CHƯƠNG III.
“Thật khó để tôi hồi tưởng lại thuở hồng hoang trong cuộc đời mình, bởi mọi sự kiện thuộc về giai đoạn ấy cứ rối bời và nhạt nhòa trong tâm trí. Một mớ hỗn độn vô vàn cảm giác bủa vây lấy tôi: tôi cùng lúc nhìn, nghe, ngửi và cảm nhận mọi thứ; và quả thực, phải mất một thời gian đằng đẵng tôi mới học được cách phân tách hoạt động của các giác quan. Rồi dần dà, tôi nhớ có một thứ ánh sáng chói lòa ép chặt vào từng dây thần kinh, buộc tôi phải nhắm nghiền mắt lại. Bóng tối lập tức buông xuống khiến tôi sợ hãi; nhưng vừa mới cảm nhận được điều đó, khi mở mắt ra, như tôi đoán bây giờ, ánh sáng lại chan hòa khắp quanh tôi. Tôi cất bước, và tôi tin là mình đã đi xuống một con dốc; nhưng ngay lúc đó, tôi nhận ra sự chuyển biến lớn lao trong xúc cảm của mình. Trước kia, vây quanh tôi chỉ là những vật thể tối tăm và mờ đục, không thể chạm vào hay nhìn thấu; nhưng giờ đây tôi thấy mình có thể tự do lang thang, không còn chướng ngại nào cản bước mà tôi không thể vượt qua hay lẩn tránh. Ánh sáng dần trở nên oi ả; và khi cái nóng vắt kiệt sức lực trên đường đi, tôi đành tìm một bóng râm để trú ngụ. Đó là khu rừng gần Ingolstadt; ở đấy, tôi ngả lưng bên bờ suối nghỉ ngơi, mãi cho đến khi bị cơn đói và cơn khát giày vò. Cảm giác ấy đánh thức tôi khỏi trạng thái tựa như ngủ đông. Tôi hái vài quả mọng trên cành hoặc nhặt nhạnh dưới đất để ăn, rồi uống nước dưới dòng suối trong vắt; sau đó, tôi ngả mình xuống và thiếp đi.
“Khi tôi tỉnh giấc thì trời đã sập tối; tôi thấy ớn lạnh và bản năng mách bảo một nỗi sợ hãi mơ hồ khi nhận ra mình quá đỗi cô độc. Trước khi rời khỏi căn hộ của ngài, vì rét buốt, tôi đã khoác bừa vài bộ quần áo lên người; nhưng chúng chẳng thấm vào đâu để che chắn cho tôi khỏi màn sương đêm lạnh lẽo. Tôi chỉ là một kẻ khốn cùng, bất lực và đáng thương; tôi chẳng biết gì và cũng chẳng phân định được điều chi. Cảm nhận muôn vàn nỗi đau đớn bủa vây từ mọi phía, tôi sụp xuống và bật khóc tức tưởi.
“Chẳng bao lâu sau, một luồng sáng dịu êm len lỏi khắp tầng không, mang đến cho tôi một niềm ủi an kỳ lạ. Tôi bật dậy và trông thấy một khối cầu rực rỡ đang từ từ nhô lên khỏi rặng cây. Tôi đứng lặng ngắm nhìn với nỗi kinh ngạc không thốt nên lời. Vật thể ấy di chuyển thật chậm chạp, nhưng lại soi tỏ con đường tôi đi; thế là tôi lại lần mò ra ngoài tìm kiếm quả mọng. Lúc này, tôi vẫn thấy lạnh sương, cho đến khi nhặt được một chiếc áo choàng khổng lồ dưới gốc cây. Tôi lấy nó quấn chặt quanh người rồi ngồi bệt xuống đất. Trong đầu tôi khi ấy chẳng có lấy một ý niệm nào rõ rệt; tất cả chỉ là một mớ bòng bong. Tôi cảm nhận được ánh sáng, cơn đói, cơn khát và cả bóng đêm u tịch; vô vàn tạp âm dội vào màng nhĩ, và từ bốn bề, muôn vàn mùi hương phảng phất đưa lại. Thứ duy nhất tôi có thể nhận diện rành rọt là vầng trăng vằng vặc trên cao, và tôi cứ thích thú dán chặt mắt vào đó.
“Nhiều ngày đêm cứ thế luân phiên trôi qua, và quả cầu ban đêm ấy đã khuyết đi ít nhiều khi tôi bắt đầu biết phân biệt các luồng cảm giác. Dần dà, tôi nhìn thấu dòng suối trong trẻo đã ban cho mình dòng nước mát lành, và cả những tán cây rợp bóng che chở cho tôi. Lần đầu tiên, tôi vô cùng sung sướng khi phát hiện ra âm thanh êm ái thường văng vẳng bên tai mình lại cất lên từ vòm họng của những sinh vật nhỏ bé có cánh, chúng cứ bay lượn che khuất cả tầm nhìn trước mắt tôi. Tôi cũng bắt đầu quan sát hình dáng của những sự vật quanh mình tường tận hơn, và nhận ra giới hạn của vòm sáng rực rỡ đang dang tay chở che cho mình. Đôi khi tôi cũng thử bắt chước tiếng hót trong trẻo của bầy chim, nhưng đành bất lực. Có những lúc tôi muốn bày tỏ cảm xúc theo cách của riêng mình, song những thanh âm thô thiển và không tròn vành rõ chữ thoát ra từ cửa miệng lại khiến tôi khiếp đảm, đành chìm vào cõi lặng im.
