỳ; và giá như cõi lòng trĩu nặng của tôi có thể được xua tan bởi một khung cảnh thoảng qua, thì chuyến dã ngoại này hẳn đã trọn vẹn như dụng ý từ ái của cha. Dẫu vậy, cảnh sắc thiên nhiên cũng đôi phần lay động tâm can tôi; có đôi lúc, nó như xoa dịu, dẫu chẳng thể nào dập tắt được ngọn lửa sầu thảm đang thiêu đốt tâm hồn. Suốt ngày đầu tiên, chúng tôi rong ruổi trên xe ngựa. Từ ban mai, những đỉnh núi xa xăm đã lờ mờ hiện ra ở chân trời, và chúng tôi cứ thế tiến dần về phía đó. Thung lũng mà chúng tôi đi qua, nơi được dòng sông Arve rạch một đường chạy dọc theo lộ trình, dường như đang mỗi lúc một thắt lại quanh chúng tôi. Khi ánh tà dương vừa tắt, chúng tôi choáng ngợp trước những ngọn núi sừng sững cùng các vách đá khổng lồ đang đổ bóng chênh vênh bủa vây tứ phía. Tiếng gầm gào của dòng Arve cuộn trào qua những phiến đá, hòa cùng tiếng thác đổ ầm vang giữa núi rừng không ngớt dội vào không gian.

Ngày hôm sau, chúng tôi tiếp tục hành trình trên lưng la. Càng dấn bước lên cao, thung lũng càng khoác lên mình một vẻ huy hoàng và kỳ vĩ đến choáng ngợp. Những tàn tích lâu đài hoang lạnh vắt vẻo bên những vách đá chênh vênh nơi rặng thông bạt ngàn bao phủ; dòng Arve vẫn miệt mài cuộn sóng dữ dội, và lác đác vài mái tranh lẩn khuất giữa tán cây, tất cả đan cài thành một bức tranh diễm lệ đến nghẹt thở. Nhưng vẻ mỹ lệ ấy mới thực sự bừng sáng và thăng hoa nhờ dãy Alps hùng tráng. Những chóp núi nhọn hoắt cùng vòm đá trắng toát lấp lánh băng tuyết kiêu hãnh vươn mình sừng sững vượt lên trên tất cả, tựa hồ một thế giới xa xăm nào đó, nơi trú ngụ của một giống loài hoàn toàn khác biệt.

Băng qua cầu Pelissier, nơi khe núi bị dòng nước xẻ dọc dần mở rộng ra trước mắt, chúng tôi bắt đầu men theo triền núi nhô cao. Chẳng bao lâu, đoàn người đã đặt chân vào thung lũng Chamounix. Nơi đây mang một dáng vẻ kỳ vĩ và oai linh hơn, dẫu không còn đậm chất thơ và đẹp tựa bích họa như thung lũng Servox vừa bỏ lại phía sau. Những ngọn núi cao chót vót khoác tấm áo tuyết trắng xóa hợp thành một đường biên giới tự nhiên bao bọc lấy thung lũng. Cảnh sắc hoang tàn của những lâu đài xưa cũ hay những cánh đồng trù phú nay đã vắng bóng. Những sông băng khổng lồ trườn ra sát lối đi; văng vẳng bên tai là tiếng sấm rền vang của những trận lở tuyết, để rồi mắt ta dõi theo lớp bụi mù mịt cuộn lên nơi cơn phẫn nộ của thiên nhiên vừa càn quét qua. Mont Blânc, ngọn Mont Blânc tối cao và rực rỡ, kiêu hãnh vươn lên từ giữa những aiguilles, với khối dome vĩ đại sừng sững uy nghi nhìn xuống thung lũng.

Trong suốt hành trình, đôi lúc tôi gượng ép mình hòa chung vào niềm hân hoan của Elizabeth, cố gắng chỉ cho em thấy những sắc độ tuyệt mỹ của bức tranh phong cảnh. Nhưng thường thì, tôi cứ để con la lững thững rớt lại phía sau, tự giam mình trong ngục tù dằn vặt của những suy tưởng u ám. Lắm khi, tôi lại quất roi thúc con vật lao vượt lên trước những người đồng hành, khát khát được trốn chạy khỏi họ, khỏi cõi đời này, và hơn tất thảy, là để trốn chạy khỏi chính bản thân mình. Tới khi vạn vật lùi lại một khoảng cách xa, tôi liền tuột xuống yên, gieo mình xuống thảm cỏ, mặc cho nỗi kinh hoàng cùng sự tuyệt vọng bóp nghẹt lấy hơi thở. Tám giờ tối, tôi đặt chân đến Chamounix. Cha tôi và Elizabeth lúc này đã rã rời vì mệt mỏi; riêng Ernest, cậu em cùng đi với chúng tôi, vẫn giữ nguyên vẻ hào hứng và tràn trề sinh lực. Trở ngại duy nhất có chăng làm vơi đi niềm háo hức trong em là cơn gió nam đang thổi tới, mang theo điềm báo về một trận mưa vào ngày hôm sau.

