CHƯƠNG II.

Năm tôi mười bảy tuổi, cha mẹ quyết định cho tôi theo học tại Đại học Ingolstadt1. Cho đến tận lúc ấy, tôi vẫn chỉ quẩn quanh với trường lớp ở Geneva; thế nhưng cha tôi lại tin rằng để hoàn thiện con đường học vấn, tôi cần phải bước ra ngoài, làm quen với những lề thói vượt khỏi ranh giới quê nhà. Vậy nên, ngày tôi khởi hành đã được ấn định từ sớm. Chẳng ai ngờ, trước khi ngày ấy kịp đến, bất hạnh đầu tiên trong đời đã giáng xuống đầu tôi-tựa hồ một điềm báo oan nghiệt mở màn cho chuỗi ngày bi thảm nối tiếp về sau.

Elizabeth mắc bệnh ban đỏ2. May mắn thay, bệnh tình của em không quá trầm trọng và em sớm qua khỏi. Suốt thời gian em phải cách ly, biết bao người đã khuyên can mẹ tôi đừng vào chăm sóc em. Ban đầu, mẹ còn chịu nghe theo lời nài nỉ của chúng tôi; nhưng khi hay tin đứa cháu gái cưng đang hồi phục, bà chẳng thể nhẫn nhịn cảnh xa cách em thêm nữa. Mẹ đã bước vào phòng em từ rất lâu trước khi mối nguy lây nhiễm qua đi. Hậu quả của phút giây khinh suất ấy thật chí mạng. Đến ngày thứ ba, mẹ tôi ngã bệnh. Cơn sốt ập đến mang theo mầm bệnh ác tính, và nét mặt âu lo của những người hầu đã ngầm dự báo một kết cục thê lương nhất. Dẫu vậy, trên giường bệnh, sự kiên cường và lòng nhân hậu của người phụ nữ tuyệt vời ấy vẫn không mảy may suy suyển. Mẹ nắm lấy tay Elizabeth và tôi, thều thào dặn dò: “Các con, hy vọng vững vàng nhất của mẹ về một chốn hạnh phúc mai sau đều đặt vào viễn cảnh hai đứa sẽ gắn kết với nhau. Niềm mong mỏi ấy giờ đây sẽ là niềm an ủi cho cha các con. Elizabeth, con yêu, con phải thay mẹ chăm sóc các em họ của con nhé. Chao ôi! Mẹ xót xa quá khi phải rời xa các con; và dẫu đã từng hạnh phúc và được yêu thương đến nhường nào, thì việc phải buông tay lìa bỏ tất thảy chẳng phải là quá tàn nhẫn hay sao? Nhưng những suy nghĩ này giờ chẳng còn ý nghĩa gì với mẹ nữa; mẹ sẽ cố gắng mỉm cười đón nhận cái chết, và ấp ủ hy vọng được tương phùng cùng các con ở một cõi khác.”

