BỨC THƯ THỨ TƯ
Gửi chị Saville, Anh quốc.
Ngày 5 tháng Tám, năm 17-.
Một sự cố kỳ lạ đã xảy đến với đoàn chúng em. Câu chuyện khó tin đến mức em thấy mình buộc phải ghi chép lại, dù rất có thể chị sẽ gặp em trước cả khi những dòng thư này vượt biển đến tay chị.
Thứ Hai tuần trước (ngày 31 tháng Bảy), con tàu của chúng em dường như bị băng giá cô lập tứ bề, chỉ còn chừa lại một khoảnh nước chật hẹp để lênh đênh. Tình thế lúc đó muôn phần hiểm nghèo, sương mù lại kéo đến bủa vây mù mịt. Chẳng còn cách nào khác, chúng em đành thả neo nằm chờ, nuôi hy vọng thời tiết và bầu không khí sẽ đôi chút khởi sắc.
Khoảng hai giờ chiều, màn sương tan dần. Giờ đây, trải dài trước mắt chúng em là những cánh đồng băng khổng lồ, gồ ghề nhấp nhô đến tận chân trời. Vài người đồng đội khẽ buông tiếng thở dài tuyệt vọng, và chính tâm trí em cũng bắt đầu gợn lên những dự cảm lo âu. Đúng lúc ấy, một cảnh tượng vô cùng kỳ dị đột ngột đập vào mắt mọi người, khiến chúng em phút chốc quên bẵng đi nghịch cảnh hiện tại. Chúng em trông thấy một cỗ xe gầm thấp trượt trên mặt băng, do một bầy chó kéo, đang lao vun vút về hướng bắc cách đó chừng nửa dặm. Ngồi trên xe và trực tiếp điều khiển bầy chó là một sinh vật mang vóc dáng con người, nhưng lại mang thân hình khổng lồ dị thường. Cả đám dùng kính viễn vọng dõi theo hành trình di chuyển chớp nhoáng của gã lữ hành ấy, cho đến khi bóng dáng hắn mất hút giữa muôn trùng gò băng nhấp nhô phía xa.
Sự xuất hiện chớp nhoáng này để lại trong chúng em một nỗi sững sờ không thốt nên lời. Em từng đinh ninh rằng đoàn mình đang lênh đênh cách đất liền hàng trăm dặm, nhưng ảo ảnh vừa rồi dường như là điềm báo rằng bờ cõi không hề xa xôi như chúng em vẫn tưởng. Tuy nhiên, do bị băng phong tỏa, chúng em chẳng thể nào lần theo dấu vết kẻ đó, dẫu đã vắt kiệt tầm mắt để kiếm tìm.
Khoảng hai giờ sau sự kiện kỳ lạ ấy, tiếng sóng biển bắt đầu gầm gào. Trước khi màn đêm kịp buông xuống, lớp băng vỡ toác, giải phóng con tàu khỏi chốn ngục tù giá lạnh. Dẫu vậy, chúng em vẫn đành thả trôi tàu chờ đến sáng, bởi bóng đêm che khuất những tảng băng khổng lồ trôi dạt tự do, rất dễ gây ra va chạm thảm khốc. Em đành chợp mắt vài giờ trong khoảng thời gian chờ đợi ấy.
Thế nhưng, vào buổi sáng, ngay khi những tia nắng đầu tiên vừa hé rạng, em bước lên boong thì thấy đám thủy thủ đang xúm xít bên mạn tàu, dường như đang lao xao chuyện trò với ai đó dưới biển. Nhìn xuống, em nhận ra một cỗ xe trượt hệt như chiếc chúng em đã thấy ban chiều, hẳn đã trôi dạt về phía con tàu ngay trong đêm trên một tảng băng trôi. Đàn chó đã bỏ mạng gần hết, chỉ còn trơ trọi một con sống sót. Nhưng bên trong xe lại có một người đàn ông, và đám thủy thủ đang dùng đủ mọi lời lẽ để khuyên nhủ anh ta lên tàu. Kỳ lạ thay, anh ta chẳng hề mang dáng vẻ hoang dại của gã lữ hành khổng lồ kia, cũng chẳng giống cư dân của một hòn đảo chưa từng được biết đến, mà đích thị là một người châu Âu. Ngay khi em vừa bước tới, vị thuyền phó vội vàng cất tiếng: "Thuyền trưởng của chúng tôi đây rồi, ngài ấy sẽ không để ngài phải bỏ mạng giữa biển khơi đâu."