“Mặt trăng đã khuất bóng khỏi màn đêm, rồi lại nhô lên với hình hài khuyết nửa, trong khi tôi vẫn mãi quẩn quanh trong khu rừng ấy. Các giác quan của tôi giờ đây đã trở nên nhạy bén hơn, và mỗi ngày trôi qua, tâm trí tôi lại dung nạp thêm những khái niệm mới mẻ. Đôi mắt tôi đã quen dần với ánh sáng và nhận biết các vật thể theo đúng hình thù thực của chúng; tôi đã phân biệt được đâu là côn trùng, đâu là cây cỏ, và dần dần, nhận ra sự khác biệt giữa muôn loài cỏ dại. Tôi phát hiện ra chim sẻ chỉ phát ra những tiếng kêu chói tai, trong khi tiếng hót của sáo đen hay chim hoét lại ngọt ngào và đầy mê đắm.
“Một ngày nọ, giữa cơn run rẩy vì cái lạnh giá buốt hành hạ, tôi chợt bắt gặp đống lửa tàn do vài gã ăn mày lang bạt bỏ lại. Cảm nhận được hơi ấm lan tỏa, niềm sung sướng trào dâng trong tôi. Giữa cơn hân hoan tột độ, tôi đưa tay vờn lấy đám than hồng, nhưng đành phải vội vã rụt lại kèm theo một tiếng thét đớn đau. Thật kỳ lạ làm sao, tôi thầm nghĩ, cùng một nguồn cội mà lại sinh ra những tác động trái ngược đến nhường ấy! Ngồi tỉ mẩn xem xét từng thứ tạo nên ngọn lửa, tôi mừng rỡ nhận ra nó bắt nguồn từ những thanh củi. Lập tức, tôi nhặt nhạnh thêm vài cành cây ném vào, nhưng vì ngấm sương ẩm nên chúng chẳng chịu bén lửa. Lòng chợt chùng xuống, tôi đành ngồi lặng yên, chăm chú quan sát sức sống của đốm lửa. Dần dà, những thanh củi ướt nằm kề bên nguồn nhiệt cũng tự khô đi rồi bùng cháy. Mải mê suy ngẫm, tôi thử chạm vào vô số cành cây khác nhau để thấu hiểu căn nguyên. Thế rồi, tôi lụi cụi gom một đống củi thật lớn, đem hong khô cẩn thận để dành dụm một nguồn dự trữ dồi dào. Khi màn đêm tĩnh mịch buông xuống, mang theo cơn buồn ngủ ập tới, trong lòng tôi bỗng dâng lên nỗi âu lo ngọn lửa quý giá này sẽ lụi tàn. Tôi bèn cẩn thận ủ lên đó những thanh củi cùng đám lá khô, đắp thêm lớp cành ướt lên trên cùng. Xong xuôi, tôi mới chịu trải chiếc áo choàng ra nền đất lạnh rồi chìm dần vào giấc ngủ.
“Tôi choàng tỉnh khi bình minh vừa hé rạng. Phút chốc, tâm trí tôi chỉ quẩn quanh lo lắng cho ngọn lửa. Vội vã gạt bỏ lớp ủ bên trên, tôi nhận ra một làn gió nhẹ thoảng qua đã nhanh chóng thổi bùng đám than thành một ngọn lửa rực rỡ. Ghi nhớ ngay điều kỳ diệu ấy, tôi bèn kết cành cây thành một chiếc quạt để tiếp gió cho những hòn than hồng mỗi khi chúng chực chờ lụi tắt. Đêm xuống, tôi hân hoan nhận ra ngọn lửa đâu chỉ mang lại hơi ấm, mà còn tỏa ra thứ ánh sáng rạng rỡ. Hơn thế nữa, việc khám phá ra món quà này của tự nhiên còn giúp ích biết bao cho những bữa ăn đơn sơ; nhờ nó, tôi phát hiện ra những mẩu thức ăn thừa của đoàn lữ hành nọ đã được nướng chín mềm, mang hương vị thơm ngon hơn hẳn đám quả mọng tôi hái trên cây. Nghĩ vậy, tôi bèn thử chế biến phần ăn của mình theo cách tương tự, đặt trực tiếp lên đám than đỏ rực. Qua những lần thử nghiệm ấy, tôi nhận thấy các loại quả mọng thường bị dập nát, cháy hỏng, trong khi các loại hạt và rễ cây lại trở nên bùi béo và ngon miệng hơn vạn phần.