Mẹ ra đi thật đỗi bình yên. Ngay cả khi đã nhắm mắt xuôi tay, nét mặt mẹ vẫn vương vấn tình yêu thương vô bờ bến. Tôi chẳng cần phải nhọc công miêu tả cái cảm giác của những kẻ vừa bị tước đoạt đi những mối dây liên kết thiêng liêng nhất bởi sự ác nghiệt, không thể vãn hồi ấy. Đó là một khoảng trống hoác xé toạc tâm hồn, là nét tuyệt vọng hằn sâu trên từng khuôn mặt. Phải mất một khoảng thời gian đằng đẵng, lý trí mới có thể thuyết phục chính mình chấp nhận sự thật: người mà ta vẫn hằng ngày nhìn thấy, người mà sự tồn tại của họ dường như đã hòa làm một với máu thịt của ta, nay đã vĩnh viễn rời xa. Rằng ánh sáng từ đôi mắt thân thương ấy đã lụi tàn, và thanh âm từ giọng nói quen thuộc, trìu mến vẫn thường văng vẳng bên tai nay đã chìm vào cõi lặng câm muôn thuở. Đó mới chỉ là những ý nghĩ vẩn vơ trong những ngày tang tóc đầu tiên; chỉ khi thời gian trôi qua, khắc sâu thêm thực tại phũ phàng ấy, ta mới thấm thía trọn vẹn vị đắng cay của nỗi đau. Thế nhưng, thử hỏi có ai trên đời chưa từng bị bàn tay tàn bạo của số phận cướp đi một mối thâm tình? Vậy cớ sao tôi lại phải kể lể về một nỗi buồn mà bất cứ ai cũng đã, đang và sẽ phải trải qua? Rồi cuối cùng cũng đến lúc, việc nguôi ngoai nỗi đau buồn trở thành một sự bao dung hơn là một điều gượng ép. Nụ cười lại ngập ngừng hé nở trên môi, và dù có bị coi là một sự báng bổ đi chăng nữa, nó cũng chẳng còn bị kìm nén. Mẹ tôi đã mất, nhưng những kẻ ở lại như chúng tôi vẫn còn gánh nặng bổn phận trên vai; chúng tôi phải tiếp tục lê bước trên chặng đường đời cùng những người xung quanh, và tự nhủ rằng mình vẫn còn may mắn chán, khi ít nhất vẫn còn có ai đó chưa bị kẻ hủy diệt cướp đi sinh mệnh.

Chuyến đi đến Ingolstadt của tôi, vốn dĩ đã bị trì hoãn bởi những biến cố này, giờ đây lại được đem ra định đoạt một lần nữa. Tôi xin cha cho phép dời lại thêm vài tuần. Khoảng thời gian ấy trôi qua trong bầu không khí sầu thảm tột cùng; cái chết của mẹ và ngày tôi sắp sửa rời đi đã rút cạn sinh lực của cả gia đình. Thế nhưng, Elizabeth vẫn luôn nỗ lực thắp lại chút hơi ấm vui vẻ trong tổ ấm bé nhỏ của chúng tôi. Kể từ lúc người dì qua đời, tâm hồn em dường như được tiếp thêm một sự vững vàng và sức sống mới mẻ. Em quả quyết xốc vác lấy mọi bổn phận với sự chu toàn đáng kinh ngạc; em hiểu rằng cái nghĩa vụ cao cả nhất lúc này-mang lại hạnh phúc cho người chú và các em họ của mình-nay đã đặt trọn lên đôi vai em. Em vỗ về an ủi tôi, làm vui lòng cha tôi, tận tình chỉ bảo các em trai tôi; và chưa bao giờ tôi thấy em tỏa sáng rạng ngời đến thế, như cái cách em không ngừng vắt kiệt bản thân vì hạnh phúc của người khác, và hoàn toàn quên đi chính mình.

Ngày tôi khởi hành rốt cuộc cũng đến. Tôi cất lời từ biệt tất thảy bạn bè, ngoại trừ Clerval, bởi cậu ấy đã nán lại để trải qua buổi tối cuối cùng bên gia đình chúng tôi. Henry vô cùng tiếc nuối vì chẳng thể đồng hành cùng tôi, ngặt nỗi cha cậu không sao nguôi ngoai ý định giữ con trai ở lại. Ông khao khát đào tạo cậu thành một đối tác làm ăn, răm rắp theo lý thuyết định kiến của mình: học vấn chỉ là thứ thừa thãi phù phiếm trong chốn thương trường trần tục. Mang một tâm hồn tao nhã và thanh cao, Henry không hề muốn sống hoài sống phí, cậu sẵn lòng gánh vác cơ nghiệp cùng cha; song cậu vẫn luôn tin tưởng sắt đá rằng một đấng nam nhi dư sức trở thành một thương gia xuất chúng, đồng thời sở hữu cho mình một trí tuệ uyên thâm.

