
NGÔI NHÀ CỔ

MỘT ngôi nhà rất đỗi cổ kính từng tọa lạc trên một con phố cùng với dăm ba ngôi nhà mới mẻ và tươm tất. Người ta có thể đọc được năm tháng cất lên ngôi nhà ấy được chạm khắc hẳn hoi trên một thanh xà ngang, bao quanh bởi những cuộn hoa văn uốn lượn hình hoa tulip và dây hoa bia; qua năm tháng tạc ghi này, ai nấy đều biết ngôi nhà đã ngót nghét ba trăm năm tuổi. Những vần thơ trọn vẹn cũng được nắn nót phía trên các ô cửa sổ bằng nét chữ cổ xưa, và từ dưới mái hiên, những khuôn mặt chạm trổ kỳ dị cứ nhăn nhở cười với người qua kẻ lại. Tầng trên nhô hẳn ra ngoài so với tầng dưới một đoạn dài, còn chạy dọc dưới mái nhà là một chiếc máng xối bằng chì với phần đuôi uốn thành một cái đầu rồng. Lẽ ra nước mưa phải tuôn trào từ miệng rồng, nhưng rốt cuộc dòng nước lại túa ra từ giữa thân rồng, bởi chiếc máng xối đã thủng một lỗ từ bao giờ.
Tất thảy những căn nhà khác dọc con phố đều được xây cất vững chãi, tinh tươm, nổi bật với những khung cửa sổ rộng thênh thang và những bức tường nhẵn mịn. Bất kỳ ai cũng có thể thấy chúng chẳng mảy may có chút liên quan nào tới ngôi nhà cổ kính kia. Rất có thể chúng đang nghĩ thầm: "Cái đống rác rưởi ấy còn định nằm ở đây bao lâu nữa, để làm xấu mặt cả con phố? Bờ tường thì nhô ra quá mức che khuất cả tầm nhìn, khiến chẳng ai nhìn qua cửa sổ nhà chúng ta mà hay biết chuyện gì đang xảy ra ở hướng đó. Những bậc thềm thì rộng thênh thang như cầu thang lâu đài, lại dốc ngược cứ như đường lên tháp chuông nhà thờ. Hàng rào sắt thì nom chẳng khác nào cổng nghĩa trang, lại còn gắn cả mấy cái núm đồng. Thật là nực cười hết sức!"
Đối diện với ngôi nhà cổ là một dãy những nếp nhà mới khang trang khác, và chúng cũng mang chung một suy nghĩ hệt như những người hàng xóm của mình.
Bên khung cửa sổ của một trong những ngôi nhà mới ấy, có một cậu bé đang ngồi với đôi má ửng hồng tươi tắn và đôi mắt sáng trong vắt, lấp lánh. Cậu bé say đắm ngôi nhà cổ vô cùng, dù là dưới ánh mặt trời rạng rỡ hay dưới vầng trăng bàng bạc. Cậu thường ngồi mải miết ngắm nghía bức tường, nơi những mảng vữa đã tróc lở đôi chỗ, rồi mặc sức tưởng tượng ra muôn vàn cảnh tượng từng diễn ra vào những thuở xa xưa - con phố này hẳn đã mang dáng vẻ ra sao khi mọi ngôi nhà đều vươn những mái chữ A, những bậc thềm để ngỏ và những chiếc máng xối vươn đầu rồng chực phun nước. Thậm chí, cậu còn phác họa được cả bóng dáng những người lính cầm kích1 thong dong đi dạo quanh. Chắc hẳn đó phải là một ngôi nhà ẩn chứa vô vàn điều thú vị để ngắm nhìn.
Sống trong ngôi nhà ấy là một ông lão, người thường diện chiếc quần lửng ngang gối2, khoác chiếc áo điểm những hàng cúc đồng to bản, và đội một bộ tóc giả mà ai cũng có thể thấy rành rành đó là tóc giả. Mỗi sớm mai, một bác giúp việc già lại đến dọn dẹp buồng phòng và hầu hạ ông; bằng không, ông lão mặc quần lửng ngang gối hẳn đã hoàn toàn thui thủi đơn độc giữa ngôi nhà. Thi thoảng, ông bước tới một trong những ô cửa sổ và đưa mắt nhìn ra ngoài; những lúc ấy, cậu bé lại khẽ gật đầu chào ông, và ông lão gật đầu đáp lễ. Cứ thế, họ dần trở nên thân thuộc và kết bạn cùng nhau, dẫu chưa từng trao đổi với nhau lấy nửa lời; nhưng điều đó có hề hấn gì đâu.
Một ngày nọ, cậu bé tình cờ nghe cha mẹ trò chuyện: "Ông lão ấy khá giả thật đấy, nhưng hẳn ông phải sống rất hiu quạnh." Thế nên, vào sáng Chủ nhật tuần kế tiếp, cậu bé cẩn thận bọc một vật vào trong tờ giấy, mang đến tận cửa ngôi nhà cổ và thưa với bác người hầu đang phục vụ ông lão: "Bác vui lòng chuyển món đồ này của cháu cho quý ông sống ở đây được không ạ? Cháu có hai chú lính chì, và đây là một trong số chúng. Ông ấy sẽ giữ chú lính này, bởi vì cháu biết ông ấy đang cô đơn khủng khiếp."