“Thế nhưng, thức ăn quanh vùng cứ cạn kiệt dần. Tôi thường phải vất vưởng cả ngày trời chỉ để lùng sục trong vô vọng vài quả sồi nhằm xoa dịu cơn đói đang cồn cào xé ruột. Nhận thức được tình cảnh ấy, tôi quyết định dứt áo rời bỏ chốn nương thân từ thuở ban sơ để tìm kiếm một miền đất mới, nơi những nhu cầu ít ỏi của bản thân có thể dễ dàng được lấp đầy. Trong chuyến hành trình di cư ấy, niềm nuối tiếc khôn nguôi dâng trào khi tôi buộc phải đánh mất ngọn lửa tình cờ có được, mà chẳng hề biết cách thức để thắp lên nó một lần nữa. Dành ra hàng giờ đồng hồ trầm ngâm căng trí để tìm lối thoát, cuối cùng tôi vẫn đành buông xuôi mọi nỗ lực nhen nhóm lại ngọn lửa. Quấn chặt thân mình trong chiếc áo choàng sờn cũ, tôi băng qua cánh rừng âm u, dấn bước về phía mặt trời lặn. Ba ngày ròng rã rong ruổi trôi qua, cuối cùng tôi cũng phát hiện ra một vùng đồng quê hoang hoải mênh mông. Một trận bão tuyết lớn vừa quét qua đêm trước, nhấn chìm vạn vật trên cánh đồng dưới một sắc trắng toát đồng nhất. Khung cảnh hiện lên thật ảm đạm, thê lương, và đôi chân tôi bắt đầu buốt giá đến tận xương tủy vì bị lớp vật chất ẩm ướt, lạnh lẽo phủ kín mặt đất bủa vây.
“Lúc đó tầm bảy giờ sáng, cơn đói khát và khao khát một chốn nương thân bủa vây lấy tôi. Cuối cùng, tôi phát hiện ra một túp lều nhỏ trên mỏm đất cao, dường như là nơi nghỉ chân của một người chăn cừu nào đó. Đây là một cảnh tượng hoàn toàn mới mẻ, khiến tôi ngắm nhìn cấu trúc ấy với sự tò mò tột độ. Thấy cửa mở, tôi bước vào. Một ông lão đang ngồi bên trong, cặm cụi chuẩn bị bữa sáng cạnh đống lửa. Nghe thấy tiếng động, lão quay lại. Vừa nhìn thấy tôi, lão đã hét lên thất thanh rồi lao vụt ra khỏi lều. Lão tháo chạy thục mạng băng qua những cánh đồng, nhanh đến mức khó tin so với thân hình tiều tụy của mình. Hình dáng của lão, khác biệt hoàn toàn với bất kỳ ai tôi từng gặp, cùng với sự cuống cuồng chạy trốn ấy đã khiến tôi có chút ngỡ ngàng. Thế nhưng, tâm trí tôi nhanh chóng bị hút hồn bởi chính túp lều này. Nơi đây mưa tuyết chẳng thể lọt qua, mặt đất lại khô ráo ấm áp. Trong mắt tôi, túp lều hiện lên như một chốn trú ẩn tuyệt mỹ và thiêng liêng, hệt như chốn Pandæmonium1 hiện ra trước bầy quỷ dữ sau những đọa đày trong hồ lửa địa ngục. Tôi ngấu nghiến phần bữa sáng lão chăn cừu bỏ lại, gồm bánh mì, pho mát, sữa và một chút rượu, dù thứ rượu đó chẳng mấy vừa miệng tôi. Lấp đầy bụng rồi, cơn mỏi mệt ập đến, tôi ngả lưng xuống đống rơm và chìm vào giấc ngủ.
“Lúc tỉnh giấc thì trời đã trưa. Bị thu hút bởi hơi ấm từ ánh mặt trời đang rực rỡ chiếu rọi trên nền tuyết trắng xóa, tôi quyết định lên đường. Tôi gom nốt phần thức ăn còn lại vào một chiếc ví da nhặt được, rồi rảo bước băng qua những cánh đồng ròng rã suốt nhiều giờ đồng hồ. Đến lúc chạng vạng, tôi đặt chân tới một ngôi làng. Khung cảnh hiện ra trước mắt mới kỳ diệu làm sao! Từ những túp lều nhỏ bé, những ngôi nhà tranh khang trang, cho đến những căn nhà kiên cố kiêu hãnh đứng đó, tất thảy đều khiến tôi không khỏi trầm trồ ngưỡng mộ. Những luống rau quả mơn mởn ngoài vườn, cùng những bình sữa và tảng pho mát đặt bên bậu cửa sổ của vài ngôi nhà tranh lại đánh thức cơn đói cồn cào trong tôi. Tôi đánh liều bước vào một trong những ngôi nhà đẹp đẽ nhất. Thế nhưng, chân tôi vừa chạm ngưỡng cửa, lũ trẻ con đã gào thét kinh hoàng, còn một người phụ nữ thì lăn đùng ra bất tỉnh. Cả ngôi làng lập tức náo loạn. Người thì bỏ chạy tán loạn, kẻ thì hung hăng lao vào tấn công tôi. Phải hứng chịu một trận mưa gạch đá cùng vô số thứ vũ khí khác ném vào người đến mức bầm dập thê thảm, tôi mới có thể tháo chạy thoát thân ra vùng đồng không mông quạnh. Trong cơn kinh hãi tột cùng, tôi tìm được một chỗ nấp trong một căn chòi lụp xụp. Nơi này trống hoác và trông thật tồi tàn, nhất là khi đem so với những 'cung điện' lộng lẫy mà tôi vừa chiêm ngưỡng trong làng. Tuy vậy, căn chòi lại nằm sát vách một ngôi nhà tranh trông rất gọn gàng và dễ chịu. Dù vậy, sau bài học cay đắng vừa nếm trải, tôi chẳng còn can đảm lén bước vào đó nữa. Chỗ trú ngự của tôi chỉ được ghép từ những mảnh gỗ thô sơ, trần lại thấp đến mức tôi khó lòng ngồi thẳng lưng. Nền đất cũng chẳng được lót ván, nhưng may mắn thay vẫn giữ được độ khô ráo. Dẫu gió vẫn rít gào luồn qua vô số khe hở, đối với tôi, nơi này vẫn là một bến đỗ an toàn để tránh cơn mưa tuyết.
