
NỮ THẦN CÂY CƠM CHÁY

Ngày xửa ngày xưa, có một cậu bé nọ vừa đi chơi về đã bị cảm lạnh vì đôi bàn chân ướt sũng. Chẳng ai hiểu vì sao cậu lại ra nông nỗi ấy, bởi ngoài kia trời vẫn đang hanh khô tuyệt đẹp. Mẹ cậu bèn thay quần áo, ủ ấm con trên chiếc giường êm ái, rồi mang vào phòng một ấm trà lớn để pha cho cậu một tách trà hoa cơm cháy ngọt ngào, giúp xua đi hơi lạnh.
Vừa lúc đó, một ông lão hàng xóm nhân từ, sống hiu quạnh trên căn gác mái bước qua ngưỡng cửa. Ông không vợ cũng chẳng có con, nhưng lại rất mực thương yêu những đứa trẻ, và bụng dạ thì chứa đầy vô vàn những câu chuyện cổ tích cùng truyền thuyết diệu kỳ; bởi thế, được nghe ông trò chuyện quả là một điều thật thú vị. "Nào, nếu con ngoan ngoãn uống trà," người mẹ dỗ dành, "biết đâu con sẽ được nghe một câu chuyện thật hay trong lúc chờ đợi."

"Thật vậy, giá mà tôi có thể nghĩ ra một câu chuyện mới mẻ nào đó để kể," ông lão mỉm cười. "Thế nhưng làm sao cậu nhóc này lại bị ướt sũng cả chân như vậy nhỉ?" ông hỏi.
"Ôi," người mẹ thở dài, "đó quả là điều mà tôi không tài nào hiểu nổi."
"Ông sẽ kể cho cháu nghe một câu chuyện chứ ạ?" cậu bé háo hức hỏi.
"Được thôi, miễn là cháu có thể tả chính xác cho ông nghe con mương nằm trong con hẻm nhỏ trên đường cháu đi học sâu đến nhường nào."
"Nước ngập đến tận nửa đầu gối cháu cơ ạ," cậu bé nhanh nhảu đáp; "đấy là nếu cháu đứng ngay ở giữa chỗ sâu nhất đấy!"
"Vậy thì chẳng khó để hiểu vì sao chúng ta lại bị ướt chân nữa rồi," ông lão bật cười. "Chà chà, giờ thì có lẽ ông phải kể một câu chuyện thôi, nhưng kẹt nỗi ông chẳng tài nào nhớ ra câu chuyện nào cả."
"Cháu biết thừa là ông có thể bịa ra một câu chuyện mà," cậu bé vui vẻ nói. "Mẹ bảo rằng ông có tài biến mọi thứ ông nhìn thấy thành một câu chuyện, và dệt nên một câu chuyện từ bất cứ thứ gì ông chạm vào."
"Chà, nhưng những câu chuyện cổ tích và truyền thuyết được thêu dệt ấy thì chẳng bõ bèn gì đâu. Những câu chuyện đích thực phải tự chúng tìm đến cơ; chúng sẽ gõ cửa tâm trí ông và gọi: 'Chúng tôi đến rồi đây!'"
"Vậy sắp có tiếng gõ cửa nào tìm đến ông chưa ạ?" cậu bé tò mò. Lúc ấy, người mẹ mỉm cười khi thả từng chùm hoa cơm cháy vào ấm trà và khẽ khàng rót thứ nước đang sôi sùng sục lên trên. "Ôi, ông kể cho cháu nghe một câu chuyện đi mà!"
"Được thôi, nếu câu chuyện tự nó tìm đến, bởi chưng thế giới cổ tích và truyền thuyết luôn mang tính khí kiêu kỳ; chúng chỉ ghé chơi khi nào chúng thích. Ấy, khoan đã," ông lão bỗng nhiên reo lên, "chúng ta có nó đây rồi; cháu thử nhìn xem kìa! Có hẳn một câu chuyện đang nảy mầm ngay trong ấm trà đấy."
Cậu bé tròn mắt nhìn vào ấm trà và kìa, chiếc nắp đang chầm chậm hé mở, những cành cây thon dài bắt đầu vươn ra, tuôn trào từ tận vòi ấm, từ từ vươn tỏa ra bốn phương tám hướng rồi lớn lên không ngừng, hóa thành một cây cơm cháy khổng lồ khoe sắc với muôn vàn đóa hoa trắng muốt. Cái cây dang những nhánh lá xanh um vươn tới tận chiếc giường, khẽ khàng vén tấm rèm cửa sang một bên, và ôi chao, những đóa hoa ấy mới tỏa ra một mùi hương ngây ngất làm sao!
Ngồi giữa tán cây ấy là một bà lão với khuôn mặt hiền hậu, khoác trên mình một bộ trang phục vô cùng kỳ lạ. Chiếc váy mang sắc xanh biếc, tựa như những vòm lá của cây cơm cháy, điểm xuyết bằng những đóa hoa cơm cháy trắng ngần. Quả thực, người ta khó lòng phân định nổi đường viền của chiếc váy ấy được dệt từ một loại lụa là nào đó, hay kết tinh từ chính những bông hoa có thật.
"Bà ấy tên là gì hở ông?" cậu bé ngước lên hỏi.
"Người La Mã và Hy Lạp xa xưa thường gọi bà là một nàng mộc tinh1," ông lão trầm ngâm đáp, "nhưng chúng ta vốn không quen với cái tên lạ lẫm ấy; chúng ta có một danh xưng thân thương hơn nhiều dành cho bà ở cái khu phố ven biển, nơi những người thủy thủ sinh sống. Họ trìu mến gọi bà là Bà mẹ Cây Cơm Cháy, và bây giờ, cháu hãy chăm chú dõi theo bà, dỏng tai lắng nghe trong lúc say sưa ngắm cái cây tuyệt mỹ này nhé.