Bác giúp việc già khẽ gật đầu, gương mặt toát lên vẻ hài lòng vô đỗi, và rồi bác cẩn thận mang chú lính chì vào trong nhà.
Sau đó, bác người hầu được cử sang để hỏi xem cậu bé có muốn tự mình sang chơi một chuyến không. Cha mẹ cậu đã cho phép, và thế là cậu được bước chân vào trong ngôi nhà cổ.
Những chiếc núm đồng trên hàng rào sáng rực rỡ hơn bao giờ hết, tựa hồ vừa được ai đó đánh bóng để chào đón chuyến viếng thăm của cậu. Trên cánh cửa chạm trổ những người thổi kèn đang đứng lấp ló giữa những đóa tulip, dường như họ đang lấy hết sức bình sinh, căng phồng hai má để thổi vang: "Tanta-ra-ra, cậu bé đang đến. Tanta-ra-ra, cậu bé đang đến."
Rồi cánh cửa từ từ mở ra. Khắp sảnh treo những bức chân dung nhuốm màu thời gian của các hiệp sĩ mặc áo giáp và những quý phu nhân khoác áo choàng lụa; tiếng áo giáp như đang lanh canh, còn những chiếc váy lụa thì sột soạt. Tiếp đó là một cầu thang trải dài dẫn lên cao, rồi lại thoai thoải chúi xuống và mở ra một ban công đã nhuốm màu hoang phế. Có những lỗ hổng lớn và những vết nứt dài, từ đó cỏ dại và lá xanh vươn mình mọc ra. Quả thực, toàn bộ ban công, khoảnh sân, cùng những bức tường đều rợp bóng xanh tươi đến mức trông chẳng khác nào một khu vườn rậm rạp.
Nơi ban công đặt những chậu hoa tạc hình những chiếc đầu mang đôi tai lừa, nhưng ngàn hoa bên trong cứ thế tự do bung nở theo ý thích. Trong một chậu, những cây hoa cẩm chướng vươn mình tràn ra khắp các bề mặt,-ít nhất là những chiếc lá xanh non nớt,-đang thi nhau đâm chồi nảy lộc và cất tiếng nói rõ ràng nhất có thể: "Làn gió trong trẻo đã thổi qua ta, ánh nắng chan hòa đã sưởi ấm ta, và ta đã được hứa hẹn sẽ hé nở một bông hoa nhỏ bé vào Chủ nhật tới-thật sự là vào Chủ nhật tới!"
Rồi cậu bé bước vào một căn phòng nơi những bức tường được bọc da, trên lớp da ấy in dập vô số những đóa hoa vàng rực rỡ.
"Lớp mạ vàng đã phai mòn theo năm tháng và bão táp,
Nhưng lớp da vẫn luôn bền bỉ; chẳng gì sánh được bằng da,"
những bức tường cất tiếng. Những chiếc ghế chạm trổ tinh xảo, với phần tựa tay hai bên và lưng tựa vút cao, ngự trị trong phòng; mỗi khi cọt kẹt, dường như chúng đang càu nhàu: "Hãy ngồi xuống đi. Ôi chao! Ta đang cọt kẹt rên rỉ biết nhường nào; chắc chắn ta sẽ mắc bệnh gút3 y như chiếc tủ cũ kỹ kia thôi. Bệnh gút đang hành hạ lưng ta, ugh!"
Và rồi cậu bé nhẹ nhàng bước vào căn phòng nơi ông lão đang ngồi lặng lẽ.
"Cảm ơn cháu vì chú lính chì, người bạn nhỏ của ông," ông lão mỉm cười hiền từ, "và cũng cảm ơn cháu vì đã ghé thăm ông."
"Cảm ơn, cảm ơn"-hay "Cọt kẹt, cọt kẹt"-tất cả đồ đạc trong phòng đồng thanh lên tiếng.
Mọi thứ đồ đạc đông đúc đến nỗi chúng cứ như đang chen lấn nhau để chồm lên ngắm nhìn cậu bé. Trên bức tường sát giữa phòng treo bức chân dung của một quý phu nhân xinh đẹp, trẻ trung và tràn đầy sức sống, ăn vận theo phong cách quý tộc thời xa xưa, với mái tóc rắc phấn trắng bồng bềnh và chiếc váy bồng cứng cáp lộng lẫy. Nàng chẳng thốt lên "cảm ơn" hay "cọt kẹt," nhưng lại trìu mến nhìn xuống cậu bé bằng đôi mắt hiền hòa. Cậu bé bèn tò mò hỏi ông lão:
"Ông tìm được bức tranh đó từ đâu vậy ạ?"
"Từ cửa hàng bên kia đường," ông mỉm cười đáp. "Rất nhiều bức chân dung được treo ở đó. Dường như chẳng còn ai nhớ đến hay bận tâm về bất kỳ người nào trong số họ nữa. Những con người được vẽ trên đó đều đã khuất bóng và yên nghỉ từ thuở nào. Nhưng ông đã từng quen biết quý phu nhân này từ rất nhiều năm về trước, và cô ấy cũng đã nhắm mắt xuôi tay gần nửa thế kỷ nay rồi."