Đêm đó, chúng tôi ngồi lại với nhau đến tận khuya khoắt, lắng nghe những lời than vãn đầy ấm ức của Henry, và cùng nhau vẽ nên bao dự định viển vông cho tương lai. Sáng tinh mơ hôm sau, tôi chính thức lên đường. Lệ tuôn rơi nhòa ướt đôi mắt Elizabeth; những giọt lệ ấy, một phần là nỗi sầu muộn vì phải chia xa, nhưng phần lớn là nỗi chua xót khi em chợt nhận ra: lẽ ra chuyến đi này đã bắt đầu từ ba tháng trước, dưới ánh nhìn ấm áp và lời chúc phúc thiêng liêng từ người mẹ quá cố.

Thả mình xuống băng ghế của cỗ xe ngựa đang lăn bánh đưa tôi rời xa quê nhà, tôi chìm sâu vào những vũng lầy u uất. Tôi, kẻ từng quen đắm mình trong vòng tay của những người bạn đồng hành mến thương, từng mải mê với những tháng ngày chỉ biết trao nhau niềm vui sướng, giờ đây lại đơn độc lẻ bóng. Tại ngôi trường đại học sắp sửa bước chân vào, tôi sẽ phải tự mình kết giao, tự mình chống chọi với đời. Bấy lâu nay, thế giới của tôi vốn vô cùng khép kín, chỉ quẩn quanh bên nếp nhà; chính sự che chở ấy đã nảy sinh trong tôi một nỗi ác cảm thâm căn cố đế trước mọi gương mặt xa lạ. Tôi yêu thương các em trai, yêu Elizabeth, và cả Clerval; đối với tôi, họ là những "gương mặt cũ thân quen"; song, tôi đinh ninh rằng mình hoàn toàn lạc lõng khi phải giao du cùng những kẻ xa lạ. Những suy nghĩ ảm đạm ấy cứ thế bám riết lấy tôi khi vừa khởi hành; nhưng càng dấn bước trên đường xa, nhuệ khí và niềm hy vọng trong tôi lại dần dần trỗi dậy. Một khát khao mãnh liệt được vươn tới kho tàng tri thức bắt đầu rực cháy. Thuở còn ở nhà, tôi từng nhiều lần bứt rứt khi nghĩ đến việc chôn vùi cả tuổi thanh xuân tại một góc trời chật hẹp, từng mỏi mòn ao ước được sải bước ra thế giới rộng lớn, để khắc tên mình giữa chốn nhân gian. Và giờ đây, khi khát vọng ấy đã thành hình, chẳng phải sẽ là tận cùng của sự ngu ngốc nếu tôi lại ôm lòng hối hận hay sao?

Chuyến hành trình đằng đẵng và mỏi mệt tới Ingolstadt đã cho tôi quá nhiều thời gian tĩnh lặng để nghiền ngẫm những suy tưởng đó, cùng muôn vàn dòng chảy ký ức khác. Rốt cuộc, ngọn tháp chuông trắng xóa, cao vút của thị trấn cũng hiện ra sừng sững trước tầm mắt. Tôi bước xuống xe, được dẫn lối đến căn hộ quạnh quẽ của mình, tự do giết thời gian trong bóng tối của buổi chiều tà theo bất cứ cách nào tôi muốn.

Sáng hôm sau, tôi đi gửi những bức thư giới thiệu và ghé thăm một vài vị giáo sư chủ chốt, trong đó có giáo sư Krempe, người phụ trách bộ môn triết học tự nhiên. Ông tiếp đón tôi khá lịch thiệp, rồi hỏi đôi câu về tiến độ học tập của tôi trong các phân nhánh khác nhau của lĩnh vực này. Quả thực, mang theo một nỗi sợ hãi xen lẫn run rẩy, tôi đành nhắc đến tên những tác giả duy nhất mà mình từng nghiền ngẫm về chủ đề ấy. Vị giáo sư nhìn tôi chằm chằm: “Có thật là,” ông buông lời, “cậu đã hoang phí thời gian để nghiên cứu những thứ vô nghĩa nhường ấy sao?”