"Đúng một bóng cây to lớn, nở rộ muôn vàn bông hoa ngát hương như thế này đang vươn cao ngoài kia, nơi góc một khoảnh sân nhỏ bé, nghèo nàn. Dưới gốc cây ấy, giữa một buổi chiều chan hòa ánh nắng, có hai vợ chồng già đang ngồi êm đềm bên nhau, một người thủy thủ già và người vợ của ông. Cả hai đã lên chức cụ, và sẽ sớm đón mừng ngày đám cưới vàng-theo phong tục ở nhiều quốc gia, tức là kỷ niệm năm mươi năm ngày hai người nên nghĩa vợ chồng. Còn Bà mẹ Cây Cơm Cháy đang ngự trên những tán lá kia, khuôn mặt rạng ngời vẻ mãn nguyện hệt như lúc này đây.
'Ta biết bao giờ đám cưới vàng sẽ diễn ra,' bà cất giọng, nhưng hai ông bà lão chẳng thể nghe thấy. Họ đang thả hồn trôi dạt về những năm tháng thuở thiếu thời. 'Bà còn nhớ không,' người thủy thủ già khẽ hỏi, 'hồi chúng mình còn bé xíu, hai đứa vẫn thường tung tăng chạy nhảy ngay giữa khoảnh sân nơi ta đang ngồi đây. Ta đã cắm những cành cây nhỏ nhặt nhạnh được quanh góc sân để giả vờ làm một mảnh vườn nhỏ.'
'Nhớ chứ,' bà lão mỉm cười đáp lời, 'tôi nhớ rõ lắm. Rồi chúng mình cùng nhau tưới tắm cho mấy nhành cây ấy. Một trong số đó là nhành cơm cháy đã đâm rễ bám vào lòng đất, nảy ra những lộc non xanh biếc, để rồi theo năm tháng, nó đã vươn mình thành một cây to che bóng mát cho hai ông bà chúng mình.'
'Phải rồi,' ông nói, 'và ngay góc đằng kia là chiếc thùng đựng nước. Hồi ấy tôi hay mang con thuyền buồm tự tay đẽo gọt ra đó thả; thuyền trôi cũng cừ khôi ra phết. Nhưng kể từ dạo đó, tôi đã làm quen với những chuyến căng buồm vươn ra biển lớn hoàn toàn khác biệt.'
'Thật vậy, nhưng trước khoảng thời gian ấy, chúng mình còn cắp sách đến trường,' bà nhẹ nhàng kể tiếp, 'và rồi cùng nhau sửa soạn cho buổi lễ kiên tín2. Hôm ấy, cả hai đứa mình đều khóc sưng cả mắt! Nhưng đến buổi chiều, chúng mình lại tay trong tay tung tăng dạo bước lên tháp tròn, ngắm nhìn toàn cảnh Copenhagen trải dài đến tận mặt biển. Rồi ta tới Fredericksburg, nơi đức vua và hoàng hậu đang lướt trên chiếc thuyền ngự lộng lẫy dọc theo các con kênh.'
'Và rồi, tôi đã phải căng buồm cho một cuộc hành trình xa xôi hơn thế rất nhiều, đi tới những miền đất lạ, cách xa quê nhà biết bao năm trời trên những chuyến hải trình dài ngày,' người thủy thủ già chậm rãi nói.
'Ôi chao, và tôi đã khóc vì ông biết bao nhiêu,' bà lão đáp lời, 'vì tôi cứ ngỡ ông đã nằm lại dưới biển sâu, bị những cơn sóng cuốn trôi không còn tăm tích. Đã bao đêm tôi tỉnh giấc, chỉ để ngước nhìn xem chiếc chong chóng gió ngoài kia đang xoay về hướng nào; dẫu nó cứ quay mải miết, mà bóng dáng ông vẫn bặt tăm. Tôi nhớ như in một ngày mưa rơi xối xả như trút nước, người dọn rác đánh xe đến chỗ tôi đang đi ở đợ để dọn đi rác rưởi. Tôi tay xách thùng rác bước xuống và khựng lại nơi bậc cửa chốc lát-trời đất lúc ấy sao mà ảm đạm thế!-và giữa lúc tôi đang đứng chôn chân ở đó, người đưa thư bước đến, trao tận tay tôi một bức thư do chính ông gửi về.
'Bức thư ấy đã vượt qua một chặng đường dài biết nhường nào! Tôi vội vàng xé bọc thư và đọc ngay lập tức. Tôi vừa cười lại vừa khóc, lòng vui sướng vô cùng. Bức thư viết rằng ông đang đặt chân đến những vùng đất ấm áp, nơi những hạt cà phê nảy mầm sinh trưởng, một đất nước tuyệt đẹp biết bao, cùng với bao điều kỳ diệu khác. Và thế là tôi cứ đứng ngẩn ngơ đọc cạnh đống rác, mặc cho mưa rơi rả rích, thì bỗng nhiên, một vòng tay từ đâu ôm choàng lấy eo tôi.'
'Đúng thế, và bà đã cho người ta một cái bạt tai đau đến mức tai kêu ong ong,' ông lão trêu chọc.
'Lúc ấy tôi đâu có biết là ông cơ chứ,' bà lão biện bạch; 'bởi ông trở về nhanh y như bức thư của ông vậy, dáng vẻ thì bảnh bao làm sao, và đến tận bây giờ, ông vẫn y như thế. Ông nhét chiếc khăn tay lụa lớn màu vàng trong túi áo và đội một chiếc mũ bóng loáng trên đầu. Trông ông mới tuyệt làm sao. Mặc cho thời tiết ngày hôm ấy tồi tệ thế nào, mặc cho con phố có u ám đến đâu!'