Đặt ngay ngắn dưới lồng kính bên dưới bức chân dung là một bó hoa đã khô héo, ắt hẳn bó hoa ấy cũng đã trải qua nửa thế kỷ tuổi đời, ít nhất vẻ ngoài của chúng cũng đượm màu thời gian như thế.
Và rồi con lắc của chiếc đồng hồ cổ kính cứ thế tích tắc đung đưa qua lại, những chiếc kim miệt mài quay vòng, thời gian lặng lẽ trôi qua khiến vạn vật trong căn phòng càng thêm phần già cỗi, dẫu rằng chẳng một ai mảy may bận tâm đến sự lụi tàn ấy.
"Mọi người ở nhà cháu nói rằng," cậu bé thỏ thẻ, "ông đang sống rất cô đơn."
"Ồ," ông lão ôn tồn đáp lời, "ông luôn mang theo những ý nghĩ êm đềm về muôn vàn kỷ niệm xưa cũ được đánh thức qua ký ức, và giờ đây lại có cháu sang thăm, điều đó quả thực vô cùng ấm áp."
Đoạn ông lấy từ tủ sách ra một cuốn họa thư chứa đầy những bức tranh vẽ những đoàn rước dài dằng dặc của những cỗ xe lộng lẫy tuyệt diệu mà thời nay chẳng bao giờ có thể chiêm ngưỡng được nữa; những người lính trong đó hệt như những quân bồi trong bộ bài tây4, và những người dân diễu hành dưới ngọn cờ bay phấp phới. Những người thợ may giương cao lá cờ thêu hình một chiếc kéo được nâng đỡ bởi hai con sư tử oai vệ, và trên lá cờ của những người thợ đóng giày chẳng phải là những chiếc ủng mà lại là một con đại bàng hai đầu5 dũng mãnh, bởi những người thợ đóng giày luôn phải sắp xếp mọi thứ sao cho họ có thể tự hào tuyên bố: "Đây là một đôi." Thật là một cuốn sách tranh kỳ diệu! Và rồi ông lão lững thững đi vào một căn phòng khác để mang ra những quả táo ngọt lịm và hạt dẻ thơm bùi. Chắc chắn rồi, được ngồi trong ngôi nhà cổ kính đó quả thực là một điều tuyệt diệu và êm ái vô ngần.
"Tôi không thể chịu đựng nổi," chú lính chì đứng trên kệ thốt lên, "ở đây sao mà vắng vẻ và buồn tẻ đến thế. Tôi vốn quen với cuộc sống gia đình, nên chẳng thể nào thích nghi với nơi này. Tôi không thể chịu đựng nổi. Ban ngày vốn dĩ đã dài, đêm xuống lại càng dài đằng đẵng. Chốn này đâu giống như ngôi nhà bên kia đường của cậu, nơi cha mẹ cậu luôn tíu tít trò chuyện, còn cậu cùng những đứa trẻ đáng yêu khác thì đùa nghịch ồn ào đến là thích. Cậu có nghĩ ông ấy được ai hôn bao giờ không? Cậu có nghĩ ông ấy từng nhận được những ánh nhìn âu yếm, hay có một cây thông Giáng sinh nào không? Giờ đây chờ đợi ông ấy chắc chỉ có nấm mồ. Ôi! Tôi không thể chịu đựng nổi."
"Cậu đừng nhìn mọi chuyện theo hướng buồn bã như thế chứ," cậu bé khuyên nhủ. "Tớ thấy mọi thứ trong ngôi nhà này đều tuyệt đẹp, và tất cả những ký ức vui vẻ của ngày xưa cũ dường như đều tụ hội về đây."
"A, nhưng tôi có bao giờ thấy ai đâu, mà cũng chẳng biết họ là ai," chú lính chì cằn nhằn, "tôi không thể chịu đựng nổi."
"Cậu phải ráng chịu thôi," cậu bé khuyên. Đúng lúc ấy, ông lão quay lại với gương mặt rạng rỡ, mang theo nào là thứ mứt trái cây tuyệt hảo, nào là táo và cả hạt dẻ nữa. Thế là cậu bé chẳng còn bận tâm đến chú lính chì kia.
Cậu bé cảm thấy vô cùng hạnh phúc và sung sướng! Sau khi cậu về nhà, ngày lại ngày và tuần nối tuần trôi qua, biết bao cái gật đầu chào hỏi đã trao đi đổi lại giữa hai ngôi nhà, rồi cậu bé lại sang chơi một bận nữa. Bức tượng gỗ chạm trổ những người thổi kèn lại cất vang tiếng kèn chào đón: "Tanta-ra-ra, cậu bé kia rồi. Tanta-ra-ra." Những thanh gươm và bộ áo giáp trên các bức chân dung hiệp sĩ già lại kêu lên lanh canh, những chiếc váy lụa lại sột soạt, lớp da mạ vàng lại cất tiếng ngâm nga câu vần xưa cũ, và những chiếc ghế cọt kẹt như thể đang đau lưng. Mọi thứ diễn ra y hệt như lần đầu cậu đến, bởi lẽ trong ngôi nhà ấy, ngày và giờ cứ thế lặng lẽ trôi qua lặp lại như nhau.
