CHƯƠNG V.

Clerval sau đó trao tận tay tôi bức thư này.


"Gửi V. Frankenstein.

"Anh họ yêu quý,

"Lời nào tả xiết nỗi bất an đang giằng xé cả gia đình khi hay tin sức khỏe anh sa sút. Ai nấy đều không khỏi sinh nghi rằng anh Clerval, bạn anh, đang cố tình che giấu bệnh tình thực sự của anh. Bởi lẽ đã mấy tháng ròng chúng em chẳng còn được nhìn thấy nét chữ quen thuộc, mọi lá thư đều phải cậy nhờ tay Henry viết hộ. Hẳn là anh đã ốm nặng lắm, Victor ơi! Nỗi xót xa này dường như sánh ngang với lần mất đi người mẹ kính yêu ngày trước. Bác trai thậm chí đã đinh ninh rằng anh đang trong cơn thập tử nhất sinh, và phải khó khăn lắm mới ngăn được ý định lập tức khởi hành đến Ingolstadt của bác. Clerval luôn viết thư báo rằng anh đang dần hồi phục; em thiết tha mong mỏi một ngày sớm nhất được chính tay anh viết thư báo bình an. Bởi vì, Victor à, chúng em thực sự, thực sự đã quá đỗi khổ tâm rồi. Chỉ cần anh giúp xua tan bóng đen sợ hãi này, chúng em sẽ là những người hạnh phúc nhất thế gian. Sức khỏe của cha anh giờ đây vô cùng tráng kiện, bác trông như trẻ lại cả chục tuổi so với mùa đông năm ngoái. Ernest cũng đã khỏe mạnh lên trông thấy, đến mức nếu gặp lại, chắc anh khó mà nhận ra em ấy. Ernest sắp bước sang tuổi mười sáu, đã rũ bỏ hoàn toàn vẻ ốm yếu xanh xao của mấy năm trước để trở nên vô cùng vạm vỡ và hoạt bát.

"Tối qua, em và bác trai đã nán lại trò chuyện rất lâu về tương lai của Ernest. Những ngày tháng ốm đau triền miên thuở nhỏ đã vô tình tước đi của em ấy thói quen cần mẫn; để giờ đây khi có được sức vóc, em ấy chỉ thích rong ruổi ngoài trời, khi thì leo đồi, lúc lại chèo thuyền dạo quanh hồ. Vì lẽ đó, em đã ướm hỏi ý bác về việc để em ấy trở thành một người nông dân. Anh cũng biết đấy, anh họ ạ, đó luôn là một ước vọng mà em hằng ôm ấp. Nghề nông mang lại một cuộc sống vô cùng trong lành và tự tại; chẳng những ít gây hại nhất, mà xét cho cùng, lại là công việc hữu ích nhất trong mọi nghề nghiệp trên đời. Nhưng bác trai lại có ý định hướng em ấy theo học ngành luật, để rồi nhờ vào những mối quan hệ sẵn có của bác, em ấy sẽ thuận lợi bước lên vị trí thẩm phán. Dẫu vậy, ngoài việc Ernest vốn dĩ chẳng màng tới công việc nhọc nhằn ấy, em cho rằng việc cày sâu cuốc bẫm để nuôi sống con người ắt hẳn đáng tự hào hơn nhiều so với việc trở thành người bạn tâm giao, hay đôi khi là kẻ tòng phạm, cho những thói hư tật xấu của nhân loại-chẳng phải đó chính là bản chất của nghề luật sư hay sao? Em đã thẳng thắn bày tỏ rằng, một người nông dân khấm khá, dù chẳng phải là một nghề vinh quang chói lọi, thì chí ít cũng có được một cuộc đời hạnh phúc hơn hẳn một vị thẩm phán, kẻ luôn tự chuốc lấy muộn phiền khi cứ mãi dấn thân vào những góc khuất tăm tối của lòng người. Bác trai chỉ mỉm cười, trêu rằng chính em mới nên đi làm luật sư, và thế là cuộc thảo luận khép lại.