'Và rồi, bà còn nhớ không,' ông lão nhẹ giọng hỏi, 'khi chúng ta nên duyên vợ chồng, và đứa con trai đầu lòng của chúng ta chào đời, rồi lần lượt đến Marie, Niels, Peter, và cả Hans Christian nữa?'
'Chắc chắn là tôi nhớ chứ,' bà lão đáp; 'giờ đây, tất thảy bọn trẻ đều đã khôn lớn, trở thành những người đàn ông, người phụ nữ đáng kính, đi đâu cũng được mọi người yêu mến.'
'Và giờ bọn trẻ lại có những thiên thần nhỏ của riêng mình,' người thủy thủ già hân hoan. 'Chúng mình đã có cả một bầy chắt, đứa nào đứa nấy đều khỏe mạnh, rắn rỏi. Có phải chúng mình cũng đã kết hôn vào đúng khoảng thời gian này trong năm không nhỉ?'
'Đúng vậy, và hôm nay chính là ngày kỷ niệm đám cưới vàng đó, các con!' Bà mẹ Cây Cơm Cháy reo lên, ló đầu ra ngay giữa hai ông bà lão; và họ chỉ nghĩ rằng đó là một người hàng xóm thân thiện đang gật đầu chào hỏi. Rồi họ mỉm cười nhìn nhau, tay đan chặt vào nhau. Một lát sau, con cái và đám cháu chắt ùa ra, những người nhớ như in rằng hôm nay là ngày đám cưới vàng. Chút nữa thì hai ông bà đã quên mất lời chúc mừng từ tụi trẻ vào chính buổi sáng hôm đó, dẫu cho họ nhớ rõ mồn một từng kỷ niệm đã trôi qua tự thuở nào. Cây cơm cháy đưa hương dịu nhẹ, ánh tà dương hắt những tia nắng vàng lên khuôn mặt đầy nếp nhăn của hai ông bà lão, mang đến cho đôi gò má họ một sắc hồng ấm áp. Đứa chắt nhỏ tuổi nhất chạy nhảy quanh hai cụ, vui vẻ nói rằng tối nay mọi người sẽ có một bữa tiệc thật ngon, và sẽ có món khoai tây nóng hổi. Lúc này, Bà mẹ Cây Cơm Cháy gật gù trên cành cao, reo vang 'Hoan hô!' cùng tất cả mọi người."
"Nhưng nãy giờ đâu phải là một câu chuyện cổ tích," cậu bé nãy giờ vẫn đang lắng nghe bèn lên tiếng.
"Phải đợi đến khi cháu hiểu được ý nghĩa của nó cơ," ông lão ôn tồn đáp lời. "Nhưng hãy nhờ Bà mẹ Cây Cơm Cháy giải thích cho cháu nghe nhé."
"Đó không hẳn là một câu chuyện cổ tích," Bà mẹ Cây Cơm Cháy đáp lời, "nhưng câu chuyện thực sự đang bắt đầu, và đây là một câu chuyện có thật. Bởi lẽ, từ chính hiện thực cuộc sống, những câu chuyện tuyệt vời nhất mới nảy nở và lớn lên, giống như khóm cơm cháy xinh đẹp của ta đã lớn lên từ chiếc ấm trà vậy." Rồi bà bế bổng cậu bé ra khỏi chiếc giường nhỏ, đặt cậu ngồi trong lòng mình. Những cành hoa cơm cháy đang nở rộ khẽ vươn ra, đan vào nhau thành một mái vòm che chở cho hai bà cháu, y như một chòi lá xanh mát, và rồi chòi lá ấy nhấc bổng họ lên, nhẹ nhàng lướt đi giữa không trung thật diệu kỳ.
Rồi Bà mẹ Cây Cơm Cháy bỗng chốc hóa thành một thiếu nữ xinh đẹp. Chiếc váy nàng mặc vẫn giữ nguyên sắc xanh biếc, điểm xuyết dọc gấu váy là đường viền hoa cơm cháy trắng muốt hệt như trang phục của Bà mẹ Cây Cơm Cháy khi nãy. Trước ngực, nàng cài một bông hoa cơm cháy nở rộ, và một vòng hoa kết từ loài hoa ấy cũng được đội trên những lọn tóc uốn lượn. Đôi mắt to tròn của nàng mang một sắc xanh thẳm, trông thật tuyệt đẹp. Nàng trạc tuổi cậu bé. Cả hai trao nhau cái hôn, trong lòng ngập tràn niềm vui sướng.
Nắm chặt tay nhau, hai đứa trẻ bước ra khỏi chòi lá và chợt nhận ra mình đang đứng giữa khu vườn hoa muôn sắc của gia đình. Trên thảm cỏ xanh mướt mát, cây gậy của cha cậu bé được buộc lại ở đó. Đối với lũ trẻ, cây gậy ấy như có một sức sống diệu kỳ, bởi vừa ngồi lên, cái núm trắng toát tức thì hóa thành đầu ngựa đang hí vang. Chiếc bờm đen nhánh tung bay trong gió, và bốn đôi chân thon thả vươn dài. Chú ngựa dũng mãnh, đầy sức sống, cõng cả hai phi nước đại vòng quanh bãi cỏ.
"Hoan hô! Giờ thì chúng ta sẽ cưỡi ngựa đi thật xa," cậu bé reo vang; "chúng ta sẽ phi tới tận điền trang của vị bá tước, nơi chúng ta từng dạo chơi vào năm ngoái."