Vừa nhận ra em, người lạ mặt cất tiếng hỏi bằng tiếng Anh, dẫu pha chút âm điệu xứ người: "Trước khi bước lên tàu của anh, anh có thể vui lòng cho tôi biết các anh đang trực chỉ hướng nào không?"
Chị có thể hình dung được em đã sửng sốt thế nào khi nghe một câu hỏi như vậy thốt ra từ miệng kẻ đang mấp mé bên bờ vực tử thần. Em từng ngỡ anh ta phải coi con tàu này là chiếc phao cứu sinh vô giá, dẫu mang cả núi vàng ra cũng chẳng màng đổi lấy. Dù vậy, em vẫn điềm tĩnh đáp rằng chúng em đang thực hiện chuyến hải trình khám phá hướng về Bắc cực1.
Nghe vậy, vẻ mặt anh ta giãn ra đôi chút và ưng thuận lên tàu. Lạy Chúa! Chị Margaret, nếu chị tận mắt chứng kiến cái gã vừa mới cò kè mặc cả sự an nguy của chính mình ấy, hẳn chị sẽ đi từ ngạc nhiên này đến sững sờ khác. Tứ chi anh ta gần như đông cứng lại, còn cơ thể thì tiều tụy đến mức thảm thương bởi mệt mỏi và đau đớn đọa đày. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ, em chưa từng thấy một sinh linh nào rơi vào thảm cảnh cùng cực đến vậy. Chúng em xốc anh ta lên, định đưa vào khoang tàu, nhưng ngay khi rời khỏi bầu không khí thoáng đãng, anh ta lập tức lịm đi. Cả đám đành hớt hải khiêng anh ta trở ra boong, lấy rượu brandy chà xát khắp cơ thể2 mong gọi anh ta tỉnh lại, rồi cạy miệng ép anh ta nuốt vài ngụm. Ngay khi sự sống vừa nhen nhóm trở lại, chúng em vội vã ủ ấm anh ta bằng chăn nệm và đặt nằm cạnh ống khói lò sưởi nhà bếp. Chút hơi ấm và bát súp nóng hổi đã vực dậy sinh lực anh ta một cách diệu kỳ.
Phải mất ròng rã hai ngày trời, anh ta mới có thể bập bẹ thốt nên lời. Em từng thầm lo sợ rằng nỗi đau đớn tột cùng đã tước đoạt đi chút lý trí mong manh của anh ta. Ngay khi sức khỏe anh ta có chút khởi sắc, em liền đưa anh ta về khoang riêng của mình và tận tình chăm sóc trong chừng mực bổn phận cho phép. Chị biết không, em chưa từng gặp một con người nào mang dáng vẻ kỳ lạ và đầy sức hút đến thế. Đôi mắt anh ta thường hằn lên nét hoang dại, có lúc tưởng chừng như điên loạn. Thế nhưng, chỉ cần ai đó vô tình trao cho anh ta một cử chỉ ân cần, hay giúp đỡ một việc vặt vãnh, cả khuôn mặt anh ta lại bừng sáng lên. Ánh sáng ấy rạng rỡ và thuần khiết, tỏa ra từ lòng nhân ái và sự dịu dàng hiếm có mà em chưa từng thấy nơi ai. Nhưng phần lớn thời gian, bóng đen u sầu và tuyệt vọng luôn phủ kín tâm hồn anh ta. Thỉnh thoảng, anh ta lại nghiến răng trèo trẹo, như thể sức nặng của những bi kịch đang cào xé tâm can đến mức không thể nào chịu đựng nổi.
Khi người khách của em dần hồi phục, em đã phải vô cùng nhọc nhằn mới ngăn được đám thủy thủ hiếu kỳ vây quanh anh ta với hàng vạn câu hỏi. Em không muốn anh ta bị quấy rầy bởi sự tò mò vô bổ ấy, nhất là khi sự sống và lý trí của anh ta lúc này phụ thuộc hoàn toàn vào một bầu không gian tĩnh lặng tuyệt đối. Dẫu vậy, có lần viên trung úy tò mò cất tiếng hỏi: vì cớ gì ngài lại lặn lội đến tận nơi khỉ ho cò gáy này bằng một phương tiện kỳ quái đến vậy?