“Và giờ, em phải kể anh nghe một câu chuyện nhỏ, hẳn sẽ khiến anh vui lòng và đôi chút thích thú. Anh còn nhớ Justine Moritz không? Có lẽ anh không nhớ đâu; vậy nên em sẽ tóm tắt lại đôi dòng lai lịch của chị ấy. Bà Moritz, mẹ chị, là một góa phụ có bốn người con, và Justine là đứa con thứ ba. Từ nhỏ, chị luôn là đứa con được cha cưng chiều nhất; nhưng chẳng hiểu vì sự ngang ngạnh kỳ lạ nào, mẹ chị lại không thể chịu đựng nổi đứa con ruột thịt này. Sau khi ông Moritz qua đời, bà càng đối xử tệ bạc với chị hơn. Dì đã nhận ra tình cảnh ngang trái ấy; nên khi Justine vừa tròn mười hai tuổi, dì đã thuyết phục bà Moritz cho phép chị đến sống cùng gia đình chúng ta. Thể chế cộng hòa của đất nước ta đã nuôi dưỡng những phong tục dung dị và hạnh phúc hơn nhiều so với thói lề ở các vương quốc lân cận. Nhờ đó, ranh giới giai cấp cũng mờ nhạt đi; những người ở tầng lớp dưới chẳng đến mức bần hàn hay bị rẻ rúng, nên cốt cách của họ cũng mang vẻ tao nhã và trọng đạo nghĩa hơn. Một người hầu ở Geneva1 hoàn toàn khác biệt so với một người hầu ở Pháp hay Anh. Justine, khi được đón nhận vào gia đình chúng ta như thế, đã học hỏi những bổn phận của một người hầu; một thân phận mà, ở vùng đất may mắn của chúng ta, không hề đồng nghĩa với sự ngu muội, cũng chẳng bắt ai phải đánh đổi phẩm giá con người.

“Nghe đến đây, em dám chắc anh đã nhớ ra nữ chính trong câu chuyện nhỏ của em: vì ngày trước, Justine rất được anh quý mến. Em còn nhớ có lần anh từng nhận xét rằng, mỗi khi anh bực dọc, chỉ cần một ánh nhìn từ Justine cũng đủ xua tan tất cả, giống hệt cái cách Ariosto2 từng miêu tả về nhan sắc của Angelica-chị ấy tỏa ra vẻ chân thành và ngập tràn hạnh phúc. Dì cũng dành cho chị ấy một tình thương yêu sâu sắc, và chính điều đó đã thôi thúc dì cho chị ăn học đàng hoàng hơn dự định ban đầu. Đặc ân ấy đã được đền đáp trọn vẹn; Justine quả là một sinh linh bé nhỏ biết ơn nhất trần đời: em không nói rằng chị ấy từng hứa hẹn điều lớn lao, em cũng chưa từng nghe chị buông một lời đường mật; nhưng anh có thể thấy qua ánh mắt chị, một sự sùng bái gần như tuyệt đối dành cho người cưu mang mình. Dẫu tính tình vui vẻ, nhiều lúc còn có phần bồng bột, chị lại luôn chú tâm đến từng cử chỉ nhỏ nhất của dì. Chị xem dì là hiện thân của mọi sự hoàn hảo, và cố gắng học theo từng lời ăn tiếng nói, từng phong thái của dì, đến nỗi ngay cả bây giờ, bóng dáng chị ấy vẫn thường khiến em nhớ đến người dì kính yêu.

“Khi người dì kính yêu qua đời, ai nấy đều chìm quá sâu vào nỗi đau thương riêng mà vô tình quên bẵng đi Justine tội nghiệp, người đã tận tụy túc trực bên giường bệnh của dì với trái tim trĩu nặng âu lo. Justine đã ốm một trận thập tử nhất sinh; nhưng những sóng gió khác vẫn chưa buông tha chị.

