
CÔ NÀNG TÍ HON THUMBELINA

Ngày xửa ngày xưa, có một người phụ nữ ngày đêm đau đáu khao khát mỏi mòn một mụn con nhỏ. Quá đỗi mong mỏi, cô lặn lội tìm đến một bà tiên và bày tỏ nỗi lòng: "Tôi khao khát có một đứa trẻ nhỏ vô cùng. Bà có thể rủ lòng thương, chỉ cho tôi biết tìm ở đâu không?"
"Ồ, chuyện đó thì dễ ợt," bà tiên mỉm cười nói. "Đây là một hạt lúa mạch, nhưng tuyệt nhiên không phải loại lúa mạch tầm thường mọc trên cánh đồng của đám nông phu hay thứ hạt mang đi vãi cho gà mổ đâu nhé. Cô hãy đem gieo nó vào một chậu hoa, rồi kiên nhẫn xem điều kỳ diệu gì sẽ nảy mầm."
"Đa tạ bà," người phụ nữ mừng rỡ đáp lời, đoạn trao tận tay bà tiên mười hai đồng shilling để trả cho hạt giống quý giá ấy. Trở về nhà, cô cẩn thận gieo hạt lúa xuống đất. Chẳng bao lâu sau, một nụ hoa to lớn, lộng lẫy vươn mình mọc lên. Trông nó phảng phất hình bóng của một đóa tulip kiêu kỳ, nhưng những cánh hoa lại khép chặt ủ ê như nụ hoa hãy còn đang say giấc nồng.
"Quả là một đóa hoa diễm lệ," người phụ nữ thốt lên đầy say đắm, rồi âu yếm đặt một nụ hôn lên những cánh hoa đang óng ánh sắc đỏ vàng rực rỡ. Đúng khoảnh khắc diệu kỳ ấy, nụ hoa bung nở trọn vẹn, để lộ hình dáng của một đóa tulip đích thực. Thế nhưng, ngự ngay giữa lòng nhụy hoa mượt mà như nhung biếc, lại là một cô bé con vô cùng nhỏ nhắn, mong manh và yêu kiều đến lạ lùng. Trông cô bé chỉ nhỉnh bằng cỡ nửa ngón tay cái, nên người ta trìu mến gọi cô là Tí Hon.
Một chiếc vỏ quả óc chó, được đánh bóng đến mức lộng lẫy, đã trở thành chiếc nôi êm ái cho Tí Hon. Tấm nệm nhỏ bé của cô được đan kết từ những cánh hoa violet biếc xanh, còn chiếc chăn đắp thì làm bằng một cánh hồng nhung mềm mại. Màn đêm buông xuống, cô bé say sưa an giấc trong chiếc nôi ấy. Còn ban ngày, cô tha thẩn vui đùa trên chiếc bàn gỗ, nơi người phụ nữ nông dân đã đặt sẵn một chiếc đĩa phủ đầy nước lấp lánh.
Men theo viền đĩa là những vòng hoa dại với cuống cắm ngập trong nước trong vắt, và nổi bềnh bồng trên đó là một cánh hoa tulip lớn xòe rộng, đóng vai trò như chiếc thuyền nhỏ của cô bé. Tí Hon bé bỏng ngự trên con thuyền hoa, dùng đôi mái chèo vót từ sợi lông đuôi ngựa trắng muốt để chèo chống từ bờ bên này sang bờ bên kia. Cảnh tượng ấy đáng yêu vô ngần. Tí Hon lại còn cất giọng hát vang, một chất giọng êm ái, trong veo và ngọt ngào đến mức thế gian chưa từng có ai được nghe một thanh âm nào tuyệt diệu đến thế.
Thế rồi một đêm khuya vắng, khi cô bé đang say ngủ trong chiếc giường bé xinh của mình, một mụ cóc già nua, to béo, xấu xí và nhớp nháp lạnh lẽo đã lạch bạch bò qua ô kính vỡ nơi bậu cửa sổ. Mụ nhảy tót lên mặt bàn, chồm ngay về phía cô bé đang say giấc nồng dưới tấm chăn làm từ cánh hoa hồng.
"Làm vợ con trai ta thì thật là đẹp đôi," mụ cóc nhái giọng ộp oạp, rồi mụ chộp lấy chiếc vỏ óc chó, nơi Tí Hon vẫn đang chìm sâu vào giấc mộng, mang vác cô lỉnh ra khỏi ô cửa sổ, nhảy thẳng ra ngoài khu vườn tối tăm.