Tôi gật đầu xác nhận. “Mỗi phút,” giáo sư Krempe gay gắt tiếp lời, “mỗi khoảnh khắc cậu phung phí cho mớ sách vở kia đều hoàn toàn vô ích. Cậu đã tự chất gánh nặng lên trí nhớ của mình bằng những hệ thống lý thuyết lỗi thời và những cái tên rỗng tuếch. Chúa ơi! Cậu đã sống ở chốn hoang mạc nào, nơi chẳng ai mảy may tốt bụng đến mức nhắc nhở cậu rằng những ảo vọng mà cậu ngấu nghiến hấp thụ kia đã có cả ngàn năm tuổi, và chúng đã mốc meo y hệt như cái vẻ cổ lỗ của chúng vậy? Tôi khó lòng ngờ được rằng, giữa thời đại khoa học và khai sáng3 này, tôi lại tìm thấy một môn đồ của Albertus Magnus và Paracelsus4. Chàng trai trẻ ơi, cậu phải bắt đầu việc học lại từ đầu, hoàn toàn từ con số không.”

Nói rồi, ông bước sang một bên, vạch ra một danh sách vài cuốn sách về triết học tự nhiên rồi yêu cầu tôi phải mua chúng. Ông cho phép tôi lui gót, không quên căn dặn rằng vào đầu tuần tới, ông dự định sẽ khai giảng một khóa học về triết học tự nhiên trong những mối quan hệ tổng quát của nó, và giáo sư Waldman, một người đồng nghiệp của ông, sẽ đảm nhiệm bộ môn hóa học vào những ngày ông không đứng lớp.

Tôi quay về nhà, chẳng mảy may thất vọng, bởi từ lâu tôi đã xem những tác giả mà vị giáo sư kia kịch liệt bài bác là vô dụng. Thế nhưng, tôi cũng chẳng tìm thấy chút hứng thú nào với việc nghiên cứu những cuốn sách mình vừa mua theo lời khuyên của ông. Giáo sư Krempe là một người đàn ông thấp lùn, sở hữu chất giọng ồm ồm và một gương mặt dễ gợi ác cảm; vì thế, người thầy ấy chẳng thể gieo vào lòng tôi chút ấn tượng tốt đẹp nào về học thuyết của ông. Hơn thế nữa, thẳm sâu trong tôi còn nhen nhóm một sự khinh miệt dành cho những ứng dụng của triết học tự nhiên hiện đại. Mọi thứ đã từng rất khác, khi mà những bậc thầy của nền khoa học từng miệt mài kiếm tìm sự bất tử và quyền năng vô hạn; những tầm nhìn ấy, dẫu có viển vông, vẫn mang một tầm vóc thật vĩ đại. Còn giờ đây, bối cảnh đã đổi thay. Tham vọng của kẻ khát khao kiếm tìm tri thức dường như chỉ giới hạn ở việc tự tay bóp chết những ảo cảnh vốn là nền tảng khởi nguồn cho niềm đam mê khoa học trong tôi. Tôi bị buộc phải đánh đổi những mộng tưởng mang sự vĩ đại vô bờ bến, để lấy về những thực tại vụn vặt chẳng mang chút giá trị nào.

Đó là những suy tư quẩn quanh trong tôi suốt hai, ba ngày đầu tiên, những ngày trôi qua trong nỗi cô độc đến ngạt thở. Thế nhưng, khi tuần mới vừa gõ cửa, tâm trí tôi lại thoáng nhớ đến những buổi giảng mà Giáo sư Krempe từng nhắc tới. Dù thâm tâm chẳng mảy may hứng thú với việc phải ngồi nghe gã lùn kiêu ngạo ấy thao thao bất tuyệt trên bục giảng, tôi lại tò mò về những gì ông ta từng nhắc đến Giáo sư Waldman - người mà tôi chưa một lần diện kiến, bởi lẽ cho đến tận lúc này, ông vẫn còn đang ở ngoài thị trấn.