Chú ngựa gỗ lại rẽ gió lướt quanh bãi cỏ, và cô bé-vốn dĩ chính là Bà mẹ Cây Cơm Cháy-không ngừng reo vui: "Bây giờ chúng ta đang ở chốn thôn quê rồi. Cậu có thấy ngôi nhà nông trại đằng kia không? Chiếc lò nướng bánh khổng lồ nhô ra từ bức tường ven đường trông hệt như một quả trứng vĩ đại! Một cây cơm cháy đang vươn cành lá rợp bóng che chở bên trên, và một chú gà trống đang oai vệ dạo bước, bới đất tìm giun cho đàn con nhỏ. Nhìn chú ta sải bước oai phong chưa kìa!
"Chớp mắt đã tới gần nhà thờ rồi. Nó tọa lạc ngay trên đỉnh đồi, chìm trong bóng râm mát rượi của những tán sồi cổ thụ, trong đó có một cây đã khô héo non nửa. Nhìn kìa, chúng ta đang đi qua lò rèn. Ngọn lửa cháy rực rỡ mới lóa mắt làm sao! Những người thợ rèn cởi trần đang nện búa chan chát lên thanh sắt đỏ rực, khiến những luồng tia lửa bắn tung tóe tựa mưa sao. Nào, phi tiếp thôi, thẳng tiến tới điền trang lộng lẫy của vị bá tước!" Cậu bé thu vào tầm mắt mọi cảnh vật cô bé vừa kể khi nàng ngồi nép sau lưng cậu trên lưng ngựa gỗ. Những hình ảnh ấy cứ vun vút lướt qua trước mắt, dù thực ra họ chỉ đang mải miết xoay vòng quanh bãi cỏ ở nhà. Sau đó, cả hai vui đùa trên lối đi phụ, ríu rít cào xới lớp đất mịn để đắp thành một khu vườn bé xinh. Cô bé nhẹ nhàng gỡ những đóa cơm cháy vương trên tóc, ươm xuống lớp đất mềm, và chúng thoắt vươn mình lớn bổng-hệt như những khóm hoa mà cậu từng nghe hai ông bà lão kể lại, những bông hoa họ đã vun trồng từ thuở ấu thơ. Họ cũng nắm tay nhau dạo bước, y như đôi vợ chồng già thuở thanh mai trúc mã, nhưng họ không đi lên ngọn tháp tròn hay dạo quanh khu vườn Fredericksburg. Không đâu; cô bé ôm nhẹ ngang eo cậu, và chú ngựa đưa họ băng qua khắp mọi nẻo đường đất nước. Hết mùa xuân đâm chồi đến mùa hạ ươm nắng, rồi mùa thu đổ lá và mùa đông gọi tuyết nối tiếp nhau trôi. Hàng ngàn khung cảnh kỳ diệu in bóng vào ánh mắt và khắc sâu vào trái tim cậu bé, trong khi tiếng hát của cô bé vẫn văng vẳng bên tai: "Cậu không bao giờ được quên tất cả những điều này." Và dọc suốt hành trình ấy, cây cơm cháy luôn tỏa ra một làn hương ngào ngạt, vấn vương nhất.
Họ lướt qua những bụi hồng thắm vương và những tán sồi xanh mơn mởn, nhưng hương thơm ngát của hoa cơm cháy vẫn lấn át tất thảy. Bởi lẽ, những đóa hoa ấy đang e ấp nở bung quanh trái tim của cô bé, nơi cậu bé vẫn thường ngả đầu tựa vào suốt chuyến viễn du mộng tưởng.
"Chốn này vào mùa xuân mới tuyệt đẹp làm sao," cô bé lên tiếng khi cả hai đang đứng giữa khu rừng sồi mang lớp áo lá xanh non mượt mà. Dưới gót chân họ, loài cỏ xạ hương tỏa hương thơm ngát và những đóa hải quỳ đang hé nở tạo nên một tấm thảm hoa mỏng manh, tinh khôi giữa lớp cỏ êm ái. "Ôi, giá như khu rừng sồi thơm ngát này có thể níu giữ mùa xuân mãi mãi!"
"Chốn này vào mùa hạ quả là tuyệt đẹp," nàng lên tiếng. Cả hai bay ngang qua những tòa lâu đài cổ kính của các hiệp sĩ ngày xưa, và ngắm nhìn những bức tường thành sừng sững cùng những mái đầu hồi nhọn hoắt đổ bóng xuống dòng sông đang lững lờ trôi bên dưới. Nơi mặt nước, đàn thiên nga kiêu hãnh rẽ sóng, đôi lúc lại vươn cổ ngó nghiêng vào những lối đi rợp bóng cây râm mát. Khắp các cánh đồng, những dải lúa mì chín vàng đung đưa nhịp nhàng tựa sóng biển nhấp nhô. Những bông hoa đỏ thắm và vàng rực điểm xuyết giữa đống đổ nát điêu tàn, còn các bờ giậu thì được phủ kín bởi những chùm hoa bia hoang dại và hoa bìm bìm bung nở khoe sắc. Khi hoàng hôn buông xuống, vầng trăng nhô cao tròn vành vạnh và tỏa ánh sáng bàng bạc, còn những ụ cỏ khô trên đồng cỏ ướp đầy không gian bằng hương thơm ngòn ngọt. Đó thực sự là những bức tranh phong cảnh khắc cốt ghi tâm.