"Tôi không thể chịu đựng thêm nữa," chú lính chì than vãn, "tôi đã khóc rớt cả những giọt nước mắt bằng chì, chốn này thật quá đỗi sầu thảm. Hãy để tôi xông pha ra trận và đánh mất một cánh tay hay một cẳng chân đi; thà vậy còn hơn. Tôi không thể chịu đựng nổi. Giờ thì tôi đã thấu cái cảm giác được những ký ức xưa cũ viếng thăm là như thế nào rồi. Những ký ức của riêng tôi cũng ùa về, và cậu hãy tin tôi đi, chuyện đó chẳng dễ chịu chút nào đâu. Suýt chút nữa thì tôi đã gieo mình xuống khỏi chiếc kệ này. Tôi nhìn thấy tất cả mọi người trong ngôi nhà đối diện của cậu, sống động như thể các người đang thực sự ở đây.
"Hôm đó là một buổi sáng Chủ nhật, lũ trẻ các cậu quây quần quanh bàn, hát vang bài thánh ca quen thuộc như mọi sáng. Cậu đứng im lìm, chắp hai tay lại, cha mẹ cậu cũng khoác lên mình vẻ trang nghiêm. Bỗng cánh cửa hé mở, cô em gái Maria chưa đầy hai tuổi của cậu được bế vào phòng. Cậu cũng biết con bé hễ cứ nghe thấy âm nhạc và tiếng hát là lại nhảy múa, thế là con bé bắt đầu nhảy múa ngay lập tức, dù cho lúc ấy chẳng phải lúc để khiêu vũ. Nhưng vì giai điệu quá chậm, con bé chẳng thể nào bắt nhịp được, cứ đứng chao đảo từ chân này sang chân kia, cái đầu nhỏ thì cúi gập xuống, trông chẳng ăn nhập gì với điệu nhạc cả. Tất cả các cậu đều cố giữ vẻ mặt nghiêm nghị dẫu rất đỗi khó khăn, còn tôi thì bật cười ngặt nghẽo đến mức rớt luôn từ trên bàn xuống và bị bầm một vết, vết bầm mà đến tận bây giờ vẫn còn in hằn đây. Tôi biết mình cười thế là không phải. Thế đấy, tất cả những điều này, cùng bao thứ khác mà tôi từng chứng kiến, cứ cuồn cuộn ùa về trong tâm trí, và tôi đoán đây ắt hẳn là những ký ức xưa cũ mang theo bao nỗi niềm. Cậu hãy cho tôi biết liệu các cậu vẫn còn hát vào những ngày Chủ nhật chứ? Hãy kể cho tôi nghe về cô em bé nhỏ Maria của cậu đi, và cả người đồng chí cũ của tôi nữa, chú lính chì kia giờ ra sao rồi? A, hẳn là anh ta đang hạnh phúc lắm. Còn tôi, tôi không thể chịu đựng được cuộc sống này thêm nữa."
"Cậu đã được đem tặng rồi," cậu bé ôn tồn đáp, "cậu phải ở lại đây. Cậu không hiểu sao?" Đúng lúc ấy, ông lão bước vào, mang theo một chiếc hộp chứa vô vàn thứ kỳ lạ để cho cậu xem. Nào là những hộp phấn hồng, những lọ nước hoa, nào là những lá bài lớn cũ kỹ được mạ vàng lộng lẫy đến mức thời nay chẳng ai còn được chiêm ngưỡng những thứ giống như thế. Và rồi ông mang ra những chiếc hộp nhỏ xíu khác, rồi khi nắp đàn piano mở ra, hiện lên bên trong là những bức phong cảnh được vẽ tay thật sống động. Nhưng khi ông lão dạo đàn, tiếng piano cất lên nghe hoàn toàn lạc điệu. Rồi ông ngước nhìn bức tranh mua ở tiệm đồ cũ, đôi mắt ông sáng lấp lánh. Ông khẽ gật đầu với bức tranh và bảo: "A, cô ấy có thể hát giai điệu đó."
"Tôi sẽ ra trận! Tôi sẽ xông pha ra trận!" chú lính chì gào lên hết sức bình sinh, rồi gieo mình xuống sàn nhà. Chú lính có thể rơi đi đâu được cơ chứ? Ông lão tìm kiếm mãi, cậu bé cũng tìm kiếm mãi, nhưng chú lính chì đã hoàn toàn bặt vô âm tín. "Rồi ông sẽ tìm thấy nó thôi," ông lão nói. Nhưng chẳng bao giờ ông tìm lại được chú lính nữa; chú lính chì đã lọt thỏm qua một vết nứt giữa những tấm ván sàn và giờ nằm im lìm dưới đó, hệt như trong một nấm mồ mở.
Ngày hôm đó trôi qua, rồi cậu bé trở về nhà. Những tuần lễ cứ thế lặng lẽ tiếp nối nhau. Mùa đông ập đến, những ô cửa sổ đóng băng trắng xóa, cậu bé đành phải hà hơi lên tấm kính, chà xát một lỗ nhỏ xíu để ngóng sang ngôi nhà cổ. Lớp tuyết dày phủ lấp mọi hoa văn chạm trổ và những dòng chữ khắc, những bậc thềm ngập chìm trong lớp tuyết như thể chẳng còn ai sinh sống ở đó. Quả thực là chẳng còn ai, vì ông lão đã từ giã cõi đời.