Nửa vì tò mò, nửa vì trống rỗng, tôi rảo bước vào giảng đường, vừa vặn lúc Giáo sư Waldman cũng vừa xuất hiện. Vị giáo sư này mang một phong thái hoàn toàn khác biệt so với người đồng nghiệp của mình. Ông trạc độ ngũ tuần, song nét mặt lại toát lên một vẻ nhân từ vô bờ bến; vài lọn tóc nhuốm màu sương giá vương trên hai bên thái dương, nhưng mái tóc sau gáy vẫn còn giữ được sắc đen tuyền. Dù vóc dáng thấp bé, tư thế của ông lại đặc biệt ngay ngắn; và chất giọng của ông cất lên, ngọt ngào và êm ái hơn bất cứ âm thanh nào tôi từng được nghe. Ông mở đầu buổi giảng bằng việc điểm lại trang sử của ngành hóa học cùng vô vàn bước tiến vĩ đại do các học giả để lại. Từng cái tên của những nhà thám hiểm xuất chúng nhất được ông xướng lên với tất thảy niềm say mê rực cháy. Sau đó, ông đưa người nghe lướt qua bức tranh toàn cảnh của ngành khoa học đương đại, cặn kẽ giải thích từng thuật ngữ nền tảng. Khi vài thí nghiệm dạo đầu vừa dứt, ông khép lại bằng một bài diễn văn xưng tụng ngành hóa học hiện đại, những ngôn từ vang vọng ấy đã vĩnh viễn in sâu vào tâm khảm tôi:-

"Những người thầy thuở xa xưa của ngành khoa học này," ông cất lời, "từng hứa hẹn những điều viển vông, để rồi chẳng làm nên trò trống gì. Còn những bậc thầy hiện đại, họ hứa hẹn rất ít; bởi họ hiểu rằng kim loại chẳng thể thay hình đổi dạng, và phương thuốc trường sinh bất lão5 mãi mãi chỉ là ảo ảnh. Nhưng chính những nhà triết học này, những con người mà đôi bàn tay dường như sinh ra chỉ để nhúng vào bùn nhơ, và đôi mắt sinh ra chỉ để dán chặt vào thấu kính hay lò nung, lại thực sự kiến tạo nên những phép nhiệm màu. Họ đã dấn thân vào tận cùng nơi sâu thẳm nhất của tự nhiên, vạch trần những quy luật vận hành trong chốn ẩn náu tối tăm của tạo hóa. Họ vươn tới tận cõi trời cao thẳm; họ phơi bày dòng chảy tuần hoàn của máu thịt, và bóc trần bản chất của bầu không khí ta đang thở. Họ đã nắm giữ những quyền năng mới mẻ và gần như vô hạn; họ đủ sức gọi về những tia sét từ tầng không, mô phỏng những cơn thịnh nộ của đất trời, và thậm chí, buông lời nhạo báng thế giới vô hình bằng chính những cái bóng ảo ảnh của nó."