"Chốn này vào mùa thu lại mang vẻ đẹp riêng," cô bé cất lời, và cảnh vật lại vụt biến đổi. Vòm trời nhô lên cao vút và xanh thăm thẳm hơn bao giờ hết, còn khu rừng thì ngập tràn trong những sắc đỏ, xanh lục, và vàng ươm. Bầy chó săn chạy thoăn thoắt trong một cuộc săn bắn náo nhiệt, và những đàn chim hoang dã khổng lồ kêu quang quác, vỗ cánh bay lướt qua những nấm mồ cổ xưa của người Hun3, nơi những bụi mâm xôi đang bám quanh những phiến đá hoang tàn. Mặt biển xanh thẫm xa xa được tô điểm bởi những cánh buồm trắng muốt, và trong những nhà kho tấp nập, từ các bà lão, các thiếu nữ cho đến lũ trẻ nhỏ đều đang quây quần nhặt nụ hoa bia thả vào chiếc thùng sồi lớn. Lũ trẻ nghêu ngao hát ca, còn các bà lão thì râm ran kể những câu chuyện cổ tích về các thầy pháp và phù thủy quyền năng. Thật chẳng còn điều gì bình yên và êm ả hơn thế.
"Và rồi," cô bé nói, "nơi đây lại tuyệt đẹp vào mùa đông." Trong chớp mắt, mọi nhành cây ngọn cỏ đều phủ một lớp sương muối trắng toát, hệt như những rạn san hô trắng muốt. Tuyết kêu lạo xạo dưới mỗi bước chân, hệt như khi ai đó ướm thử một đôi bốt da mới tinh. Trên cao, hết vì sao băng này đến vì tinh tú khác lướt ngang bầu trời đêm. Lấp ló sau ô cửa sổ của những căn phòng ấm cúng, người ta có thể trông thấy những cây thông Noel rực rỡ, khoác lên mình những món quà lấp lánh và tỏa sáng rạng ngời giữa không khí lễ hội ngập tràn hân hoan. Trong các túp lều tranh, tiếng đàn vĩ cầm réo rắt vang lên hòa cùng tiếng cười đùa của trò chơi cắn táo treo. Niềm vui len lỏi đến mức, ngay cả đứa trẻ bần hàn nhất cũng phải thốt lên: "Mùa đông mới tuyệt diệu làm sao!"
Mọi khung cảnh cô bé mở ra trước mắt cậu quả thực vô cùng đẹp đẽ. Không gian xung quanh họ luôn phảng phất hương thơm của hoa cơm cháy, và trên đỉnh đầu, lá cờ nền đỏ rực in hình chữ thập trắng-lá cờ mà người thủy thủ già từng giương cao khi rẽ sóng ra khơi-không ngừng phần phật tung bay. Cậu bé ngày nào nay đã lớn lên thành một chàng thanh niên trai tráng. Cậu trở thành một thủy thủ, vượt đại dương ra biển lớn bao la, giong buồm đến những vùng đất ấm áp nơi những đồi cà phê bạt ngàn sinh trưởng. Trong giây phút chia ly, cô bé đã tự tay tháo nụ hoa cơm cháy đính trên ngực áo trao cho cậu làm kỷ vật. Chàng thủy thủ cẩn thận ép đóa hoa vào giữa cuốn sách thánh ca. Mỗi khi lật giở trang sách ở chốn viễn xứ xa xôi, cậu luôn tìm về nơi đóa hoa kỷ niệm ấy nằm yên ngoan. Và kỳ lạ thay, cậu càng đắm đuối ngắm nhìn, đóa hoa dường như càng tỏa ra sắc thắm tươi rói. Cậu như thể được hít căng lồng ngực bầu không khí thân thuộc của núi rừng quê hương. Từ giữa những cánh hoa mỏng manh, cậu thấy cô bé đang dịu dàng âu yếm nhìn mình bằng đôi mắt xanh biếc trong veo, và nghe văng vẳng bên tai tiếng nàng thì thầm: "Quê nhà ta thật đẹp vào mùa xuân và mùa hạ, vào mùa thu và cả mùa đông." Cùng lúc ấy, hàng trăm thước phim sống động về cố hương cuồn cuộn lướt qua miền ký ức.
Bẵng đi nhiều năm dài, chàng thủy thủ năm xưa giờ đây đã hóa thành một ông lão. Ông đang ngồi kề bên người vợ già của mình dưới bóng cây cơm cháy đang kỳ nở rộ. Hai ông bà nắm chặt tay nhau, hệt như người ông cố và bà cố ngày trước, cùng nhau ôn lại những kỷ niệm ngày xưa và kể chuyện về lễ cưới vàng của mình. Đột nhiên, cô bé với đôi mắt xanh biếc lấp lánh và những đóa hoa cơm cháy đan trên mái tóc an tọa trên nhánh cây, khẽ gật đầu chào họ và cất giọng ngân nga: "Hôm nay là lễ cưới vàng."

Nói đoạn, cô bé ngắt lấy hai đóa hoa từ vòng hoa trên đầu rồi khẽ hôn lên đó. Tức thì, những cánh hoa bừng sáng, thoạt tiên ánh lên sắc bạc, rồi sau đó chuyển thành sắc vàng rực rỡ. Ngay khi cô đặt chúng lên chỏm tóc bạc của hai ông bà lão, mỗi đóa hoa liền biến hóa thành một chiếc vương miện bằng vàng ròng vương giả. Hai vợ chồng già ngồi uy nghi tựa một vị đức vua và hoàng hậu dưới tán cây ngát hương-cái cây trông vẫn y như một bụi cơm cháy xum xuê. Bấy giờ, ông móm mém kể cho người vợ hiền nghe truyền thuyết về Bà mẹ Cây Cơm Cháy, y hệt từng lời ông đã vểnh tai nghe khi còn là một cậu nhóc. Nghe xong, cả hai chợt nhận ra bóng dáng cuộc đời mình thấp thoáng trong câu chuyện ấy, nhất là ở những chương hồi đong đầy yêu thương mà họ nâng niu nhất.