Sâu dưới vạt lầy nhớp nháp bám dọc theo bờ một con suối rộng lớn trong vườn, chính là nơi mụ cóc cư ngụ cùng gã con trai cưng. Trông gã này thậm chí còn gớm ghiếc, dị hợm hơn cả mụ. Vừa trông thấy cô bé xinh đẹp mỹ miều nằm thượt trong chiếc giường lộng lẫy, gã chỉ biết trợn trừng mắt kêu lên những tiếng thô lỗ: "Ộp, ộp, ộp."
"Đừng có bô bô cái miệng thế, không cô bé thức giấc mất," mụ cóc càu nhàu, "rồi nó lại ba chân bốn cẳng bỏ chạy, vì nó nhẹ bẫng như lông thiên nga ấy chứ. Chúng ta sẽ đặt cô bé lên một trong những phiến lá súng bập bềnh ngoài suối; đối với nó, phiến lá ấy rộng lớn chẳng khác nào một hòn đảo hoang. Nó quá đỗi nhỏ bé và nhẹ cân, thế nên chẳng thể nào tự tìm đường trốn thoát đâu. Trong lúc nó bị nhốt ngoài đó, chúng ta sẽ tranh thủ dọn dẹp, trang hoàng căn buồng lộng lẫy dưới đầm lầy, nơi hai đứa sẽ chung sống sau khi thành hôn."
Từ ngoài xa giữa dòng suối, những khóm hoa súng mọc lên san sát, xòe rải những phiến lá xanh biếc khổng lồ trôi dập dềnh trên mặt nước. Có một chiếc lá to lớn vươn xa hơn hẳn những chiếc khác. Mụ cóc già lặn lội bơi ra tận nơi, mang theo chiếc vỏ óc chó với Tí Hon vẫn còn chìm trong giấc mộng.
Tinh mơ sáng hôm sau, sinh linh bé nhỏ bừng tỉnh. Nhận ra tình cảnh của mình, cô bé bật khóc nức nở, trào dâng nỗi tuyệt vọng, vì bủa vây quanh phiến lá xanh rờn chỉ toàn là mênh mông sông nước, chẳng thấy bờ bến đâu để trốn vào.
Trong khi ấy, mụ cóc già tất tả lo toan dưới lớp bùn lầy, ra sức trang hoàng căn phòng bằng cỏ lác tết lại cùng những đóa hoa dại vàng ươm, mong sao nơi ở mới thật lộng lẫy để nghênh đón cô con dâu bé nhỏ. Hoàn tất mọi việc, mụ kéo gã con trai xấu xí bơi ra chiếc lá xanh nơi Tí Hon tội nghiệp đang mòn mỏi. Mụ rắp tâm bê chiếc giường xinh xắn về trước để sắp xếp sẵn trong căn phòng tân hôn. Nổi lềnh bềnh dưới mặt nước, mụ cúi đầu chào cô bé và cất tiếng: "Đây là con trai ta; hắn sẽ là chồng cô bé, và hai đứa sẽ sống hạnh phúc viên mãn bên nhau dưới căn nhà đầm lầy cạnh dòng suối."
"Ộp, ộp, ộp," gã con trai chỉ biết đáp thô thiển bằng những tiếng kêu như thế. Đoạn, mụ cóc đoạt lấy chiếc giường lộng lẫy rồi quẫy nước bơi đi, bỏ mặc Tí Hon bơ vơ một mình trên phiến lá xanh rờn ngồi than khóc. Ý nghĩ phải chung sống với mụ cóc già nua và cưới gã con trai gớm ghiếc làm chồng khiến trái tim bé bỏng của cô vỡ vụn. Những bầy cá nhỏ đang lội tung tăng dưới làn nước trong vắt đã vô tình chứng kiến hành động của mụ cóc và nghe trọn những lời mụ nói. Thương xót cho số phận của cô, chúng đồng loạt nhô đầu lên khỏi mặt nước để ngắm nhìn.
Vừa trông thấy cô bé, đàn cá đã ngẩn ngơ trước vẻ đẹp kiều diễm ấy. Nghĩ đến việc một thiên thần nhỏ bé thế này phải sống mòn mỏi cùng lũ cóc xấu xí, bọn chúng thấy hậm hực không thôi.