“Lần lượt, các anh em trai và chị gái của chị đều tạ thế; và người mẹ, ngoại trừ đứa con gái từng bị hắt hủi, bỗng chốc trở nên cô độc. Lương tâm người đàn bà ấy bị cắn rứt dữ dội; bà bắt đầu tin rằng cái chết của những đứa con cưng chính là đòn trừng phạt từ Thượng đế, giáng xuống thói thiên vị của mình. Bà là một tín đồ Công giáo La Mã; và em tin rằng vị cha xứ đã đổ thêm dầu vào ngọn lửa ám ảnh ấy. Thế là, vài tháng sau ngày anh lên đường đến Ingolstadt, Justine được người mẹ đang chìm trong sám hối gọi về. Cô gái tội nghiệp! Chị đã khóc hết nước mắt khi phải rời xa mái nhà chúng ta. Chị đã thay đổi quá nhiều từ ngày dì mất; nỗi bi thương đã mài giũa dáng vẻ hoạt bát ngày nào, nhường chỗ cho một nét dịu dàng, hiền hòa đến nao lòng. Việc trở về nương náu nơi nhà mẹ đẻ cũng chẳng thể tìm lại cho chị nụ cười xưa cũ. Người đàn bà khốn khổ kia luôn chông chênh trong nỗi ăn năn của chính mình. Có lúc bà khóc lóc cầu xin Justine tha thứ cho sự nhẫn tâm cay độc, nhưng thường xuyên hơn, bà lại quay sang buộc tội chị đã rắp tâm hại chết các anh em mình. Nỗi phiền muộn gặm nhấm từng ngày cuối cùng cũng vắt kiệt sức lực của bà Moritz, ban đầu nó khiến bà trở nên gắt gỏng hơn, nhưng giờ thì bà đã yên giấc ngàn thu. Bà qua đời vào đợt rét đầu tiên của mùa đông vừa rồi. Justine lại trở về bên chúng ta; và em cam đoan với anh rằng em thương chị ấy vô ngần. Chị ấy thật thông minh, dịu dàng, và vô cùng xinh đẹp; như em đã kể, từng dáng vẻ và cử chỉ của chị lại không ngừng gợi nhắc cho em về người dì thân yêu.

“Em cũng phải khoe với anh đôi chút, người anh họ yêu quý, về cậu bé William của chúng ta. Em ước gì anh có thể nhìn thấy em ấy; thằng bé phổng phao hơn hẳn bạn bè đồng trang lứa, với đôi mắt xanh biếc luôn thường trực nụ cười ngọt ngào, hàng mi đen nhánh, và mái tóc xoăn tít. Mỗi khi thằng bé cười, hai lúm đồng tiền nhỏ xíu lại hiện ra trên đôi má hồng hào căng tràn sức sống. Thằng bé thậm chí đã có một hai cô vợ nhỏ rồi đấy, nhưng Louisa Biron là bé gái được cưng chiều nhất, một cô nhóc năm tuổi xinh xắn lạ lùng.

“Bây giờ, Victor thân mến, em cá là anh cũng muốn nghe chút chuyện phiếm về những người dân hiền hòa ở Geneva. Cô nàng Mansfield xinh đẹp đã nhận được bao lời chúc tụng cho cuộc hôn nhân sắp tới với một chàng trai người Anh, ngài John Melbourne. Cô em gái kém sắc hơn, Manon, cũng đã lên xe hoa với ngài Duvillard, một tay chủ nhà băng giàu sụ, hồi mùa thu năm ngoái. Người bạn học thân thiết của anh, Louis Manoir, đã phải hứng chịu không ít vận rủi từ ngày Clerval rời khỏi Geneva. Nhưng anh ấy đã vực lại tinh thần, và nghe đâu sắp kết hôn với một quý bà người Pháp vô cùng duyên dáng và xinh đẹp, phu nhân Tavernier. Cô ấy là một góa phụ, lại lớn hơn Manoir khá nhiều tuổi; nhưng cô ấy rất được mến mộ, và ai ai cũng yêu quý.