"Chà, và câu chuyện trọn vẹn là như vậy đó," cô bé ngồi trên cành cây vắt vẻo cất tiếng. "Có người gọi ta là Bà mẹ Cây Cơm Cháy, kẻ khác lại xưng tụng ta là mộc tinh, nhưng tên thật của ta là Ký Ức. Ta chính là người đã ngồi trên ngọn cây này từ lúc nó còn là mầm non cho đến khi lớn lên. Ta luôn nhớ về quá khứ và biết rõ mọi chuyện để kể lại cho đời. Để ta xem, các con có còn lưu giữ đóa hoa năm nào không nhé."
Chậm rãi, ông lão giở cuốn sách thánh ca cũ kỹ ra. Đóa hoa cơm cháy vẫn nằm im lìm nơi ấy, tươi rói và vẹn nguyên như thể vừa mới được cẩn thận ép vào hôm qua, và Ký Ức khẽ mỉm cười gật đầu. Hai ông bà lão với những chiếc vương miện bằng vàng đội đầu ngồi an yên trong quầng sáng đỏ rực của ráng chiều rồi thanh thản nhắm nghiền đôi mắt, và-và-câu chuyện khép lại.
Cậu bé vẫn nằm cuộn tròn trên giường, mơ màng không rõ mình đang chìm trong giấc mộng hay đang dỏng tai nghe một câu chuyện cổ. Chiếc ấm trà vẫn nằm ngoan ngoãn trên bàn, chẳng có bụi cơm cháy diệu kỳ nào vươn nhánh từ trong đó. Và ông lão, người thực sự đã kể câu chuyện ban nãy, đang đứng tần ngần trước ngưỡng cửa, rục rịch chuẩn bị ra về.
"Một chuyến phiêu lưu mới tuyệt vời làm sao," cậu bé reo lên háo hức. "Mẹ ơi, con đã được dong buồm tới những miền đất ấm áp."
"Mẹ hoàn toàn tin điều đó," mẹ cậu mỉm cười đáp lời. "Khi một người uống cạn hai tách trà hoa cơm cháy nóng hổi, người đó thừa sức viễn du tới những miền đất ấm áp cơ chứ"; nói rồi, mẹ ân cần vén chăn đắp kín cho cậu bé, để cậu khỏi nhiễm lạnh. "Con đã ngủ một giấc thật sâu trong lúc mẹ mải mê tranh luận với ông lão xem đó là một câu chuyện có thật hay một truyền thuyết cổ tích chốn dân gian."
"Thế Bà mẹ Cây Cơm Cháy biến đi đâu mất rồi hả mẹ?" cậu bé nũng nịu hỏi.
"Bà ấy vẫn ngoan ngoãn chui trong ấm trà thôi," mẹ đáp, "và bà ấy có thể trú ngụ luôn trong đó cũng được."
-
Nguyên gốc ám chỉ Dryad, những nữ thần cây trong thần thoại Hy Lạp - La Mã, tương truyền sinh mệnh của họ gắn liền với một thân cây cụ thể. ↩
-
Nghi thức tôn giáo quan trọng trong các giáo hội Kitô giáo ở phương Tây, thường diễn ra khi những đứa trẻ bước vào tuổi thiếu niên (khoảng 14 tuổi), đánh dấu sự trưởng thành về mặt nhận thức và tâm linh. ↩
-
Người Hun là một liên minh các bộ lạc du mục cổ đại. Tại Đan Mạch, những di tích mộ đá khổng lồ (megalith) thời tiền sử thường được dân gian gán gọi là mộ của người Hun. ↩
ELDER-TREE MOTHER
HERE was once a little boy who had taken cold by going out and getting his feet wet. No one could think how he had managed to do so, for the weather was quite dry. His mother undressed him and put him to bed, and then she brought in the teapot to make him a good cup of elder tea, which is so warming.
At the same time the friendly old man who lived all alone at the top of the house came in at the door. He had neither wife nor child, but he was very fond of children and knew so many fairy tales and stories that it was a pleasure to hear him talk. "Now, if you drink your tea," said the mother, "very likely you will have a story in the meantime."
"Yes, if I could think of a new one to tell," said the old man. "But how did the little fellow get his feet wet?" asked he.
"Ah," said the mother, "that is what we cannot make out."
"Will you tell me a story?" asked the boy.
"Yes, if you can tell me exactly how deep the gutter is in the little street through which you go to school."
"Just halfway up to my knee," said the boy, promptly; "that is, if I stand in the deepest part."
"It is easy to see how we got our feet wet," said the old man. "Well, now I suppose I ought to tell a story, but really I don't know any more."
"You can make up one, I know," said the boy. "Mother says that you can turn everything you look at into a story, and everything, even, that you touch."
"Ah, but those tales and stories are worth nothing. The real ones come of themselves; they knock at my forehead and say, 'Here we are!'"
"Won't there be a knock soon?" asked the boy. And his mother laughed as she put elder flowers in the teapot and poured boiling water over them. "Oh, do tell me a story."
"Yes, if a story comes of itself, but tales and stories are very grand; they only come when it pleases them. Stop," he cried all at once, "here we have it; look! there is a story in the teapot now."
The little boy looked at the teapot and saw the lid raise itself gradually and long branches stretch out, even from the spout, in all directions till they became larger and larger, and there appeared a great elder tree covered with flowers white and fresh. It spread itself even to the bed and pushed the curtains aside, and oh, how fragrant the blossoms were!