Sắc mặt anh ta tức thì sầm xuống, tối tăm tột độ. Anh ta gằn từng tiếng: "Để săn lùng kẻ đó... kẻ đã chạy trốn khỏi tôi."
"Và người mà ngài đang đuổi theo cũng di chuyển bằng phương tiện tương tự sao?"
"Đúng vậy."
"Vậy thì tôi e là chúng tôi đã nhìn thấy hắn. Ngay ngày hôm trước khi cứu ngài, chúng tôi đã thấy một cỗ xe do bầy chó kéo, chở một gã khổng lồ lao vun vút trên mặt băng."
Lời nói vô tình ấy lập tức xoáy sâu vào tâm trí người lạ mặt. Anh ta dồn dập hỏi về hướng đi của con ác quỷ - đúng như cách anh ta gọi. Một lát sau, khi xung quanh chỉ còn lại hai người, anh ta khẽ nói: "Hẳn là tôi đã khơi dậy sự tò mò của anh, cũng như của những con người tốt bụng kia. Nhưng anh quá đỗi tinh tế để không gặng hỏi thêm."
"Chắc chắn rồi. Sẽ thật vô tâm và tọc mạch nếu tôi dùng sự tò mò của mình để quấy rầy anh."
"Vậy mà anh đã không ngại ngần cứu tôi khỏi tình cảnh hiểm nghèo nơi đất khách. Nhờ lòng tốt của anh mà mạng sống tôi được đoạt lại từ tay tử thần."
Ngay sau đó, anh ta bồn chồn hỏi liệu em có nghĩ rằng lớp băng vỡ đã nghiền nát cỗ xe kia không. Em đáp rằng mình không thể đưa ra bất cứ kết luận nào chắc chắn, bởi tận nửa đêm băng mới nứt vỡ. Rất có thể kẻ lữ hành kia đã tìm được nơi trú ẩn an toàn trước thời khắc ấy. Về chuyện này, em thực sự không dám phán đoán.
Từ khoảnh khắc ấy, người lạ mặt bồn chồn không yên, thao thức khao khát được lên boong tàu để ngóng tìm cỗ xe bí ẩn kia. Nhưng em đã ra sức khuyên can anh ta ở lại trong khoang, bởi cơ thể gầy gò ấy còn quá yếu ớt để chống chọi với cái lạnh thấu xương. Bù lại, em hứa sẽ cắt cử người canh gác thay anh ta, và báo tin ngay lập tức nếu có bất cứ bóng dáng nào lọt vào tầm mắt.
Đó là những gì em ghi chép lại trong nhật ký về sự việc kỳ lạ này cho đến tận ngày hôm nay. Sức khỏe của người lạ mặt đã dần khởi sắc, nhưng anh ta vẫn hết mực kiệm lời và tỏ ra cảnh giác cao độ mỗi khi có ai, ngoài em, lảng vảng quanh khoang tàu. Bù lại, thái độ của anh ta lại vô cùng ôn hòa và nhã nhặn, khiến tất cả thủy thủ đều đem lòng thương mến, dẫu họ hiếm khi có cơ hội trò chuyện cùng anh ta. Về phần mình, em nhận ra mình đã dần coi anh ta như một người anh em ruột thịt. Nỗi đau buồn tột cùng, sâu thẳm hằn in trong mắt anh ta không ngừng khơi dậy trong em một niềm đồng cảm và thương xót vô bờ. Hẳn trong những tháng ngày tươi đẹp quá khứ, anh ta từng là một con người vô cùng cao quý. Bởi dẫu hiện tại đang mang một bộ dạng tàn tạ khốn khổ, ở anh ta vẫn toát lên một sức hút kỳ lạ, khiến người ta không thể không yêu mến.
Chị Margaret thân mến, trong một bức thư trước đây em từng viết rằng mình sẽ chẳng thể nào tìm được một người tri kỷ giữa đại dương mênh mông này. Vậy mà giờ đây, định mệnh lại mang đến cho em một người bạn đồng hành. Em chỉ ước sao có thể gặp anh ta trước khi tâm hồn cao đẹp ấy bị tàn phá bởi sự khốn cùng. Nếu được vậy, em hẳn đã vô cùng hạnh phúc khi được gắn bó với anh ta như tình anh em máu mủ.
Em sẽ tiếp tục nán lại những dòng nhật ký về người khách lạ mặt này vào mỗi lúc rảnh rỗi, hễ có bất cứ tình tiết mới nào xảy đến.