“Cứ viết mãi thế này, tâm trạng em bỗng chốc rạng rỡ hẳn lên, anh họ yêu quý của em; nhưng em chẳng thể gác bút mà không một lần nữa thắt lòng hỏi thăm sức khỏe anh. Victor thân mến, nếu anh không ốm quá nặng, xin hãy tự tay viết vài dòng, để cha anh và tất thảy chúng em được an lòng; bằng không--em chẳng dám nghĩ đến điều tồi tệ nhất; nước mắt em lại rơi mất rồi. Tạm biệt anh, người anh họ mà em yêu thương nhất.”

“Elizabeth Lavenza.

“Geneva, ngày 18 tháng 3, 17-.”

“Elizabeth thiết tha, yêu dấu của anh!” tôi nghẹn ngào thốt lên khi đọc xong những dòng thư em gửi. “Anh phải hồi âm ngay mới được, phải giải tỏa cho mọi người khỏi nỗi lo âu thắt ruột gan mà họ đang gánh chịu.” Tôi gượng dậy viết, và dẫu chút cố gắng ấy vắt kiệt sức lực, thì sự bình phục cũng đã manh nha và tiến triển từng ngày. Lửa sống từ từ nhen lại, để rồi nửa tháng sau, tôi đã có thể bước ra khỏi buồng bệnh.

Một trong những việc đầu tiên tôi phải làm khi gượng dậy được là đưa Clerval đi chào hỏi vài vị giáo sư trong trường. Thế nhưng, nghĩa vụ ấy lại đẩy tôi vào một lối cư xử thô bạo, tứa máu thêm những vết thương lòng còn mưng mủ. Kể từ cái đêm định mệnh ấy - cái đêm khép lại mọi tham vọng và mở màn cho chuỗi bi kịch đời tôi - một nỗi ác cảm dữ dội đã cắm rễ trong tâm trí tôi mỗi khi ai đó nhắc tới hai chữ "triết học tự nhiên". Ngay cả khi thể trạng đã hoàn toàn bình phục, chỉ cần thoáng thấy bóng dáng một dụng cụ hóa học là mọi cơn đau đớn, hoảng loạn của chứng suy nhược thần kinh lại trỗi dậy giày vò. Henry tinh ý nhận ra điều đó; cậu lẳng lặng dọn sạch mọi thiết bị khỏi tầm mắt tôi. Thậm chí, cậu còn đổi luôn phòng cho tôi, bởi cậu hiểu tôi đã sinh lòng ghê tởm chính căn phòng từng là phòng thí nghiệm của mình. Vậy nhưng, mọi sự ân cần bao bọc ấy của Clerval đều hóa thành tro bụi khi tôi bước vào thăm các vị giáo sư.

Giáo sư Waldman đã vô tình ban phát một màn tra tấn tinh thần khi thầy chân thành và nồng nhiệt tán dương những tiến bộ vượt bậc mà tôi đạt được trong giới khoa học. Thầy sớm nhận ra vẻ né tránh của tôi trước chủ đề này, song vì không thấu tỏ căn nguyên, thầy ngỡ đó chỉ là sự khiêm nhường quá đỗi. Vậy là thầy chuyển hướng, không khen ngợi tôi nữa mà chuyển sang say sưa đàm luận về bản thân nền khoa học, cốt chỉ mong lôi cuốn tôi vào cuộc rôm rả. Tôi biết làm sao đây? Thầy vốn mang thiện ý, nhưng từng lời thầy thốt ra lại như ngàn vạn mũi dao khoét vào tâm can. Tôi có cảm giác như thể thầy đang tỉ mẩn phơi bày trước mắt tôi từng món hung khí đã được sắp đặt sẵn, chờ ngày đưa tôi đến một cái chết chầm chậm và tàn khốc. Tôi quằn quại dưới những lời ngợi ca, song chẳng dám hé răng bộc lộ nỗi đau đớn tột cùng đang rỉ máu. Giữa lúc ấy, Clerval - với ánh nhìn sắc sảo và trái tim đồng điệu, luôn nhạy bén trước những xao động của người khác - đã khéo léo gạt đi chủ đề kia. Cậu lấy cớ mình hoàn toàn dốt nát về khoa học để lảng sang những câu chuyện xã giao thường nhật. Từ tận đáy lòng, tôi thầm biết ơn người bạn tri kỷ, dẫu chẳng thốt nên lời. Tôi thừa hiểu cậu vô cùng kinh ngạc, nhưng chưa bao giờ Henry cố cạy miệng để moi móc bí mật của tôi. Và dẫu tôi có dành cho cậu một tình cảm pha lẫn sự tôn kính vô bờ, tôi vẫn chẳng tài nào thuyết phục nổi mình vạch trần cái sự thật kinh hoàng luôn ám ảnh trong ký ức. Tôi sợ hãi tột cùng, sợ rằng mỗi lời thốt ra để kể lể ngọn ngành sẽ chỉ đục khoét thêm vào tâm trí một dấu vết không thể xóa nhòa.