In the midst of the tree sat a pleasant-looking old woman in a very strange dress. The dress was green, like the leaves of the elder tree, and was decorated with large white elder blossoms. It was not easy to tell whether the border was made of some kind of stuff or of real flowers.
"What is that woman's name?" asked the boy.
"The Romans and Greeks called her a dryad," said the old man, "but we do not understand that name; we have a better one for her in the quarter of the town where the sailors live. They call her Elder-flower Mother, and you must pay attention to her now, and listen while you look at the beautiful tree.
"Just such a large, blooming tree as this stands outside in the corner of a poor little yard, and under this tree, one bright sunny afternoon, sat two old people, a sailor and his wife. They had great-grandchildren, and would soon celebrate the golden wedding, which is the fiftieth anniversary of the wedding day in many countries, and the Elder Mother sat in the tree and looked as pleased as she does now.
"'I know when the golden wedding is to be,' said she, but they did not hear her; they were talking of olden times. 'Do you remember,' said the old sailor, 'when we were quite little and used to run about and play in the very same yard where we are now sitting, and how we planted little twigs in one corner and made a garden?'
"'Yes,' said the old woman, 'I remember it quite well; and how we watered the twigs, and one of them was a sprig of elder that took root and put forth green shoots, until in time it became the great tree under which we old people are now seated.'
"'To be sure,' he replied, 'and in that corner yonder stands the water butt in which I used to swim my boat that I had cut out all myself; and it sailed well too. But since then I have learned a very different kind of sailing.'
"'Yes, but before that we went to school,' said she, 'and then we were prepared for confirmation. How we both cried on that day! But in the afternoon we went hand in hand up to the round tower and saw the view over Copenhagen and across the water; then we went to Fredericksburg, where the king and queen were sailing in their beautiful boat on the canals.'
"'But I had to sail on a very different voyage elsewhere and be away from home for years on long voyages,' said the old sailor.
"'Ah yes, and I used to cry about you,' said she, 'for I thought you must be lying drowned at the bottom of the sea, with the waves sweeping over you. And many a time have I got up in the night to see if the weathercock had turned; it turned often enough, but you came not. How well I remember one day the rain was pouring down from the skies, and the man came to the house where I was in service to take away the dust. I went down to him with the dust box and stood for a moment at the door,-what shocking weather it was!-and while I stood there the postman came up and brought me a letter from you.
"'How that letter had traveled about! I tore it open and read it. I laughed and wept at the same time, I was so happy. It said that you were in warm countries where the coffee berries grew, and what a beautiful country it was, and described many other wonderful things. And so I stood reading by the dustbin, with the rain pouring down, when all at once somebody came and clasped me round the waist.'
"'Yes, and you gave him such a box on the ears that they tingled,' said the old man.
"'I did not know that it was you,' she replied; 'but you had arrived as quickly as your letter, and you looked so handsome, and, indeed, so you are still. You had a large yellow silk handkerchief in your pocket and a shiny hat on your head. You looked quite fine. And all the time what weather it was, and how dismal the street looked!'
"'And then do you remember,' said he, 'when we were married, and our first boy came, and then Marie, and Niels, and Peter, and Hans Christian?'
"'Indeed I do,' she replied; 'and they are all grown up respectable men and women, whom every one likes.'
"'And now their children have little ones,' said the old sailor. 'There are great-grandchildren for us, strong and healthy too. Was it not about this time of year that we were married?'
"'Yes, and to-day is the golden-wedding day,' said Elder-tree Mother, popping her head out just between the two old people; and they thought it was a neighbor nodding to them. Then they looked at each other and clasped their hands together. Presently came their children and grand*-children, who knew very well that it was the golden-wedding day. They had already wished them joy on that very morning, but the old people had forgotten it, although they remembered so well all that had happened many years before. And the elder tree smelled sweet, and the setting sun shone upon the faces of the old people till they looked quite ruddy. And the youngest of their grandchildren danced round them joyfully, and said they were going to have a feast in the evening, and there were to be hot potatoes. Then the Elder Mother nodded in the tree and cried 'Hurrah!' with all the rest."
"But that is not a story," said the little boy who had been listening.
"Not till you understand it," said the old man. "But let us ask the Elder Mother to explain it."
"It was not exactly a story," said the Elder Mother, "but the story is coming now, and it is a true one. For out of truth the most wonderful stories grow, just as my beautiful elder bush has sprung out of the teapot." And then she took the little boy out of bed and laid him on her bosom, and the blooming branches of elder closed over them so that they sat, as it were, in a leafy bower, and the bower flew with them through the air in the most delightful manner.
Then the Elder Mother all at once changed to a beautiful young maiden, but her dress was still of the same green stuff, ornamented with a border of white elder blossoms such as the Elder Mother had worn. In her bosom she wore a real elder flower, and a wreath of the same was entwined in her golden ringlets. Her large blue eyes were very beautiful to look at. She was of the same age as the boy, and they kissed each other and felt very happy.
They left the arbor together, hand in hand, and found themselves in a beautiful flower garden which belonged to their home. On the green lawn their father's stick was tied up. There was life in this stick for the little ones, for no sooner did they place themselves upon it than the white knob changed into a pretty neighing head with a black, flowing mane, and four long, slender legs sprung forth. The creature was strong and spirited, and galloped with them round the grassplot.
"Hurrah! now we will ride many miles away," said the boy; "we'll ride to the nobleman's estate, where we went last year."
Then they rode round the grassplot again, and the little maiden, who, we know, was Elder-tree Mother, kept crying out: "Now we are in the country. Do you see the farmhouse, with a great baking oven standing out from the wall by the road-side like a gigantic egg? There is an elder spreading its branches over it, and a cock is marching about and scratching for the chickens. See how he struts!