Ngày 13 tháng Tám, năm 17-.
Tình cảm em dành cho vị khách lạ cứ lớn dần lên theo ngày tháng. Ở anh toát ra một thứ sức mạnh khơi dậy trong em cả lòng ngưỡng mộ tột bậc lẫn niềm xót xa vô ngần. Chị ơi, làm sao em có thể trơ mắt nhìn một linh hồn cao quý dường ấy lại bị giam cầm trong tận cùng khốn khổ mà không thấy quặn thắt tâm can? Bản tính anh hiền hòa nhưng trí tuệ lại vô cùng sắc sảo; tâm trí anh chứa đựng một sự uyên bác kỳ lạ. Và mỗi khi anh cất lời, dẫu ngôn từ được gọt giũa tỉ mỉ đến đâu, chúng vẫn cứ tuôn trào cuồn cuộn với một sự hùng hồn không gì sánh kịp.
Giờ đây, khi sức khỏe đã dần hồi phục sau bạo bệnh, anh lại mải miết đứng trên boong tàu, ánh mắt xa xăm như muốn đuổi theo dấu vết của cỗ xe trượt tuyết kia. Thế nhưng, mặc cho bao bất hạnh bủa vây, anh chưa từng để bản thân bị nhấn chìm hoàn toàn vào bể khổ cá nhân, mà vẫn ân cần để tâm đến công việc của những người xung quanh. Anh thường hỏi han về những dự định của em; và em cũng đã thành thực trải lòng kể anh nghe về chặng đường nhỏ nhoi trong đời mình. Đáp lại sự tin tưởng đó, anh tỏ ra rất đỗi hài lòng, thậm chí còn đưa ra vài lời khuyên điều chỉnh cho kế hoạch của em - những góp ý mà em thấy thực sự vô giá. Thái độ của anh chẳng mảy may mang nét phô trương học thức; mọi cử chỉ dường như đều xuất phát từ lòng trắc ẩn và sự quan tâm thuần túy đối với an nguy của đồng loại.
Dẫu vậy, những cơn sầu muộn thi thoảng vẫn tìm đến bủa vây lấy anh. Khi đó, anh thường thu mình lại một góc, một thân một mình gắng gượng vượt qua cơn ủ dột và né tránh mọi ánh nhìn. Những giây phút u uất ấy lướt qua anh như đám mây đen vội vã che lấp mặt trời, dù rằng vẻ u sầu vốn dĩ chưa từng buông tha khuôn mặt ấy. Em đã gắng hết sức để giành lấy sự tin tưởng từ anh; và em tin mình đã làm được. Có một bận, em bộc bạch với anh khao khát vẫn hằng ấp ủ về một người bạn tri kỷ, một người đủ thấu hiểu để đồng cảm và đủ thông thái để dẫn dắt em trên hành trình phía trước. Em thẳng thắn thừa nhận mình chẳng phải kẻ nhỏ nhen dễ phật ý trước những lời răn dạy. "Tôi chỉ là kẻ tự học thành tài, thế nên đôi khi tôi chưa đủ niềm tin vào chính năng lực của mình," em nói với anh. "Vì lẽ đó, tôi vẫn luôn mong mỏi một người bạn đồng hành khôn ngoan và dạn dày sương gió hơn tôi, một người có thể nâng đỡ và tiếp thêm sức mạnh cho tôi. Và tôi chưa từng nguôi hy vọng rằng một tình bạn chân chính như thế là điều hoàn toàn có thể tìm thấy trên cõi đời này."
"Tôi hoàn toàn chia sẻ suy nghĩ đó với anh," người khách lạ khẽ đáp lời, "khi anh tin rằng tình bạn không chỉ là một giấc mộng đẹp mà còn là điều ta có thể chạm tay tới. Tôi cũng từng có một người bạn, một sinh thể cao quý nhất trên thế gian này, thế nên tôi mới dám lạm bàn về sự thiêng liêng của tình tri kỷ. Anh vẫn còn nguyên đó niềm hy vọng, cả một thế giới rộng lớn đang trải dài trước mắt anh, và chẳng có lý do gì khiến anh phải chìm trong tuyệt vọng. Còn tôi... tôi thì đã đánh mất tất cả, và vĩnh viễn chẳng thể nào làm lại cuộc đời."