Giáo sư Krempe thì chẳng được tinh tế nhường ấy. Trái lại, trong cái tình cảnh mỏng manh như tơ mành của tôi lúc bấy giờ - khi mà mỗi sự đụng chạm dù là nhỏ nhất cũng đủ gây ra những cơn đau điếng người - thì những lời tán dương bỗ bã, sỗ sàng của ông còn mang sức sát thương khủng khiếp hơn cả lòng nhân từ êm ái của giáo sư Waldman. “Chết tiệt cái cậu này!” ông tướng oang oang; “Sao thế, cậu Clerval, tôi cam đoan với cậu là cậu ta đã bỏ xa tất cả chúng tôi rồi đấy. Phải, cứ việc trố mắt ra nếu cậu muốn; nhưng sự thật nó rành rành ra đấy. Một gã thanh niên mà, mới mấy năm trước, còn sùng bái Cornelius Agrippa như một chân lý, nay đã chễm chệ ngồi ở vị trí thượng phong của trường đại học này. Khéo mà không kéo cậu ta xuống kịp, tất thảy chúng ta sẽ mất hết thể diện cho xem. -Phải, phải,” ông tiếp tục, dán mắt vào khuôn mặt đang nhăn nhúm lại vì đau đớn của tôi, “cậu Frankenstein nhà ta thật khiêm nhường quá đỗi; một phẩm chất vàng ngọc ở người trẻ. Đám thanh niên nên bớt tự mãn lại, cậu biết đấy, cậu Clerval; hồi trẻ tôi cũng thế: nhưng cái thói đó rồi sẽ bay biến nhanh thôi.”

Giáo sư Krempe bắt đầu thao thao bất tuyệt bài diễn thuyết ca tụng bản thân. Cũng may nhờ vậy mà cuộc trò chuyện mới chệch hướng khỏi cái chủ đề đang hành hạ tâm trí tôi.