Khi màn đêm buông xuống, người ta đưa ông lão về một vùng quê để an nghỉ trong phần mộ của chính ông. Chẳng một bóng người đưa tiễn, bởi tất cả bằng hữu của ông đều đã khuất bóng từ lâu. Chỉ có cậu bé hôn lên tay mình, khẽ vẫy chào người bạn già khi trông thấy linh cữu ông được đưa đi.
Vài ngày sau, một cuộc đấu giá diễn ra ngay tại ngôi nhà cổ. Từ cửa sổ nhà mình, cậu bé lặng lẽ nhìn người ta khuân đi những bức chân dung của các hiệp sĩ và các quý phu nhân xưa, những chậu hoa với đôi tai dài ngoẵng, những chiếc ghế tựa cổ lỗ và cả những bậu tủ. Chúng bị tản mát khắp muôn nơi. Riêng bức chân dung của nàng, vốn được mua lại từ một tiệm tranh, nay lại phải quay về chốn cũ, và nằm im lìm ở đó, bởi dường như chẳng còn ai biết đến nàng hay mảy may bận tâm tới một bức tranh cũ kỹ.
Mùa xuân sang, người ta bắt tay vào việc phá dỡ ngôi nhà; ai nấy đều ví nó như một đống tàn tích thực sự. Ngay từ ngoài phố, người ta đã có thể nhìn thấu vào căn phòng có những mảng tường bọc da nay đã mục nát, tơi tả, và đám dây leo xanh mướt trên ban công rủ xuống rũ rượi đan xen qua những thanh xà gỗ. Công việc dỡ bỏ diễn ra chóng vánh, bởi ngôi nhà dường như chỉ chực chờ đổ sụp, và chẳng mấy chốc nó đã bị san phẳng hoàn toàn. "Thật là nhẹ cả người," những ngôi nhà lân cận xì xầm.
Về sau, một ngôi nhà mới khang trang được xây lên, nằm lùi sâu hơn về phía sau con đường. Ngôi nhà có những khung cửa sổ cao vút và những mảng tường nhẵn thín. Thế nhưng ở phía trước, ngay trên chính mảnh đất nơi ngôi nhà cổ từng tọa lạc, một khu vườn nhỏ xinh đã được ươm mầm, với những cụm dây leo hoang dại mọc trùm lên những bức tường rào lân cận. Án ngữ trước mặt khu vườn là một hàng rào sắt bề thế cùng chiếc cổng lớn trông thật oai vệ. Khách qua đường thường dừng bước, tò mò ghé mắt nhìn qua song sắt. Từng bầy chim sẻ tụ tập đông đúc trên những nhánh dây leo, thi nhau líu lo ầm ĩ, nhưng chúng chẳng hề ca hát về ngôi nhà cổ. Nào có con chim sẻ nào mường tượng nổi dáng hình ngôi nhà ấy, bởi ròng rã biết bao năm tháng đã trôi qua. Thời gian đằng đẵng đến mức cậu bé năm nào giờ đã trưởng thành, trở thành một chàng trai lương thiện khiến cha mẹ vô cùng tự hào. Anh vừa mới lập gia đình và cùng người vợ dọn đến sống tại ngôi nhà mới có khu vườn phía trước ấy. Lúc này đây, anh đang đứng cạnh vợ, lặng lẽ nhìn nàng đang ươm một nhành hoa dại mà nàng đinh ninh là rất đẹp. Tự tay nàng vun trồng nhánh hoa bằng đôi bàn tay nhỏ nhắn, dùng những ngón tay miết chặt lớp đất mùn. "Ôi, trời ơi, cái gì thế này?" nàng khẽ ré lên vì bị thứ gì đó chích phải. Một vật gì đó vừa nhú lên từ nền đất tơi xốp.
Đó là-thử đoán xem!-đó đích thị là chú lính chì, chính là chú lính đã đi lạc trong căn phòng của ông lão năm xưa, bị vùi lấp giữa đống gỗ mục và mảnh vỡ suốt một khoảng thời gian đằng đẵng, cho đến khi chìm nghỉm vào lòng đất, nơi chú hẳn đã nằm ngủ vùi ròng rã bao năm. Người vợ trẻ bèn lau sạch chú lính, thoạt tiên nàng dùng một phiến lá xanh biếc, rồi sau đó lôi ra chiếc khăn tay đẹp đẽ sực nức mùi hương thanh nhã. Chú lính chì chợt cảm thấy như mình vừa choàng tỉnh sau một cơn mê man sâu thẳm.
"Để anh xem chú lính nào," chàng trai cất lời. Khẽ mỉm cười và lắc đầu, anh nói: "Dẫu thật khó tin đây chính là chú lính năm xưa, nhưng chú đã gợi lại trong anh kỷ niệm về một trong những chú lính chì của anh hồi còn bé tí." Chàng trai liền kể cho vợ nghe về ngôi nhà cổ, về ông lão và về chú lính chì mà anh đã gửi sang bầu bạn chỉ vì nghĩ ông lão đang quá đỗi cô đơn. Lời kể của anh vô cùng sống động và rõ ràng đến mức đôi mắt người vợ trẻ rơm rớm lệ khi nghe về ngôi nhà cũ và ông lão.