Vừa dứt lời, gương mặt anh thoáng hiện lên một nỗi đau tĩnh lặng mà sâu thẳm khôn cùng, khiến trái tim em như bị bóp nghẹt. Thế rồi anh lại chìm vào câm lặng, và ngay lập tức xoay bước quay về khoang nghỉ của mình.
Nhưng chị ơi, dẫu cho tinh thần có vỡ vụn đến nhường nào, thì có lẽ trên đời này chẳng ai thấu cảm vẻ đẹp của tạo hóa sâu sắc được như anh. Từ bầu trời đầy sao lấp lánh, mặt biển mênh mông, cho đến từng cảnh sắc rực rỡ hiện lên giữa vùng đất diệu kỳ này, tất cả dường như đều mang một sức mạnh mầu nhiệm, đủ sức nâng đỡ tâm hồn anh bay lên khỏi chốn trần ai. Một con người như thế cứ như đang ôm trọn trong mình hai cõi nhân sinh đối lập: một mặt, anh oằn mình gánh chịu những thống khổ khôn cùng và bị chôn vùi dưới tầng sâu của sự tuyệt vọng; mặt khác, một khi đã rút về thế giới nội tâm của riêng mình, anh lại hiện lên như một linh hồn thanh khiết, tỏa ra một quầng sáng thánh thiện mà ở nơi ranh giới ấy, chẳng một niềm đau hay sự tăm tối nào dám bén mảng xâm phạm.
Chị có đang mỉm cười chế nhạo sự nhiệt thành thái quá mà em dành cho con người lang bạt đầy vẻ thánh thần này không? Nếu có, thì hẳn là chị đã đánh rơi mất nét mộc mạc, thứ từng làm nên sức quyến rũ riêng biệt của chị mất rồi. Dẫu vậy, nếu chị muốn, xin hãy cứ mỉm cười trước những lời lẽ đầy say sưa của em, bởi lẽ mỗi ngày trôi qua, em lại càng tìm thấy thêm vô vàn lý do để không ngừng ca ngợi anh ấy.
Ngày 19 tháng Tám, năm 17-.
Hôm qua, người khách lạ mặt đã thổ lộ với em: "Thuyền trưởng Walton, hẳn anh cũng dễ dàng nhận ra, tôi đã phải gánh chịu những bi kịch tàn khốc chưa từng có trên cõi đời này. Đã có lúc tôi đinh ninh rằng, bóng ma của những tai ương kia sẽ mãi mãi bị chôn vùi dưới nấm mồ cùng thân xác tôi; nhưng chính anh đã khiến tôi thay đổi tâm ý. Anh đang cháy bỏng cơn khát tri thức và sự minh triết, hệt như tôi thuở nào; và tôi tha thiết khẩn cầu rằng, việc thỏa mãn những cuồng vọng ấy sẽ không hóa thành một con rắn độc quay lại cắn nát tâm can anh, như nó đã từng tàn phá chính tôi. Tôi chẳng rõ liệu việc khơi lại thảm kịch đời mình có mang đến cho anh chút ích lợi nào không, nhưng nếu anh sẵn lòng, xin hãy lắng nghe. Tôi tin chắc rằng những biến cố dị thường chất chứa trong đó sẽ mở ra một chiều kích mới về tạo hóa, đủ sức nới rộng ranh giới nhận thức và sự hiểu biết của anh. Anh sẽ được nghe về những thế lực cùng những sự kiện mà trước nay anh luôn cho là viển vông, vô lý: thế nhưng, tôi không mảy may nghi ngờ rằng từng tình tiết của câu chuyện sẽ tự mình mang theo những minh chứng sâu sắc nhất về sự thật kinh hoàng đã kiến tạo nên chúng."
Chị có thể dễ dàng hình dung em đã mãn nguyện đến nhường nào trước lời đề nghị ấy; song, em cũng không đành lòng để anh ta phải tự tay cứa lại vào vết thương rỉ máu khi hồi tưởng về những ngày tháng bi đát. Em cồn cào khao khát được nghe câu chuyện đã hứa, một phần vì trí tò mò khó cưỡng, nhưng phần lớn là vì niềm mong mỏi cháy bỏng muốn được xoa dịu phần nào số phận cay nghiệt của anh ta, nếu điều đó vẫn còn nằm trong giới hạn khả năng của em. Em đã bộc bạch hết thảy những tâm tư này trong lời đáp của mình.