“Thế là tôi thu mình vào đó và nằm xuống. Trái tim tôi khẽ dâng lên niềm vui sướng vì cuối cùng cũng tìm được một chốn nương thân, dù có rách nát đến đâu, để chở che tôi khỏi thời tiết khắc nghiệt, và quan trọng hơn cả, là thoát khỏi sự man rợ của loài người.
“Sáng hôm sau, khi những tia nắng đầu tiên vừa hé rạng, tôi chui ra khỏi cái hang của mình để thăm dò ngôi nhà tranh bên cạnh, đồng thời cân nhắc xem mình có thể nán lại nơi trú ẩn này thêm không. Căn chòi nằm khuất ngay phía sau lưng ngôi nhà, những phía không bị che khuất thì được bao bọc bởi một cái chuồng lợn và một vũng nước trong veo. Có một mặt lều để ngỏ, chính là lối tôi đã chui vào đêm qua. Nhưng giờ đây, tôi gom đá và những mảnh gỗ để bịt kín mọi kẽ hở có thể khiến mình bị lộ, song vẫn cẩn thận sắp xếp sao cho dễ dàng dịch chuyển mỗi khi cần chui ra. Nguồn sáng duy nhất lọt vào chỗ tôi hắt qua khe hở từ chuồng lợn, nhưng với tôi như vậy là đã đủ.
“Sắp xếp xong xuôi chỗ ở và lót thêm một lớp rơm sạch, tôi vội vã chui tọt vào trong, bởi từ đằng xa, tôi thoáng thấy bóng dáng một người đàn ông bước tới. Những trận đòn roi tàn nhẫn đêm qua vẫn còn hằn sâu trong ký ức, khiến tôi chẳng dám liều lĩnh giao phó mạng sống của mình vào tay bọn họ lần nữa. Dẫu vậy, tôi đã kịp tích trữ đủ lương thực cho ngày hôm đó với một ổ bánh mì thô lấy trộm được, cùng một chiếc cốc để múc nước từ dòng suối trong vắt chảy ngang qua chỗ ẩn nấp thay vì phải chụm hai bàn tay lại. Sàn nhà hơi nhô cao nên luôn giữ được sự khô ráo tuyệt đối, lại được sưởi ấm nhờ nằm cạnh ống khói của ngôi nhà tranh.
“Có được chỗ nương náu, tôi quyết định tá túc tại túp lều này cho đến khi thời thế buộc tôi phải đổi thay. Nơi đây tựa hồ một chốn thiên đường nếu đem so với khu rừng hoang lạnh lẽo, nền đất ẩm ướt trơn trượt cùng những tán lá đẫm sương mà tôi từng nương tựa. Lòng hân hoan, tôi dùng xong bữa sáng. Vừa định gỡ một tấm ván nhỏ để hứng chút nước, tôi bỗng nghe thấy tiếng bước chân văng vẳng. Hé mắt qua một khe nứt, tôi chợt thấy một bóng hình nhỏ bé đang đội chiếc xô trên đầu, chậm rãi bước ngang qua chỗ tôi ẩn nấp. Đó là một cô gái trẻ với vóc dáng mềm mại, toát lên vẻ dịu dàng khác xa những gã tá điền hay người hầu thô kệch mà tôi từng chạm trán. Dù trang phục tồi tàn, chỉ độc một chiếc váy lót thô ráp màu xanh cùng áo khoác bằng vải lanh, mái tóc vàng tết gọn chẳng hề điểm xuyết chút trang sức nào, khuôn mặt cô vẫn ánh lên vẻ nhẫn nại nhưng đượm buồn khôn tả. Bóng cô khuất dần. Chừng mười lăm phút sau, cô quay lại, mang theo chiếc xô nay đã lưng lửng sữa. Giữa lúc cô gái đang khó nhọc lết từng bước với gánh nặng trên đầu, một chàng trai bước ra đón cô. Nét mặt chàng hằn sâu một nỗi chán chường còn u ám hơn thế. Chàng thì thầm vài tiếng não nề, rồi đỡ lấy chiếc xô và tự tay xách vào túp lều. Cô gái nhẹ nhàng bước theo, rồi cả hai khuất dạng. Một lát sau, tôi lại thấy chàng trai ấy vác nông cụ băng qua cánh đồng sau nhà, trong khi cô gái tất bật ngược xuôi, lúc ở trong nhà, lúc lại ngoài khoảng sân nhỏ.