"Rất có thể đây thực sự là chú lính ngày xưa," nàng rưng rưng nói, "em sẽ chăm chút chú lính cẩn thận, và sẽ luôn khắc ghi những điều anh vừa kể; nhưng một ngày nào đó anh phải dẫn em đi thăm mộ của ông lão đấy nhé."
"Anh chẳng biết phần mộ ấy nằm ở đâu," anh đáp; "không ai biết cả. Bằng hữu của ông đều đã qua đời. Chẳng còn ai hương khói hay viếng thăm nơi ông an nghỉ, và khi ấy anh vẫn chỉ là một cậu bé."
"Ôi, ông ấy hẳn phải cô đơn khủng khiếp lắm," nàng xót xa thốt lên.
"Phải rồi, cô đơn khủng khiếp," chú lính chì gào lên; "dẫu vậy, việc không bị lãng quên kể cũng thật là tuyệt vời."
"Quả thật tuyệt vời!" một tiếng nói vang lên ngay cạnh họ. Chẳng ai ngoài chú lính chì nhận ra âm thanh ấy phát ra từ một vạt da rách bươm đang treo lủng lẳng. Mảnh da đã bong tróc lớp mạ vàng óng ả thuở nào, giờ trông chẳng khác gì một nhúm đất ẩm ướt, nhưng nó lại có chính kiến riêng, bèn lên tiếng rành rọt:
"Lớp mạ vàng đã phai mòn theo năm tháng và bão táp,
Nhưng lớp da vẫn luôn bền bỉ; chẳng gì sánh được bằng da."
Dẫu thế, chú lính chì chẳng mảy may tin vào dăm ba điều như vậy.
-
Kích (halberd) là loại vũ khí cổ thời Trung cổ và Phục hưng, cấu tạo gồm một mũi giáo và một lưỡi rìu gắn trên cán dài. Lính cầm kích thường là những lính canh hoặc ngự lâm quân bảo vệ đường phố hoặc hoàng gia tại các đô thị châu Âu xưa. ↩
-
Nguyên gốc "knee-breeches" (quần chẽn gối) là trang phục tiêu chuẩn của nam giới châu Âu thế kỷ 18. ↩
-
Gút (gout) là bệnh viêm khớp gây sưng đau dữ dội, thời xưa ở châu Âu thường bị gán là bệnh của tuổi già và người giàu có. ↩
-
Bản gốc tiếng Anh là "knaves in a pack of cards". "Knave" là tên gọi cũ của quân bồi (quân J). Hình ảnh trên quân J thường là những người lính hoặc hầu cận mặc trang phục thời Trung cổ sặc sỡ, ống tay phồng, đội mũ rực rỡ đúng như phong cách của các đoàn rước ngày xưa. ↩
-
Đại bàng hai đầu (double-headed eagle) vốn là biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều đế chế lớn ở châu Âu thời xưa. Tác giả đã dùng phép chơi chữ hài hước: thợ đóng giày mượn biểu tượng hoàng gia oai vệ này chỉ vì nó có "hai đầu", ngụ ý tượng trưng cho một "đôi" (giày dép luôn bán theo đôi). ↩
THE OLD HOUSE
VERY old house once stood in a street with several others that were quite new and clean. One could read the date of its erection, which had been carved on one of the beams and surrounded by scrolls formed of tulips and hop tendrils; by this date it could be seen that the old house was nearly three hundred years old. Entire verses too were written over the windows in old-fashioned letters, and grotesque faces, curiously carved, grinned at you from under the cornices. One story projected a long way over the other, and under the roof ran a leaden gutter with a dragon's head at the end. The rain was intended to pour out at the dragon's mouth, but it ran out of his body instead, for there was a hole in the gutter.
All the other houses in the street were new and well built, with large windowpanes and smooth walls. Any one might see they had nothing to do with the old house. Perhaps they thought: "How long will that heap of rubbish remain here, to be a disgrace to the whole street? The parapet projects so far forward that no one can see out of our windows what is going on in that direction. The stairs are as broad as the staircase of a castle and as steep as if they led to a church tower. The iron railing looks like the gate of a cemetery, and there are brass knobs upon it. It is really too ridiculous."
Opposite to the old house were more nice new houses, which had just the same opinion as their neighbors.
At the window of one of them sat a little boy with fresh, rosy cheeks and clear, sparkling eyes, who was very fond of the old house in sunshine or in moonlight. He would sit and look at the wall, from which the plaster had in some places fallen off, and fancy all sorts of scenes which had been in former times-how the street must have looked when the houses had all gable roofs, open staircases, and gutters with dragons at the spout. He could even see soldiers walking about with halberds. Certainly it was a very good house to look at for amusement.
An old man lived in it who wore knee breeches, a coat with large brass buttons, and a wig which any one could see was a real one. Every morning there came an old man to clean the rooms and to wait upon him, otherwise the old man in the knee breeches would have been quite alone in the house. Sometimes he came to one of the windows and looked out; then the little boy nodded to him, and the old man nodded back again, till they became acquainted, and were friends, although they had never spoken to each other; but that was of no consequence.