"Tôi cảm tạ anh," anh ta trầm ngâm đáp, "vì lòng trắc ẩn lớn lao ấy, nhưng tất cả giờ đã là vô vọng; số phận của tôi gần như đã an bài. Tôi chỉ còn mòn mỏi chờ đợi một sự kiện duy nhất cuối cùng này nữa thôi, và rồi tôi sẽ được chìm vào cõi an nghỉ vĩnh hằng. Tôi thấu hiểu tấm chân tình của anh," anh ta nói tiếp, dường như nhận ra em đang trực chờ ngắt lời; "nhưng anh lầm rồi, người anh em của tôi, nếu anh cho phép tôi được gọi anh bằng danh xưng ấy; không một thế lực nào có thể xoay chuyển được bánh xe định mệnh của tôi nữa: hãy lắng nghe câu chuyện này, và anh sẽ tự mình thấu tỏ rằng số phận ấy đã bị ấn định một cách tuyệt vọng và không thể vãn hồi ra sao."
Sau đó, anh ta hẹn sẽ bắt đầu kể lại cuộc đời mình vào ngày hôm sau, bất cứ khi nào em rảnh rỗi. Lời hứa ấy đã nhận lại từ em những lời triân thành kính nhất. Em đã tự nhủ với lòng, mỗi khi màn đêm buông xuống và công việc buông tha cho tâm trí, em sẽ cẩn thận ghi chép lại mọi điều anh ta kể trong ngày, sát sao nhất với từng câu chữ thốt ra từ miệng anh ta. Giả như quá bận rộn, ít nhất em cũng sẽ vạch lại những ghi chú cốt lõi. Bản thảo này, em tin chắc chắn sẽ mang đến cho chị niềm say mê vô tận: nhưng với riêng em, người thấu hiểu anh ta, người đã trực tiếp đón nhận từng âm vang từ chính giọng nói của anh ta, thì mai này khi đọc lại, nó sẽ còn khơi gợi trong em biết bao niềm rung cảm và sự xót thương sâu sắc đến nhường nào!
-
Vào thế kỷ 18, Bắc Cực vẫn là một vùng đất chưa được khám phá. Các chuyến hải trình thời kỳ này mang khát vọng khoa học mãnh liệt, thường nhằm tìm kiếm Tuyến đường biển Tây Bắc (Northwest Passage) hoặc kiểm chứng giả thuyết về một vùng biển cực không đóng băng (Open Polar Sea). ↩
-
Trong y học hải quân thế kỷ 18 và 19, rượu brandy được sử dụng phổ biến như một chất kích thích cấp cứu. Việc chà xát rượu mạnh lên da những nạn nhân bị chết cóng được tin là giúp phục hồi tuần hoàn máu và làm ấm cơ thể nhanh chóng. ↩
LETTER IV.
To Mrs. Saville, England.
August 5th, 17-.
So strange an accident has happened to us, that I cannot forbear recording it, although it is very probable that you will see me before these papers can come into your possession.
Last Monday (July 31st), we were nearly surrounded by ice, which closed in the ship on all sides, scarcely leaving her the sea room in which she floated. Our situation was somewhat dangerous, especially as we were compassed round by a very thick fog. We accordingly lay to, hoping that some change would take place in the atmosphere and weather.
About two o’clock the mist cleared away, and we beheld, stretched out in every direction, vast and irregular plains of ice, which seemed to have no end. Some of my comrades groaned, and my own mind began to grow watchful with anxious thoughts, when a strange sight suddenly attracted our attention, and diverted our solicitude from our own situation. We perceived a low carriage, fixed on a sledge and drawn by dogs, pass on towards the north, at the distance of half a mile: a being which had the shape of a man, but apparently of gigantic stature, sat in the sledge, and guided the dogs. We watched the rapid progress of the traveller with our telescopes, until he was lost among the distant inequalities of the ice.
This appearance excited our unqualified wonder. We were, as we believed, many hundred miles from any land; but this apparition seemed to denote that it was not, in reality, so distant as we had supposed. Shut in, however, by ice, it was impossible to follow his track, which we had observed with the greatest attention.
About two hours after this occurrence, we heard the ground sea; and before night the ice broke, and freed our ship. We, however, lay to until the morning, fearing to encounter in the dark those large loose masses which float about after the breaking up of the ice. I profited of this time to rest for a few hours.