“Xem xét kỹ lưỡng chỗ ẩn nấp của mình, tôi nhận ra vách lều từng là một phần cửa sổ của ngôi nhà tranh kia, nay đã được bịt kín bằng những thanh gỗ. Ở một trong những tấm ván ấy có một kẽ hở hẹp đến mức khó lòng nhận ra, chỉ vừa vặn cho một ánh nhìn lọt qua. Xuyên qua kẽ hở ấy, tôi thu vào tầm mắt một căn phòng nhỏ nhắn, quét vôi trắng toát, dọn dẹp tươm tất nhưng đồ đạc lại trống trải, nghèo nàn. Ở một góc phòng, bên đống lửa leo lét, một ông cụ đang ngồi gục đầu vào tay trong một dáng vẻ ủ dột sầu thương. Cô gái trẻ loay hoay thu vén nhà cửa; lát sau, cô lấy từ ngăn kéo ra một món đồ thủ công, rồi lặng lẽ ngồi xuống cạnh ông cụ. Ông lão lúc này nâng một nhạc cụ lên và bắt đầu tấu khúc. Từng nốt nhạc vút lên, ngọt ngào và du dương hơn vạn tiếng hót của họa mi hay sơn ca. Khung cảnh ấy thật êm đềm, ngay cả với một kẻ khốn cùng bần tiện như tôi, một kẻ chưa từng biết đến cái đẹp trên đời! Mái tóc bạc phơ và khuôn mặt hiền từ của ông lão đã giành trọn lòng tôn kính trong tôi; trong khi sự e ấp, dịu hiền của cô gái lại đánh thức những xúc cảm yêu thương. Giai điệu ông cụ đang gảy mang một vẻ sầu thảm xót xa. Từ bao giờ, những giọt lệ đã lã chã tuôn rơi trên đôi mắt của cô gái đáng thương bên cạnh, thế nhưng ông lão mù lòa chẳng hề hay biết, cho đến khi cô bật khóc nức nở thành tiếng. Lúc bấy giờ, ông cất lên vài tiếng dỗ dành, và sinh linh xinh đẹp ấy buông thõng công việc, quỳ gục dưới chân cha. Ông lão dịu dàng nâng cô dậy, nở một nụ cười ấm áp đầy ắp tình thương. Khoảnh khắc ấy, tôi bàng hoàng cảm nhận một luồng xúc cảm kỳ lạ, mãnh liệt cuộn trào: đó là sự giao thoa đớn đau giữa niềm vui và nỗi buồn, những rung động sâu thẳm mà tôi chưa từng nếm trải, dẫu là cơn đói hay cái rét mướt, dẫu là hơi ấm hay miếng ăn; choáng ngợp trước những cảm xúc ấy, tôi vội vã tháo lui khỏi khung cửa sổ, chẳng dám ngắm nhìn thêm nữa.
“Một lát sau, chàng trai trở về, cõng trên lưng một bó củi nặng trĩu. Cô gái ra tận cửa đón anh, ân cần giúp anh gỡ bỏ gánh nặng, rồi nhặt vài thanh củi ném vào đống lửa; tiếp đó, cả hai lùi ra một góc nhà. Chàng trai giơ lên cho cô xem một ổ bánh mì lớn cùng một tảng pho mát. Nét mặt cô thoáng bừng lên niềm vui sướng; cô chạy ra vườn nhổ vội mớ củ rễ, rửa sạch rồi mang vùi vào đống lửa. Đoạn, cô quay lại với công việc dang dở, còn chàng trai thì ra vườn, tất bật đào xới đất đai. Chừng một giờ sau, cô gái bước ra phụ giúp anh, rồi cả hai cùng nhau sánh bước vào nhà.
“Suốt khoảng thời gian đó, ông cụ cứ mãi trầm ngâm; nhưng khi cảm nhận được sự hiện diện của hai đứa con, nét mặt ông bỗng tươi tắn hẳn lên, và cả nhà cùng ngồi xuống dùng bữa. Bữa ăn đạm bạc trôi qua chóng vánh. Cô gái lại dọn dẹp bát đĩa; còn ông cụ thì tựa vào tay chàng trai trẻ, chầm chậm tản bộ trước sân nhà dưới ánh nắng chan hòa. Chẳng còn gì tuyệt mỹ hơn vẻ tương phản giữa hai con người cao quý ấy. Một người đã bước vào tuổi xế chiều, mái tóc bạc trắng tựa cước, nét mặt bừng lên lòng nhân ái và tình yêu thương bao la; người kia là một chàng trai với dáng vóc thanh mảnh, cao ráo, từng đường nét trên khuôn mặt anh hoàn hảo đến vô ngần, dẫu vậy, ánh mắt và dáng điệu của anh lại nhuốm một màu u sầu cùng sự tuyệt vọng tận cùng. Ông cụ quay trở vào nhà; còn người thanh niên ấy lại vác theo những nông cụ khác với hồi sáng, cất bước đi về phía những cánh đồng xa.