Tôi bước ra khỏi căn phòng với một sự mãn nguyện tột độ dành cho vị giáo sư cùng bài thuyết giảng của ông, để rồi ngay trong màn đêm ấy, tôi đã tìm đến tư dinh của ông. Nơi chốn riêng tư, phong thái của ông lại càng thêm phần nhu hòa và đầy sức hút; bởi lẽ nếu trên bục giảng, dáng dấp ông mang một vẻ uy nghiêm nhất định, thì khi trở về chốn nương náu của mình, sự trang nghiêm ấy nhường chỗ cho lòng hiếu khách và sự thiện lương vô bờ. Ông đăm chiêu lắng nghe tôi tóm lược về chặng đường học vấn của bản thân, một nụ cười thoáng nở trên môi khi nghe đến những cái tên như Cornelius Agrippa hay Paracelsus, song tuyệt nhiên chẳng có lấy nửa phần khinh miệt như cái cách Giáo sư Krempe từng bộc lộ. Ông ôn tồn nói, rằng "đó là những bậc tiền bối mà triết gia thời nay phải nghiêng mình mang ơn phần lớn, bởi nhờ lòng nhiệt thành bền bỉ của họ mà nền móng tri thức mới được đắp xây. Họ đã nhường lại cho chúng ta một công việc dễ dàng hơn biết bao, ấy là đặt ra những danh xưng mới, sắp xếp các phát kiến thành hệ thống, khởi nguồn từ những sự thật mà phần lớn chính họ đã đóng vai trò là công cụ khai mở. Tâm huyết của những bậc kỳ tài, dẫu có lạc bước trên con đường định hướng, thì tựu trung lại vẫn hiếm khi thất bại trong việc kiến tạo nên những giá trị thiết thực cho nhân loại." Tôi đã nuốt trọn từng lời khẳng định của ông, những ngôn từ được thốt ra chẳng chút cậy tài hay giả tạo; để rồi sau đó, tôi bày tỏ rằng bài giảng của thầy đã quét sạch mọi định kiến trong em về giới hóa học hiện đại. Nhân cơ hội ấy, tôi cũng đã ngỏ lời xin thầy những chỉ dẫn về các đầu sách cần phải trang bị.

"Tôi thực lòng rất vui," Giáo sư Waldman đáp lời, "khi có thêm một người học trò; và nếu sự nỗ lực của cậu cũng vươn tới tầm vóc của năng lực nơi cậu, thì tôi chẳng mảy may nghi ngờ về một ngày cậu bước lên bục vinh quang. Hóa học chính là nhánh rẽ của triết học tự nhiên, nơi những bước nhảy vọt vĩ đại nhất đã, đang và sẽ được khai sinh; đó cũng chính là lý do tôi chọn cống hiến đời mình cho lĩnh vực này; nhưng song song đó, tôi vẫn chưa từng quay lưng với những ngành khoa học khác. Một người đàn ông sẽ chỉ là một nhà hóa học thảm hại, nếu tâm trí anh ta chỉ chật hẹp giam mình trong một mảng tri thức đơn độc ấy. Nếu khao khát trong cậu là thực sự trở thành một nhà khoa học chân chính, chứ không chỉ là một kẻ quẩn quanh với những thí nghiệm vặt vãnh, thì tôi khuyên cậu hãy mở rộng tầm nhìn bao trùm lên mọi nhánh của triết học tự nhiên, và cả toán học nữa."

Nói đoạn, thầy dẫn tôi bước sâu vào căn phòng thí nghiệm của ông, cặn kẽ giải thích công năng của từng cỗ máy phức tạp; thầy cẩn thận căn dặn tôi về những dụng cụ cần thiết phải chuẩn bị, và hứa sẽ để tôi sử dụng các thiết bị của ông, một khi tôi đã tiến đủ xa trên con đường khoa học này để không làm hỏng hóc cơ chế vận hành của chúng. Thầy cũng không quên trao cho tôi bản danh sách những cuốn sách mà tôi đã ngỏ lời xin; và rồi, tôi cúi chào xin phép ra về.

Một ngày khắc cốt ghi tâm với tôi đã khép lại như thế; một ngày vĩnh viễn định đoạt quỹ đạo số phận tôi trong những chuỗi ngày tăm tối sắp tới.