In the morning, however, as soon as it was light, I went upon deck, and found all the sailors busy on one side of the vessel, apparently talking to some one in the sea. It was, in fact, a sledge, like that we had seen before, which had drifted towards us in the night, on a large fragment of ice. Only one dog remained alive; but there was a human being within it, whom the sailors were persuading to enter the vessel. He was not, as the other traveller seemed to be, a savage inhabitant of some undiscovered island, but an European. When I appeared on deck, the master said, “Here is our captain, and he will not allow you to perish on the open sea.”
On perceiving me, the stranger addressed me in English, although with a foreign accent. “Before I come on board your vessel,” said he, “will you have the kindness to inform me whither you are bound?”
You may conceive my astonishment on hearing such a question addressed to me from a man on the brink of destruction, and to whom I should have supposed that my vessel would have been a resource which he would not have exchanged for the most precious wealth the earth can afford. I replied, however, that we were on a voyage of discovery towards the northern pole.
Upon hearing this he appeared satisfied, and consented to come on board. Good God! Margaret, if you had seen the man who thus capitulated for his safety, your surprise would have been boundless. His limbs were nearly frozen, and his body dreadfully emaciated by fatigue and suffering. I never saw a man in so wretched a condition. We attempted to carry him into the cabin; but as soon as he had quitted the fresh air, he fainted. We accordingly brought him back to the deck, and restored him to animation by rubbing him with brandy, and forcing him to swallow a small quantity. As soon as he shewed signs of life, we wrapped him up in blankets, and placed him near the chimney of the kitchen-stove. By slow degrees he recovered, and ate a little soup, which restored him wonderfully.
Two days passed in this manner before he was able to speak; and I often feared that his sufferings had deprived him of understanding. When he had in some measure recovered, I removed him to my own cabin, and attended on him as much as my duty would permit. I never saw a more interesting creature: his eyes have generally an expression of wildness, and even madness; but there are moments when, if any one performs an act of kindness towards him, or does him any the most trifling service, his whole countenance is lighted up, as it were, with a beam of benevolence and sweetness that I never saw equalled. But he is generally melancholy and despairing; and sometimes he gnashes his teeth, as if impatient of the weight of woes that oppresses him.
When my guest was a little recovered, I had great trouble to keep off the men, who wished to ask him a thousand questions; but I would not allow him to be tormented by their idle curiosity, in a state of body and mind whose restoration evidently depended upon entire repose. Once, however, the lieutenant asked, Why he had come so far upon the ice in so strange a vehicle?
His countenance instantly assumed an aspect of the deepest gloom; and he replied, “To seek one who fled from me.”
“And did the man whom you pursued travel in the same fashion?”
“Yes.”
“Then I fancy we have seen him; for, the day before we picked you up, we saw some dogs drawing a sledge, with a man in it, across the ice.”
This aroused the stranger’s attention; and he asked a multitude of questions concerning the route which the dæmon, as he called him, had pursued. Soon after, when he was alone with me, he said, “I have, doubtless, excited your curiosity, as well as that of these good people; but you are too considerate to make inquiries.”
“Certainly; it would indeed be very impertinent and inhuman in me to trouble you with any inquisitiveness of mine.”
“And yet you rescued me from a strange and perilous situation; you have benevolently restored me to life.”
Soon after this he inquired, if I thought that the breaking up of the ice had destroyed the other sledge? I replied, that I could not answer with any degree of certainty; for the ice had not broken until near midnight, and the traveller might have arrived at a place of safety before that time; but of this I could not judge.
From this time the stranger seemed very eager to be upon deck, to watch for the sledge which had before appeared; but I have persuaded him to remain in the cabin, for he is far too weak to sustain the rawness of the atmosphere. But I have promised that some one should watch for him, and give him instant notice if any new object should appear in sight.
Such is my journal of what relates to this strange occurrence up to the present day. The stranger has gradually improved in health, but is very silent, and appears uneasy when any one except myself enters his cabin. Yet his manners are so conciliating and gentle, that the sailors are all interested in him, although they have had very little communication with him. For my own part, I begin to love him as a brother; and his constant and deep grief fills me with sympathy and compassion. He must have been a noble creature in his better days, being even now in wreck so attractive and amiable.
I said in one of my letters, my dear Margaret, that I should find no friend on the wide ocean; yet I have found a man who, before his spirit had been broken by misery, I should have been happy to have possessed as the brother of my heart.