“Màn đêm nhanh chóng buông màn tĩnh mịch; thế nhưng, trong sự ngỡ ngàng tột độ, tôi nhận ra những người nông dân nọ dường như có một phép màu để níu kéo ánh sáng bằng những ngọn nến le lói. Lòng tôi trào dâng một niềm vui sướng khôn tả khi biết rằng sự lặn đi của vầng thái dương chẳng thể tước mất niềm hân hoan được lén lút ngắm nhìn những người hàng xóm kỳ diệu. Đêm đến, cô gái trẻ cùng người bạn đồng hành lại tất bật với dăm ba công việc lạ lẫm mà trí óc ngu muội của tôi chẳng thể nào thấu hiểu. Kế đó, ông cụ mù lại cầm nhạc cụ lên, tấu nên những âm giai thần thánh từng mê hoặc hồn tôi từ dạo ban mai. Khúc nhạc vừa dứt, chàng trai liền cất tiếng. Chàng không chơi đàn, mà thốt lên những chuỗi âm thanh nhịp nhàng, đều đặn, chẳng mang sự giao hòa êm ái như ngón đàn của người cha, lại càng không giống tiếng chim muông ríu rít. Mãi sau này tôi mới vỡ lẽ ấy là lúc chàng đang cất giọng đọc, nhưng vào cái thuở hồng hoang tăm tối ấy, tôi nào biết đến thứ tri thức kỳ diệu của ngôn từ hay chữ nghĩa.
“Cả gia đình, sau một chốc lát quây quần bận rộn với những việc không tên, bèn dập tắt ánh sáng kia đi, và chìm vào giấc ngủ, như tôi thầm phỏng đoán.”
-
Thuật ngữ do nhà thơ người Anh John Milton sáng tạo trong sử thi 'Paradise Lost' (Thiên đường đã mất, 1667) để gọi tên thủ phủ của Địa ngục. Được ghép từ gốc Hy Lạp 'pan' (tất cả) và 'daimonion' (ác quỷ), mang nghĩa là nơi hội tụ của vạn quỷ. Việc tác giả so sánh túp lều với chốn này nhấn mạnh nghịch lý: một nơi tồi tàn lại trở thành thiên đường cứu rỗi đối với những kẻ khốn cùng. ↩
CHAPTER III.
“It is with considerable difficulty that I remember the original æra of my being: all the events of that period appear confused and indistinct. A strange multiplicity of sensations seized me, and I saw, felt, heard, and smelt, at the same time; and it was, indeed, a long time before I learned to distinguish between the operations of my various senses. By degrees, I remember, a stronger light pressed upon my nerves, so that I was obliged to shut my eyes. Darkness then came over me, and troubled me; but hardly had I felt this, when, by opening my eyes, as I now suppose, the light poured in upon me again. I walked, and, I believe, descended; but I presently found a great alteration in my sensations. Before, dark and opaque bodies had surrounded me, impervious to my touch or sight; but I now found that I could wander on at liberty, with no obstacles which I could not either surmount or avoid. The light became more and more oppressive to me; and, the heat wearying me as I walked, I sought a place where I could receive shade. This was the forest near Ingolstadt; and here I lay by the side of a brook resting from my fatigue, until I felt tormented by hunger and thirst. This roused me from my nearly dormant state, and I ate some berries which I found hanging on the trees, or lying on the ground. I slaked my thirst at the brook; and then lying down, was overcome by sleep.
“It was dark when I awoke; I felt cold also, and half-frightened as it were instinctively, finding myself so desolate. Before I had quitted your apartment, on a sensation of cold, I had covered myself with some clothes; but these were insufficient to secure me from the dews of night. I was a poor, helpless, miserable wretch; I knew, and could distinguish, nothing; but, feeling pain invade me on all sides, I sat down and wept.
“Soon a gentle light stole over the heavens, and gave me a sensation of pleasure. I started up, and beheld a radiant form rise from among the trees. I gazed with a kind of wonder. It moved slowly, but it enlightened my path; and I again went out in search of berries. I was still cold, when under one of the trees I found a huge cloak, with which I covered myself, and sat down upon the ground. No distinct ideas occupied my mind; all was confused. I felt light, and hunger, and thirst, and darkness; innumerable sounds rung in my ears, and on all sides various scents saluted me: the only object that I could distinguish was the bright moon, and I fixed my eyes on that with pleasure.
“Several changes of day and night passed, and the orb of night had greatly lessened when I began to distinguish my sensations from each other. I gradually saw plainly the clear stream that supplied me with drink, and the trees that shaded me with their foliage. I was delighted when I first discovered that a pleasant sound, which often saluted my ears, proceeded from the throats of the little winged animals who had often intercepted the light from my eyes. I began also to observe, with greater accuracy, the forms that surrounded me, and to perceive the boundaries of the radiant roof of light which canopied me. Sometimes I tried to imitate the pleasant songs of the birds, but was unable. Sometimes I wished to express my sensations in my own mode, but the uncouth and inarticulate sounds which broke from me frightened me into silence again.