Clerval vốn chẳng màng đến triết học tự nhiên. Trí tưởng tượng của cậu quá đỗi bay bổng để có thể trói buộc vào những tiểu tiết khô khan của khoa học. Ngôn ngữ mới là lẽ sống của cậu; và thông qua việc đào sâu vào những nguyên lý cơ bản của chúng, cậu khao khát tự mở ra một chân trời học thuật mới khi trở về Geneva. Những thanh âm trầm bổng của tiếng Ba Tư, tiếng Ả Rập, và tiếng Do Thái đã hoàn toàn hớp hồn cậu, sau khi cậu đã dễ dàng chinh phục tiếng Hy Lạp và Latinh. Về phần mình, chuỗi ngày nhàn rỗi quả thực là một nỗi cực hình. Giờ đây, khi chỉ chực chờ chạy trốn khỏi mớ suy nghĩ mông lung và ôm niềm căm phẫn tột độ với những nghiên cứu năm xưa, tôi cảm thấy tâm hồn vơi bớt phần nào gánh nặng khi được kề vai sát cánh cùng bạn mình, tìm thấy ánh sáng dẫn đường và cả sự vỗ về bình yên trong những trang sách của các học giả phương Đông. Nỗi u sầu của họ mang một năng lực xoa dịu lạ kỳ, và niềm hoan hỉ của họ lại đong đầy một sức mạnh nâng đỡ mà tôi chưa từng trải nghiệm qua lăng kính của bất kỳ quốc gia nào khác. Khi lật mở những áng văn ấy, cuộc đời tựa hồ chỉ thu bé lại trong quầng sáng ấm áp của mặt trời và hương thơm ngát của một khu vườn hồng - trong những nụ cười tỏa nắng và ánh lườm nguýt sắc lẹm của một giai nhân thù địch, và trong cả ngọn lửa cuồng si thiêu rụi chính con tim mình. Một sắc thái mộng mơ đắm say, hoàn toàn xa lạ với chất thơ đầy chất nam tính và khí thế hào hùng của Hy Lạp hay La Mã.

Mùa hè êm đềm trôi qua trong những bận rộn say sưa như thế, và ngày tôi trở về Geneva được ấn định vào cuối độ thu. Thế nhưng, vài sự cố chen ngang đã trì hoãn bước chân tôi; mùa đông ùa tới mang theo bão tuyết, phủ kín những con đường khiến chúng trở nên bất khả xâm phạm. Chuyến hành trình đành phải gác lại cho đến tận mùa xuân năm sau. Sự chậm trễ ấy để lại trong tôi một hương vị đắng ngắt; bởi tôi khao khát đến cháy lòng được trở về quê hương, được ôm lấy những người thân yêu máu mủ. Sở dĩ tôi nấn ná lại lâu đến vậy, chỉ bởi lòng không nỡ để Clerval bơ vơ giữa chốn lạ quê người, trước khi cậu kịp làm quen với con người nơi đây. Dẫu vậy, mùa đông lạnh giá cũng đã êm ả trôi qua trong tiếng cười rộn rã; và mặc dù mùa xuân năm ấy đến muộn màng hơn bao giờ hết, nhưng khi những nụ hoa bung nở, vẻ đẹp diễm lệ của nó đã đền đáp xứng đáng cho chuỗi ngày mòn mỏi ngóng trông.

Tháng Năm vừa gõ cửa. Giữa lúc tôi đang mòn mỏi ngóng chờ từng ngày bức thư ấn định ngày hồi hương, Henry chợt đề xướng một chuyến tản bộ quanh vùng ngoại ô Ingolstadt để tôi có thể tự mình nói lời từ biệt với mảnh đất đã gắn bó bấy lâu nay. Tôi hân hoan nhận lời ngay tắp lự. Vốn dĩ tôi luôn say mê những hoạt động ngoài trời, và Clerval bao giờ cũng là người bạn đồng hành tuyệt vời nhất trong mọi cuộc phiêu du mà tôi từng trải qua giữa khung cảnh êm đềm của quê nhà.