I shall continue my journal concerning the stranger at intervals, should I have any fresh incidents to record.
August 13th, 17-.
My affection for my guest increases every day. He excites at once my admiration and my pity to an astonishing degree. How can I see so noble a creature destroyed by misery without feeling the most poignant grief? He is so gentle, yet so wise; his mind is so cultivated; and when he speaks, although his words are culled with the choicest art, yet they flow with rapidity and unparalleled eloquence.
He is now much recovered from his illness, and is continually on the deck, apparently watching for the sledge that preceded his own. Yet, although unhappy, he is not so utterly occupied by his own misery, but that he interests himself deeply in the employments of others. He has asked me many questions concerning my design; and I have related my little history frankly to him. He appeared pleased with the confidence, and suggested several alterations in my plan, which I shall find exceedingly useful. There is no pedantry in his manner; but all he does appears to spring solely from the interest he instinctively takes in the welfare of those who surround him. He is often overcome by gloom, and then he sits by himself, and tries to overcome all that is sullen or unsocial in his humour. These paroxysms pass from him like a cloud from before the sun, though his dejection never leaves him. I have endeavoured to win his confidence; and I trust that I have succeeded. One day I mentioned to him the desire I had always felt of finding a friend who might sympathize with me, and direct me by his counsel. I said, I did not belong to that class of men who are offended by advice. “I am self-educated, and perhaps I hardly rely sufficiently upon my own powers. I wish therefore that my companion should be wiser and more experienced than myself, to confirm and support me; nor have I believed it impossible to find a true friend.”
“I agree with you,” replied the stranger, “in believing that friendship is not only a desirable, but a possible acquisition. I once had a friend, the most noble of human creatures, and am entitled, therefore, to judge respecting friendship. You have hope, and the world before you, and have no cause for despair. But I--I have lost every thing, and cannot begin life anew.”
As he said this, his countenance became expressive of a calm settled grief, that touched me to the heart. But he was silent, and presently retired to his cabin.
Even broken in spirit as he is, no one can feel more deeply than he does the beauties of nature. The starry sky, the sea, and every sight afforded by these wonderful regions, seems still to have the power of elevating his soul from earth. Such a man has a double existence: he may suffer misery, and be overwhelmed by disappointments; yet when he has retired into himself, he will be like a celestial spirit, that has a halo around him, within whose circle no grief or folly ventures.
Will you laugh at the enthusiasm I express concerning this divine wanderer? If you do, you must have certainly lost that simplicity which was once your characteristic charm. Yet, if you will, smile at the warmth of my expressions, while I find every day new causes for repeating them.
August 19th, 17-.
Yesterday the stranger said to me, “You may easily perceive, Captain Walton, that I have suffered great and unparalleled misfortunes. I had determined, once, that the memory of these evils should die with me; but you have won me to alter my determination. You seek for knowledge and wisdom, as I once did; and I ardently hope that the gratification of your wishes may not be a serpent to sting you, as mine has been. I do not know that the relation of my misfortunes will be useful to you, yet, if you are inclined, listen to my tale. I believe that the strange incidents connected with it will afford a view of nature, which may enlarge your faculties and understanding. You will hear of powers and occurrences, such as you have been accustomed to believe impossible: but I do not doubt that my tale conveys in its series internal evidence of the truth of the events of which it is composed.”
You may easily conceive that I was much gratified by the offered communication; yet I could not endure that he should renew his grief by a recital of his misfortunes. I felt the greatest eagerness to hear the promised narrative, partly from curiosity, and partly from a strong desire to ameliorate his fate, if it were in my power. I expressed these feelings in my answer.
“I thank you,” he replied, “for your sympathy, but it is useless; my fate is nearly fulfilled. I wait but for one event, and then I shall repose in peace. I understand your feeling,” continued he, perceiving that I wished to interrupt him; “but you are mistaken, my friend, if thus you will allow me to name you; nothing can alter my destiny: listen to my history, and you will perceive how irrevocably it is determined.”
He then told me, that he would commence his narrative the next day when I should be at leisure. This promise drew from me the warmest thanks. I have resolved every night, when I am not engaged, to record, as nearly as possible in his own words, what he has related during the day. If I should be engaged, I will at least make notes. This manuscript will doubtless afford you the greatest pleasure: but to me, who know him, and who hear it from his own lips, with what interest and sympathy shall I read it in some future day!