The little boy one day heard his parents say, "The old man is very well off, but he must be terribly lonely." So the next Sunday morning the little boy wrapped something in a paper, and took it to the door of the old house, and said to the attendant who waited upon the old man: "Will you please to give this from me to the gentleman who lives here? I have two tin soldiers, and this is one of them, and he shall have it, because I know he is terribly lonely."
The old attendant nodded and looked very much pleased, and then he carried the tin soldier into the house.
Afterwards he was sent over to ask the little boy if he would not like to pay a visit himself. His parents gave him permission, and so it was that he gained admission to the old house.
The brass knobs on the railings shone more brightly than ever, as if they had been polished on account of his visit; and on the doors were carved trumpeters standing in tulips, and it seemed as if they were blowing with all their might, their cheeks were so puffed out: "Tanta-ra-ra, the little boy is coming. Tanta-ra-ra, the little boy is coming."
Then the door opened. All round the hall hung old portraits of knights in armor and ladies in silk gowns; and the armor rattled, and the silk dresses rustled. Then came a staircase which went up a long way, and then came down a little way and led to a balcony which was in a very ruinous state. There were large holes and long cracks, out of which grew grass and leaves; indeed the whole balcony, the courtyard, and the walls were so overgrown with green that they looked like a garden.
In the balcony stood flowerpots on which were heads having asses' ears, but the flowers in them grew just as they pleased. In one pot, pinks were growing all over the sides,-at least the green leaves were,-shooting forth stalk and stem and saying as plainly as they could speak, "The air has fanned me, the sun has kissed me, and I am promised a little flower for next Sunday-really for next Sunday!"
Then they entered a room in which the walls were covered with leather, and the leather had golden flowers stamped upon it.
"Gilding wears out with time and bad weather,
But leather endures; there's nothing like leather,"
said the walls. Chairs handsomely carved, with elbows on each side and with very high backs, stood in the room; and as they creaked they seemed to say: "Sit down. Oh dear! how I am creaking; I shall certainly have the gout like the old cupboard. Gout in my back, ugh!"
And then the little boy entered the room where the old man sat.
"Thank you for the tin soldier, my little friend," said the old man, "and thank you also for coming to see me."
"Thanks, thanks"-or "Creak, creak"-said all the furniture.
There was so much furniture that the pieces stood in each other's way to get a sight of the little boy. On the wall near the center of the room hung the picture of a beautiful lady, young and gay, dressed in the fashion of the olden times, with powdered hair and a full, stiff skirt. She said neither "thanks" nor "creak," but she looked down upon the little boy with her mild eyes, and he said to the old man,
"Where did you get that picture?"
"From the shop opposite," he replied. "Many portraits hang there. No one seems to know any of them or to trouble himself about them. The persons they represent have been dead and buried long since. But I knew this lady many years ago, and she has been dead nearly half a century."
Under a glass beneath the picture hung a nosegay of withered flowers, which were, no doubt, half a century old too, at least they appeared so.
And the pendulum of the old clock went to and fro, and the hands turned round, and as time passed on everything in the room grew older, but no one seemed to notice it.
"They say at home," said the little boy, "that you are very lonely."
"Oh," replied the old man, "I have pleasant thoughts of all that is past recalled by memory, and now you too are come to visit me, and that is very pleasant."
Then he took from the bookcase a book full of pictures representing long processions of wonderful coaches such as are never seen at the present time, soldiers like the knave of clubs, and citizens with waving banners. The tailors had a flag with a pair of scissors supported by two lions, and on the shoemakers' flag there were not boots but an eagle with two heads, for the shoemakers must have everything arranged so that they can say, "This is a pair." What a picture book it was! And then the old man went into another room to fetch apples and nuts. It was very pleasant, certainly, to be in that old house.
"I cannot endure it," said the tin soldier, who stood on a shelf; "it is so lonely and dull here. I have been accustomed to live in a family, and I cannot get used to this life. I cannot bear it. The whole day is long enough, but the evening is longer. It is not here as it was in your house opposite, when your father and mother talked so cheerfully together, while you and all the dear children made such a delightful noise. Do you think he gets any kisses? Do you think he ever has friendly looks or a Christmas tree? He will have nothing now but the grave. Oh! I cannot bear it."
"You must not look on the sorrowful side so much," said the little boy. "I think everything in this house is beautiful, and all the old, pleasant thoughts come back here to pay visits."
"Ah, but I never see any, and I don't know them," said the tin soldier; "and I cannot bear it."
"You must bear it," said the little boy. Then the old man came back with a pleasant face, and brought with him beautiful preserved fruits as well as apples and nuts, and the little boy thought no more of the tin soldier.
How happy and delighted the little boy was! And after he returned home, and while days and weeks passed, a great deal of nodding took place from one house to the other, and then the little boy went to pay another visit. The carved trumpeters blew: "Tanta-ra-ra, there is the little boy. Tanta-ra-ra." The swords and armor on the old knights' pictures rattled, the silk dresses rustled, the leather repeated its rhyme, and the old chairs that had the gout in their backs cried "Creak"; it was all exactly like the first time, for in that house one day and one hour were just like another.
"I cannot bear it any longer," said the tin soldier; "I have wept tears of tin, it is so melancholy here. Let me go to the wars and lose an arm or a leg; that would be some change. I cannot bear it. Now I know what it is to have visits from one's old recollections and all they bring with them. I have had visits from mine, and you may believe me it is not altogether pleasant. I was very nearly jumping from the shelf. I saw you all in your house opposite, as if you were really present.