Năm tôi mười bảy tuổi, cha mẹ quyết định cho tôi theo học tại Đại học Ingolstadt. Cho đến tận lúc ấy, tôi vẫn chỉ quẩn quanh với trường lớp ở Geneva; thế nhưng cha tôi lại tin rằng để hoàn thiện con đường học vấn, tôi cần phải bước ra ngoài, làm quen với những lề thói vượt khỏi ranh giới quê nhà. Vậy nên, ngày tôi khởi hành đã được ấn định từ sớm. Chẳng ai ngờ, trước khi ngày ấy kịp đến, bất hạnh đầu tiên trong đời đã giáng xuống đầu tôi-tựa hồ một điềm báo oan nghiệt mở màn cho chuỗi ngày bi thảm nối tiếp về sau.

Elizabeth mắc bệnh ban đỏ. May mắn thay, bệnh tình của em không quá trầm trọng và em sớm qua khỏi. Suốt thời gian em phải cách ly, biết bao người đã khuyên can mẹ tôi đừng vào chăm sóc em. Ban đầu, mẹ còn chịu nghe theo lời nài nỉ của chúng tôi; nhưng khi hay tin đứa cháu gái cưng đang hồi phục, bà chẳng thể nhẫn nhịn cảnh xa cách em thêm nữa. Mẹ đã bước vào phòng em từ rất lâu trước khi mối nguy lây nhiễm qua đi. Hậu quả của phút giây khinh suất ấy thật chí mạng. Đến ngày thứ ba, mẹ tôi ngã bệnh. Cơn sốt ập đến mang theo mầm bệnh ác tính, và nét mặt âu lo của những người hầu đã ngầm dự báo một kết cục thê lương nhất. Dẫu vậy, trên giường bệnh, sự kiên cường và lòng nhân hậu của người phụ nữ tuyệt vời ấy vẫn không mảy may suy suyển. Mẹ nắm lấy tay Elizabeth và tôi, thều thào dặn dò: “Các con, hy vọng vững vàng nhất của mẹ về một chốn hạnh phúc mai sau đều đặt vào viễn cảnh hai đứa sẽ gắn kết với nhau. Niềm mong mỏi ấy giờ đây sẽ là niềm an ủi cho cha các con. Elizabeth, con yêu, con phải thay mẹ chăm sóc các em họ của con nhé. Chao ôi! Mẹ xót xa quá khi phải rời xa các con; và dẫu đã từng hạnh phúc và được yêu thương đến nhường nào, thì việc phải buông tay lìa bỏ tất thảy chẳng phải là quá tàn nhẫn hay sao? Nhưng những suy nghĩ này giờ chẳng còn ý nghĩa gì với mẹ nữa; mẹ sẽ cố gắng mỉm cười đón nhận cái chết, và ấp ủ hy vọng được tương phùng cùng các con ở một cõi khác.”

Mẹ ra đi thật đỗi bình yên. Ngay cả khi đã nhắm mắt xuôi tay, nét mặt mẹ vẫn vương vấn tình yêu thương vô bờ bến. Tôi chẳng cần phải nhọc công miêu tả cái cảm giác của những kẻ vừa bị tước đoạt đi những mối dây liên kết thiêng liêng nhất bởi sự ác nghiệt, không thể vãn hồi ấy. Đó là một khoảng trống hoác xé toạc tâm hồn, là nét tuyệt vọng hằn sâu trên từng khuôn mặt. Phải mất một khoảng thời gian đằng đẵng, lý trí mới có thể thuyết phục chính mình chấp nhận sự thật: người mà ta vẫn hằng ngày nhìn thấy, người mà sự tồn tại của họ dường như đã hòa làm một với máu thịt của ta, nay đã vĩnh viễn rời xa. Rằng ánh sáng từ đôi mắt thân thương ấy đã lụi tàn, và thanh âm từ giọng nói quen thuộc, trìu mến vẫn thường văng vẳng bên tai nay đã chìm vào cõi lặng câm muôn thuở. Đó mới chỉ là những ý nghĩ vẩn vơ trong những ngày tang tóc đầu tiên; chỉ khi thời gian trôi qua, khắc sâu thêm thực tại phũ phàng ấy, ta mới thấm thía trọn vẹn vị đắng cay của nỗi đau. Thế nhưng, thử hỏi có ai trên đời chưa từng bị bàn tay tàn bạo của số phận cướp đi một mối thâm tình? Vậy cớ sao tôi lại phải kể lể về một nỗi buồn mà bất cứ ai cũng đã, đang và sẽ phải trải qua? Rồi cuối cùng cũng đến lúc, việc nguôi ngoai nỗi đau buồn trở thành một sự bao dung hơn là một điều gượng ép. Nụ cười lại ngập ngừng hé nở trên môi, và dù có bị coi là một sự báng bổ đi chăng nữa, nó cũng chẳng còn bị kìm nén. Mẹ tôi đã mất, nhưng những kẻ ở lại như chúng tôi vẫn còn gánh nặng bổn phận trên vai; chúng tôi phải tiếp tục lê bước trên chặng đường đời cùng những người xung quanh, và tự nhủ rằng mình vẫn còn may mắn chán, khi ít nhất vẫn còn có ai đó chưa bị kẻ hủy diệt cướp đi sinh mệnh.