"Now we are near the church. There it stands on the hill, shaded by the great oak trees, one of which is half dead. See, here we are at the blacksmith's forge. How the fire burns! And the half-clad men are striking the hot iron with the hammer, so that the sparks fly about. Now then, away to the nobleman's beautiful estate!" And the boy saw all that the little girl spoke of as she sat behind him on the stick, for it passed before him although they were only galloping round the grassplot. Then they played together in a side walk and raked up the earth to make a little garden. Then she took elder flowers out of her hair and planted them, and they grew just like those which he had heard the old people talking about, and which they had planted in their young days. They walked about hand in hand too, just as the old people had done when they were children, but they did not go up the round tower nor to Fredericksburg garden. No; but the little girl seized the boy round the waist, and they rode all over the whole country (sometimes it was spring, then summer; then autumn and winter followed), while thousands of images were presented to the boy's eyes and heart, and the little girl constantly sang to him, "You must never forget all this." And through their whole flight the elder tree sent forth the sweetest fragrance.
They passed roses and fresh beech trees, but the perfume of the elder tree was stronger than all, for its flowers hung round the little maiden's heart, against which the boy so often leaned his head during their flight.
"It is beautiful here in the spring," said the maiden, as they stood in a grove of beech trees covered with fresh green leaves, while at their feet the sweet-scented thyme and blushing anemone lay spread amid the green grass in delicate bloom. "O that it were always spring in the fragrant beech groves!"
"Here it is delightful in summer," said the maiden, as they passed old knights' castles telling of days gone by and saw the high walls and pointed gables mirrored in the rivers beneath, where swans were sailing about and peeping into the cool green avenues. In the fields the corn waved to and fro like the sea. Red and yellow flowers grew amongst the ruins, and the hedges were covered with wild hops and blooming convolvulus. In the evening the moon rose round and full, and the haystacks in the meadows filled the air with their sweet scent. These were scenes never to be forgotten.
"It is lovely here also in autumn," said the little maiden, and then the scene changed again. The sky appeared higher and more beautifully blue, while the forest glowed with colors of red, green, and gold. The hounds were off to the chase, and large flocks of wild birds flew screaming over the Huns' graves, where the blackberry bushes twined round the old ruins. The dark blue sea was dotted with white sails, and in the barns sat old women, maidens, and children picking hops into a large tub. The young ones sang songs, and the old ones told fairy tales of wizards and witches. There could be nothing more pleasant than all this.
"Again," said the maiden, "it is beautiful here in winter." Then in a moment all the trees were covered with hoarfrost, so that they looked like white coral. The snow crackled beneath the feet as if every one had on new boots, and one shooting star after another fell from the sky. In warm rooms there could be seen the Christmas trees, decked out with presents and lighted up amid festivities and joy. In the country farmhouses could be heard the sound of a violin, and there were games for apples, so that even the poorest child could say, "It is beautiful in winter."
And beautiful indeed were all the scenes which the maiden showed to the little boy, and always around them floated the fragrance of the elder blossom, and ever above them waved the red flag with the white cross, under which the old seaman had sailed. The boy-who had become a youth, and who had gone as a sailor out into the wide world and sailed to warm countries where the coffee grew, and to whom the little girl had given an elder blossom from her bosom for a keepsake, when she took leave of him-placed the flower in his hymn book; and when he opened it in foreign lands he always turned to the spot where this flower of remembrance lay, and the more he looked at it the fresher it appeared. He could, as it were, breathe the homelike fragrance of the woods, and see the little girl looking at him from between the petals of the flower with her clear blue eyes, and hear her whispering, "It is beautiful here at home in spring and summer, in autumn and in winter," while hundreds of these home scenes passed through his memory.
Many years had passed, and he was now an old man, seated with his old wife under an elder tree in full blossom. They were holding each other's hands, just as the great-grandfather and grandmother had done, and spoke, as they did, of olden times and of the golden wedding. The little maiden with the blue eyes and with the elder blossoms in her hair sat in the tree and nodded to them and said, "To-day is the golden wedding."
And then she took two flowers out of her wreath and kissed them, and they shone first like silver and then like gold, and as she placed them on the heads of the old people, each flower became a golden crown. And there they sat like a king and queen under the sweet-scented tree, which still looked like an elder bush. Then he related to his old wife the story of the Elder-tree Mother, just as he had heard it told when he was a little boy, and they both fancied it very much like their own story, especially in parts which they liked the best.
"Well, and so it is," said the little maiden in the tree. "Some call me Elder Mother, others a dryad, but my real name is Memory. It is I who sit in the tree as it grows and grows, and I can think of the past and relate many things. Let me see if you have still preserved the flower."
Then the old man opened his hymn book, and there lay the elder flower, as fresh as if it had only just been placed there, and Memory nodded. And the two old people with the golden crowns on their heads sat in the red glow of the evening sunlight and closed their eyes, and-and-the story was ended.
The little boy lay in his bed and did not quite know whether he had been dreaming or listening to a story. The teapot stood on the table, but no elder bush grew out of it, and the old man who had really told the tale was on the threshold and just going out at the door.
"How beautiful it was," said the little boy. "Mother, I have been to warm countries."
"I can quite believe it," said his mother. "When any one drinks two full cups of elder-flower tea, he may well get into warm countries"; and then she covered him up, that he should not take cold. "You have slept well while I have been disputing with the old man as to whether it was a real story or a fairy legend."
"And where is the Elder-tree Mother?" asked the boy.
"She is in the teapot," said the mother, "and there she may stay."