“The moon had disappeared from the night, and again, with a lessened form, shewed itself, while I still remained in the forest. My sensations had, by this time, become distinct, and my mind received every day additional ideas. My eyes became accustomed to the light, and to perceive objects in their right forms; I distinguished the insect from the herb, and, by degrees, one herb from another. I found that the sparrow uttered none but harsh notes, whilst those of the blackbird and thrush were sweet and enticing.
“One day, when I was oppressed by cold, I found a fire which had been left by some wandering beggars, and was overcome with delight at the warmth I experienced from it. In my joy I thrust my hand into the live embers, but quickly drew it out again with a cry of pain. How strange, I thought, that the same cause should produce such opposite effects! I examined the materials of the fire, and to my joy found it to be composed of wood. I quickly collected some branches; but they were wet, and would not burn. I was pained at this, and sat still watching the operation of the fire. The wet wood which I had placed near the heat dried, and itself became inflamed. I reflected on this; and, by touching the various branches, I discovered the cause, and busied myself in collecting a great quantity of wood, that I might dry it, and have a plentiful supply of fire. When night came on, and brought sleep with it, I was in the greatest fear lest my fire should be extinguished. I covered it carefully with dry wood and leaves, and placed wet branches upon it; and then, spreading my cloak, I lay on the ground, and sunk into sleep.
“It was morning when I awoke, and my first care was to visit the fire. I uncovered it, and a gentle breeze quickly fanned it into a flame. I observed this also, and contrived a fan of branches, which roused the embers when they were nearly extinguished. When night came again, I found, with pleasure, that the fire gave light as well as heat; and that the discovery of this element was useful to me in my food; for I found some of the offals that the travellers had left had been roasted, and tasted much more savoury than the berries I gathered from the trees. I tried, therefore, to dress my food in the same manner, placing it on the live embers. I found that the berries were spoiled by this operation, and the nuts and roots much improved.
“Food, however, became scarce; and I often spent the whole day searching in vain for a few acorns to assuage the pangs of hunger. When I found this, I resolved to quit the place that I had hitherto inhabited, to seek for one where the few wants I experienced would be more easily satisfied. In this emigration, I exceedingly lamented the loss of the fire which I had obtained through accident, and knew not how to re-produce it. I gave several hours to the serious consideration of this difficulty; but I was obliged to relinquish all attempt to supply it; and, wrapping myself up in my cloak, I struck across the wood towards the setting sun. I passed three days in these rambles, and at length discovered the open country. A great fall of snow had taken place the night before, and the fields were of one uniform white; the appearance was disconsolate, and I found my feet chilled by the cold damp substance that covered the ground.
“It was about seven in the morning, and I longed to obtain food and shelter; at length I perceived a small hut, on a rising ground, which had doubtless been built for the convenience of some shepherd. This was a new sight to me; and I examined the structure with great curiosity. Finding the door open, I entered. An old man sat in it, near a fire, over which he was preparing his breakfast. He turned on hearing a noise; and, perceiving me, shrieked loudly, and, quitting the hut, ran across the fields with a speed of which his debilitated form hardly appeared capable. His appearance, different from any I had ever before seen, and his flight, somewhat surprised me. But I was enchanted by the appearance of the hut: here the snow and rain could not penetrate; the ground was dry; and it presented to me then as exquisite and divine a retreat as Pandæmonium appeared to the dæmons of hell after their sufferings in the lake of fire. I greedily devoured the remnants of the shepherd’s breakfast, which consisted of bread, cheese, milk, and wine; the latter, however, I did not like. Then overcome by fatigue, I lay down among some straw, and fell asleep.
“It was noon when I awoke; and, allured by the warmth of the sun, which shone brightly on the white ground, I determined to recommence my travels; and, depositing the remains of the peasant’s breakfast in a wallet I found, I proceeded across the fields for several hours, until at sunset I arrived at a village. How miraculous did this appear! the huts, the neater cottages, and stately houses, engaged my admiration by turns. The vegetables in the gardens, the milk and cheese that I saw placed at the windows of some of the cottages, allured my appetite. One of the best of these I entered; but I had hardly placed my foot within the door, before the children shrieked, and one of the women fainted. The whole village was roused; some fled, some attacked me, until, grievously bruised by stones and many other kinds of missile weapons, I escaped to the open country, and fearfully took refuge in a low hovel, quite bare, and making a wretched appearance after the palaces I had beheld in the village. This hovel, however, joined a cottage of a neat and pleasant appearance; but, after my late dearly-bought experience, I dared not enter it. My place of refuge was constructed of wood, but so low, that I could with difficulty sit upright in it. No wood, however, was placed on the earth, which formed the floor, but it was dry; and although the wind entered it by innumerable chinks, I found it an agreeable asylum from the snow and rain.
“Here then I retreated, and lay down, happy to have found a shelter, however miserable, from the inclemency of the season, and still more from the barbarity of man.