Chúng tôi sớm lui về phòng nghỉ ngơi, nhưng nào phải để chìm vào giấc ngủ; ít nhất đối với tôi là thế. Tôi đứng chôn chân hàng giờ bên ô cửa sổ, ánh mắt vô hồn dõi theo những tia chớp nhợt nhạt rạch xé màn đêm phía trên đỉnh Mont Blânc, và đôi tai thì thao thức lắng nghe tiếng gầm gào cuộn xiết của dòng Arve tuôn trào ngay bên dưới bậu cửa sổ của mình.



  1. Belrive (nay là Collonge-Bellerive) là một vùng ngoại ô thanh bình nằm ven bờ hồ Geneva, Thụy Sĩ. Nơi đây từng là chốn nghỉ dưỡng quen thuộc của giới thượng lưu Geneva vào thế kỷ 18-19 để tìm kiếm sự yên tĩnh. 

  2. Vào thời đại của Victor Frankenstein (cuối thế kỷ 18), Geneva là một quốc gia thành bang độc lập với hệ thống tường thành bao quanh. Việc đóng cổng thành vào ban đêm là biện pháp an ninh nghiêm ngặt, bất kỳ ai về muộn đều phải ngủ lại bên ngoài. 

  3. Andes là dãy núi dài nhất thế giới nằm ở Nam Mỹ, cách châu Âu nửa vòng trái đất. Việc Victor nhắc đến một địa danh xa xôi vô ngần nhằm nhấn mạnh khát khao báo thù mãnh liệt và sự cực nhọc mà anh sẵn sàng chịu đựng. 

  4. Chamounix (nay viết là Chamonix) là một thung lũng nổi tiếng thuộc vùng núi Alps của Pháp, giáp Thụy Sĩ và Ý. Từ thế kỷ 18, nơi đây đã trở thành điểm đến tiên phong của trào lưu du lịch leo núi ở châu Âu nhờ cảnh quan kỳ vĩ. 

  5. Arve là một con sông chảy qua Pháp và Thụy Sĩ, bắt nguồn từ các dòng sông băng ở khối núi Mont Blanc và đổ vào hồ Geneva. Đoạn sông chảy qua các khe núi dốc thường có dòng nước cuộn xiết rất dữ dội. 

  6. Alps (An-pơ) là hệ thống núi dài nhất và cao nhất ở trung tâm châu Âu. Vẻ đẹp áp đảo và nguyên sơ của nó là nguồn cảm hứng bất tận trong văn học Lãng mạn thế kỷ 19 về sức mạnh tối thượng của thiên nhiên. 

  7. Cầu Pelissier (Pont Pélissier) là cây cầu lịch sử bắc qua hẻm núi sâu của sông Arve. Nó nằm trên tuyến đường gập ghềnh xưa cũ nối liền Geneva với thung lũng Chamonix. 

  8. Servox (nay viết là Servoz) là một ngôi làng nhỏ êm đềm nằm trên lộ trình dẫn lên Chamonix. Tác giả dùng nó như một điểm dừng chân thơ mộng để làm nổi bật sự khắc nghiệt và hùng vĩ của thung lũng Chamonix phía trước. 

  9. Mont Blanc ('Núi Trắng') là đỉnh núi cao nhất của dãy Alps và cả Tây Âu. Sự hiện diện vĩnh cửu của nó là một biểu tượng kinh điển tượng trưng cho sự tráng lệ và sức mạnh siêu nhiên trong văn chương Lãng mạn. 

  10. Aiguilles (tiếng Pháp nghĩa là 'những chiếc kim') là thuật ngữ dùng để chỉ những mỏm đá granite nhọn hoắt vươn thẳng lên trời, một đặc trưng địa hình vô cùng nổi bật của khối núi quanh thung lũng Chamonix. 

  11. Dome (mái vòm) dùng để miêu tả những đỉnh núi có lớp tuyết phủ dày và mang hình dáng cong tròn, đối lập với sự sắc nhọn của các 'aiguilles'. Ở Mont Blanc có một ngọn núi phụ rất nổi tiếng mang tên Dôme du Goûter.