Hai tuần liền, chúng tôi cứ thế rong ruổi cùng nhau. Cả sức vóc lẫn tinh thần tôi vốn đã bình phục từ lâu, nay lại càng thêm tráng kiện nhờ được hít căng lồng ngực bầu không khí trong lành, nhờ những cảnh sắc thiên nhiên kỳ thú trải dọc đường đi, và cả những cuộc trò chuyện tâm giao cùng bạn hiền. Những tháng ngày vùi đầu vào nghiên cứu trước kia từng bứt tôi ra khỏi sợi dây liên kết với đồng loại, biến tôi thành một kẻ lạc lõng, u sầu; thế nhưng chính Clerval đã đánh thức những rung cảm tốt đẹp nhất từng ngủ quên nơi đáy tim. Cậu ấy một lần nữa dạy tôi biết rung động trước vẻ đẹp mỹ miều của tạo hóa, biết mỉm cười trước những gương mặt trẻ thơ ngời sáng. Ôi, người bạn tuyệt vời của tôi! Cậu đã dành cho tôi một tình thương chân thành đến nhường nào, đã kiên nhẫn dìu dắt tinh thần tôi vươn lên cho đến khi tôi tìm lại được sự thanh thản như chính cậu. Những tham vọng ích kỷ từng giam hãm và bó hẹp tâm hồn tôi, nay đã được sự dịu dàng và tình cảm ấm áp của cậu sưởi ấm, mở toang mọi giác quan. Tôi lại được hồi sinh thành một sinh linh tràn đầy hạnh phúc của những năm tháng xa xưa, biết yêu thương và được yêu thương, chẳng màng đến buồn lo hay muộn phiền. Mỗi khi lòng ngập tràn hoan hỉ, ngay cả thiên nhiên vô tri vô giác dường như cũng có phép nhiệm màu để ban tặng cho tôi những xúc cảm tuyệt diệu nhất. Một vòm trời quang đãng, một cánh đồng mướt xanh cũng đủ tưới tắm tâm hồn tôi bằng một niềm ngây ngất tột cùng. Trái đất đang độ chuyển mùa với một vẻ đẹp lộng lẫy đến nghẹt thở; muôn đóa hoa xuân vẫn rực rỡ khoe sắc dọc các hàng rào, nhường lối cho những nụ hoa hạ đương e ấp chớm nở. Chẳng còn bất kỳ bóng đen u ám nào của quá khứ từng đè nặng tâm trí tôi suốt cả năm qua - thứ gánh nặng khổng lồ mà tôi ngỡ chẳng thể nào rũ bỏ nổi - dám len lỏi đến quấy rầy tôi thêm nữa.

Henry hân hoan tột độ khi thấy nét rạng ngời bừng sáng trở lại trên gương mặt tôi. Cậu chân thành sẻ chia từng nhịp đập cảm xúc, dốc lòng mang đến niềm vui cho tôi qua việc bộc bạch những xúc cảm đang tuôn trào trong chính tâm hồn mình. Kho tàng tri thức và trí tưởng tượng phong phú của cậu bộc lộ trong suốt chuyến đi quả thực khiến người ta phải trầm trồ thán phục. Lời kể của cậu nhuốm màu kỳ ảo; và chẳng hiếm lần, phỏng theo phong cách của các văn nhân Ba Tư hay Ả Rập, cậu ứng tác ra những câu chuyện huyễn hoặc và say đắm lòng người. Những lúc khác, cậu lại ngâm nga những vần thơ mà tôi yêu thích nhất, hay khéo léo cuốn tôi vào những cuộc tranh luận say sưa, nơi cậu bảo vệ quan điểm của mình bằng một sự tinh tế và tài tình hiếm có.

Chúng tôi quay gót trở về trường đại học vào một buổi chiều Chủ nhật êm ả. Dọc đường đi, những người nông dân đang say sưa trong vũ điệu đồng quê; ai nấy chúng tôi lướt qua đều toát lên vẻ rạng rỡ, ngập tràn hạnh phúc. Tinh thần tôi như được chắp cánh bay bổng, và tôi sải những bước chân nhẹ bẫng trong một niềm hân hoan, ngây ngất không tài nào kìm nén nổi.




  1. Hiện là một thành phố của Thụy Sĩ, nhưng vào thế kỷ 18, Geneva là một nước cộng hòa độc lập. Nơi đây có truyền thống dân chủ và tự do tiến bộ hơn nhiều so với các chế độ phong kiến quân chủ tại Pháp và Anh cùng thời. 

  2. Ludovico Ariosto (1474-1533) là một nhà thơ kiệt xuất người Ý thời Phục hưng. Angelica là nhân vật nữ có nhan sắc tuyệt trần trong bản sử thi lãng mạn "Orlando Furioso" (Orlando cuồng nộ) nổi tiếng của ông.