Chuyến đi đến Ingolstadt của tôi, vốn dĩ đã bị trì hoãn bởi những biến cố này, giờ đây lại được đem ra định đoạt một lần nữa. Tôi xin cha cho phép dời lại thêm vài tuần. Khoảng thời gian ấy trôi qua trong bầu không khí sầu thảm tột cùng; cái chết của mẹ và ngày tôi sắp sửa rời đi đã rút cạn sinh lực của cả gia đình. Thế nhưng, Elizabeth vẫn luôn nỗ lực thắp lại chút hơi ấm vui vẻ trong tổ ấm bé nhỏ của chúng tôi. Kể từ lúc người dì qua đời, tâm hồn em dường như được tiếp thêm một sự vững vàng và sức sống mới mẻ. Em quả quyết xốc vác lấy mọi bổn phận với sự chu toàn đáng kinh ngạc; em hiểu rằng cái nghĩa vụ cao cả nhất lúc này-mang lại hạnh phúc cho người chú và các em họ của mình-nay đã đặt trọn lên đôi vai em. Em vỗ về an ủi tôi, làm vui lòng cha tôi, tận tình chỉ bảo các em trai tôi; và chưa bao giờ tôi thấy em tỏa sáng rạng ngời đến thế, như cái cách em không ngừng vắt kiệt bản thân vì hạnh phúc của người khác, và hoàn toàn quên đi chính mình.



  1. Một trường đại học có thật tại Bavaria (Đức), hoạt động từ thế kỷ 15 đến năm 1800. Đây từng là trung tâm của phong trào Khai sáng và các tư tưởng cấp tiến ở châu Âu. 

  2. Một căn bệnh truyền nhiễm cấp tính. Vào thế kỷ 18 và 19, trước khi có thuốc kháng sinh, đây là một trong những dịch bệnh có tỷ lệ tử vong rất cao, đặc biệt ở trẻ em. 

  3. Ám chỉ Thời kỳ Khai sáng (Age of Enlightenment) ở châu Âu thế kỷ 18, giai đoạn đề cao lý trí, tư duy logic và phương pháp khoa học thực nghiệm, gạt bỏ những tư tưởng mê tín và giáo điều cũ. 

  4. Hai học giả và nhà giả kim thuật thời Trung Cổ và Phục Hưng. Các phương pháp nghiên cứu của họ pha trộn giữa y học sơ khai, phép thuật và thần bí, trái ngược hoàn toàn với nền khoa học thực nghiệm hiện đại. 

  5. Hai mục tiêu tối thượng của giới giả kim thuật cổ đại: biến kim loại cơ bản thành vàng và tìm ra thần dược mang lại sự sống vĩnh cửu. Giới khoa học hiện đại ở thế kỷ 18 đã bác bỏ những mục tiêu hoang đường này.