“As soon as morning dawned, I crept from my kennel, that I might view the adjacent cottage, and discover if I could remain in the habitation I had found. It was situated against the back of the cottage, and surrounded on the sides which were exposed by a pig-stye and a clear pool of water. One part was open, and by that I had crept in; but now I covered every crevice by which I might be perceived with stones and wood, yet in such a manner that I might move them on occasion to pass out: all the light I enjoyed came through the stye, and that was sufficient for me.
“Having thus arranged my dwelling, and carpeted it with clean straw, I retired; for I saw the figure of a man at a distance, and I remembered too well my treatment the night before, to trust myself in his power. I had first, however, provided for my sustenance for that day, by a loaf of coarse bread, which I purloined, and a cup with which I could drink, more conveniently than from my hand, of the pure water which flowed by my retreat. The floor was a little raised, so that it was kept perfectly dry, and by its vicinity to the chimney of the cottage it was tolerably warm.
“Being thus provided, I resolved to reside in this hovel, until something should occur which might alter my determination. It was indeed a paradise, compared to the bleak forest, my former residence, the rain-dropping branches, and dank earth. I ate my breakfast with pleasure, and was about to remove a plank to procure myself a little water, when I heard a step, and, looking through a small chink, I beheld a young creature, with a pail on her head, passing before my hovel. The girl was young and of gentle demeanour, unlike what I have since found cottagers and farm-house servants to be. Yet she was meanly dressed, a coarse blue petticoat and a linen jacket being her only garb; her fair hair was plaited, but not adorned; she looked patient, yet sad. I lost sight of her; and in about a quarter of an hour she returned, bearing the pail, which was now partly filled with milk. As she walked along, seemingly incommoded by the burden, a young man met her, whose countenance expressed a deeper despondence. Uttering a few sounds with an air of melancholy, he took the pail from her head, and bore it to the cottage himself. She followed, and they disappeared. Presently I saw the young man again, with some tools in his hand, cross the field behind the cottage; and the girl was also busied, sometimes in the house, and sometimes in the yard.
“On examining my dwelling, I found that one of the windows of the cottage had formerly occupied a part of it, but the panes had been filled up with wood. In one of these was a small and almost imperceptible chink, through which the eye could just penetrate. Through this crevice, a small room was visible, white-washed and clean, but very bare of furniture. In one corner, near a small fire, sat an old man, leaning his head on his hands in a disconsolate attitude. The young girl was occupied in arranging the cottage; but presently she took something out of a drawer, which employed her hands, and she sat down beside the old man, who, taking up an instrument, began to play, and to produce sounds, sweeter than the voice of the thrush or the nightingale. It was a lovely sight, even to me, poor wretch! who had never beheld aught beautiful before. The silver hair and benevolent countenance of the aged cottager, won my reverence; while the gentle manners of the girl enticed my love. He played a sweet mournful air, which I perceived drew tears from the eyes of his amiable companion, of which the old man took no notice, until she sobbed audibly; he then pronounced a few sounds, and the fair creature, leaving her work, knelt at his feet. He raised her, and smiled with such kindness and affection, that I felt sensations of a peculiar and over-powering nature: they were a mixture of pain and pleasure, such as I had never before experienced, either from hunger or cold, warmth or food; and I withdrew from the window, unable to bear these emotions.
“Soon after this the young man returned, bearing on his shoulders a load of wood. The girl met him at the door, helped to relieve him of his burden, and, taking some of the fuel into the cottage, placed it on the fire; then she and the youth went apart into a nook of the cottage, and he shewed her a large loaf and a piece of cheese. She seemed pleased; and went into the garden for some roots and plants, which she placed in water, and then upon the fire. She afterwards continued her work, whilst the young man went into the garden, and appeared busily employed in digging and pulling up roots. After he had been employed thus about an hour, the young woman joined him, and they entered the cottage together.
“The old man had, in the mean time, been pensive; but, on the appearance of his companions, he assumed a more cheerful air, and they sat down to eat. The meal was quickly dispatched. The young woman was again occupied in arranging the cottage; the old man walked before the cottage in the sun for a few minutes, leaning on the arm of the youth. Nothing could exceed in beauty the contrast between these two excellent creatures. One was old, with silver hairs and a countenance beaming with benevolence and love: the younger was slight and graceful in his figure, and his features were moulded with the finest symmetry; yet his eyes and attitude expressed the utmost sadness and despondency. The old man returned to the cottage; and the youth, with tools different from those he had used in the morning, directed his steps across the fields.
“Night quickly shut in; but, to my extreme wonder, I found that the cottagers had a means of prolonging light, by the use of tapers, and was delighted to find, that the setting of the sun did not put an end to the pleasure I experienced in watching my human neighbours. In the evening, the young girl and her companion were employed in various occupations which I did not understand; and the old man again took up the instrument, which produced the divine sounds that had enchanted me in the morning. So soon as he had finished, the youth began, not to play, but to utter sounds that were monotonous, and neither resembling the harmony of the old man’s instrument or the songs of the birds; I since found that he read aloud, but at that time I knew nothing of the science of words or letters.
“The family, after having been thus occupied for a short time, extinguished their lights, and retired, as I conjectured, to rest.”