"It was Sunday morning, and you children stood round the table, singing the hymn that you sing every morning. You were standing quietly with your hands folded, and your father and mother were looking just as serious, when the door opened, and your little sister Maria, who is not two years old, was brought into the room. You know she always dances when she hears music and singing of any sort, so she began to dance immediately, although she ought not to have done so; but she could not get into the right time because the tune was so slow, so she stood first on one foot and then on the other and bent her head very low, but it would not suit the music. You all stood looking grave, although it was very difficult to do so, but I laughed so to myself that I fell down from the table and got a bruise, which is still there. I know it was not right to laugh. So all this, and everything else that I have seen, keeps running in my head, and these must be the old recollections that bring so many thoughts with them. Tell me whether you still sing on Sundays, and tell me about your little sister Maria, and how my old comrade is, the other tin soldier. Ah, really he must be very happy. I cannot endure this life."
"You are given away," said the little boy; "you must stay. Don't you see that?" Then the old man came in with a box containing many curious things to show him. Rouge-pots, scent-boxes, and old cards so large and so richly gilded that none are ever seen like them in these days. And there were smaller boxes to look at, and the piano was opened, and inside the lid were painted landscapes. But when the old man played, the piano sounded quite out of tune. Then he looked at the picture he had bought at the broker's, and his eyes sparkled brightly as he nodded at it and said, "Ah, she could sing that tune."
"I will go to the wars! I will go to the wars!" cried the tin soldier as loud as he could, and threw himself down on the floor. Where could he have fallen? The old man searched, and the little boy searched, but he was gone and could not be found. "I shall find him again," said the old man. But he did not find him; the tin soldier had fallen through a crack between the boards and lay there now as in an open grave.
The day went by, and the little boy returned home; the week passed, and many more weeks. It was winter, and the windows were quite frozen, so that the little boy was obliged to breathe on the panes and rub a hole to peep through at the old house. Snowdrifts were lying in all the scrolls and on the inscriptions, and the steps were covered with snow as if no one were at home. And indeed nobody was at home, for the old man was dead.
In the evening the old man was to be taken to the country to be buried there in his own grave; so they carried him away. No one followed him, for all his friends were dead, and the little boy kissed his hand to his old friend as he saw him borne away.
A few days after, there was an auction at the old house, and from his window the little boy saw the people carrying away the pictures of old knights and ladies, the flowerpots with the long ears, the old chairs, and the cupboards. Some were taken one way, some another. Her portrait, which had been bought at the picture dealer's, went back again to his shop, and there it remained, for no one seemed to know her or to care for the old picture.
In the spring they began to pull the house itself down; people called it complete rubbish. From the street could be seen the room in which the walls were covered with leather, ragged and torn, and the green in the balcony hung straggling over the beams; they pulled it down quickly, for it looked ready to fall, and at last it was cleared away altogether. "What a good riddance," said the neighbors' houses.
Afterward a fine new house was built, farther back from the road. It had lofty windows and smooth walls, but in front, on the spot where the old house really stood, a little garden was planted, and wild vines grew up over the neighboring walls. In front of the garden were large iron railings and a great gate which looked very stately. People used to stop and peep through the railings. The sparrows assembled in dozens upon the wild vines and chattered all together as loud as they could, but not about the old house. None of them could remember it, for many years had passed by; so many, indeed, that the little boy was now a man, and a really good man too, and his parents were very proud of him. He had just married and had come with his young wife to reside in the new house with the garden in front of it, and now he stood there by her side while she planted a field flower that she thought very pretty. She was planting it herself with her little hands and pressing down the earth with her fingers. "Oh, dear, what was that?" she exclaimed as something pricked her. Out of the soft earth something was sticking up.
It was-only think!-it was really the tin soldier, the very same which had been lost up in the old man's room and had been hidden among old wood and rubbish for a long time till it sank into the earth, where it must have been for many years. And the young wife wiped the soldier, first with a green leaf and then with her fine pocket handkerchief, that smelt of a beautiful perfume. And the tin soldier felt as if he were recovering from a fainting fit.
"Let me see him," said the young man, and then he smiled and shook his head and said, "It can scarcely be the same, but it reminds me of something that happened to one of my tin soldiers when I was a little boy." And then he told his wife about the old house and the old man and of the tin soldier which he had sent across because he thought the old man was lonely. And he related the story so clearly that tears came into the eyes of the young wife for the old house and the old man.
"It is very likely that this is really the same soldier," said she, "and I will take care of him and always remember what you have told me; but some day you must show me the old man's grave."
"I don't know where it is," he replied; "no one knows. All his friends are dead. No one took care of him or tended his grave, and I was only a little boy."
"Oh, how dreadfully lonely he must have been," said she.
"Yes, terribly lonely," cried the tin soldier; "still it is delightful not to be forgotten."
"Delightful indeed!" cried a voice quite near to them. No one but the tin soldier saw that it came from a rag of the leather which hung in tatters. It had lost all its gilding and looked like wet earth, but it had an opinion, and it spoke it thus:
"Gilding wears out with time and bad weather,
But leather endures; there's nothing like leather."
But the tin soldier did not believe any such thing.