"Không, chuyện chướng tai gai mắt này không bao giờ được phép xảy ra!" Thế là lũ cá xúm lại thành bầy dưới làn nước, quây tròn quanh cái cuống xanh biếc đang ghim giữ phiến lá. Chúng há những chiếc miệng nhỏ xíu, hì hục cắn đứt lìa phần rễ lá. Ngay lập tức, chiếc lá mang theo Tí Hon nhẹ nhàng nương theo dòng nước, trôi dạt ra xa, bỏ lại bờ đất lầy lội đầy hiểm nguy.
Tí Hon lênh đênh trôi qua hết thị trấn này đến thị trấn khác. Những chú chim chích lách chách chuyền cành trong những bụi rậm ven bờ, vừa thoáng thấy bóng dáng cô bé, đã phải líu lo ca ngợi: "Thật là một sinh linh bé nhỏ đáng yêu." Chiếc lá cứ thế miệt mài cuốn cô đi xa tít tắp, mãi tới những vùng đất lạ lẫm. Một chú bướm trắng nhỏ bé, duyên dáng cứ mải miết bay lượn vòng quanh cô, rồi bạo dạn đậu hẳn xuống mép lá. Chú bướm trắng đâm ra quyến luyến cô bé. Tí Hon cũng vô cùng hoan hỉ, bởi lẽ giờ đây mụ cóc quái ác chẳng thể nào tóm được cô nữa. Phong cảnh của vùng đất cô đang lướt qua lại đẹp đến nao lòng, với những tia nắng mặt trời rọi xuống dòng nước lấp lánh như dát vàng lỏng. Cô bé liền tháo dải thắt lưng mềm mại của mình, cẩn thận thắt một đầu quanh thân chú bướm, đầu ruy băng còn lại thì buộc chặt vào phiến lá. Thế là chiếc thuyền lá xanh lướt đi với tốc độ nhanh hơn trước gấp bội, mang theo Tí Hon đang hiên ngang đứng trên đó.
Ngay lúc đó, một gã bọ hung to lớn bất chợt bay ngang qua. Vừa để mắt thấy cô nàng nhỏ nhắn xinh đẹp, gã lập tức lao vút xuống, dùng hai chiếc càng kẹp chặt lấy vòng eo thon thả của cô nàng, rồi phành phạch bay vút lên một thân cây cao. Bị bỏ lại, chiếc lá xanh đành trôi dạt vô định trên dòng suối. Chú bướm trắng cũng bị lôi tuột theo, vì chú đã bị buộc chặt vào chiếc lá, chẳng cách nào bứt đứt để vùng vẫy thoát thân.
Ôi, Tí Hon mới kinh hãi làm sao khi bị gã bọ hung xốc bổng mang lên ngọn cây! Nhưng thẳm sâu trong lòng, cô nàng lại xót xa muôn phần cho số phận của chú bướm trắng xinh xắn mà cô lỡ buộc vào chiếc lá. Nếu không tự mình gỡ được sợi dây, chú bướm mỏng manh ấy chắc chắn sẽ chết mòn vì đói. Thế nhưng, gã bọ hung thì nào có đoái hoài gì đến những chuyện cỏn con ấy. Gã yên vị bên cạnh cô nàng, đậu trên một tán lá xanh mướt khổng lồ. Gã ân cần mang đến cho cô nàng một ít mật hoa ngọt lịm để tẩm bổ, rồi còn trổ tài tán tỉnh, khen ngợi cô nàng xinh đẹp hết lời, dẫu cho hình dáng cô nàng chẳng có lấy một điểm nào giống với loài bọ hung.

Chỉ một thoáng sau, đám bọ hung cư ngụ trên cây nghe ngóng được tin đồn, kéo nhau đến xem mặt Tí Hon. Chúng trố mắt nhìn cô nàng chòng chọc. Mấy quý cô bọ hung trẻ tuổi kênh kiệu vểnh râu lên đầy khinh bỉ, mai mỉa: "Cô ta chỉ có mỗi hai chân! Trông đến là gớm ghiếc làm sao." Một mụ khác the thé tiếp lời: "Trời đất, cô ta chẳng hề có râu." Lại có ả dè bỉu: "Cái eo thon đến phát tởm. Phỉ phui! Trông cô ta hệt như bọn loài người vậy."
"Ôi, cô ta thật xấu xí," cả đám quý cô bọ hung đồng thanh chê bai ỉ ôi. Gã bọ hung đực, kẻ đã bắt cóc cô nàng, nghe thấy mọi người hùa nhau chê cô nàng xấu xí thì đâm ra chao đảo, tin sái cổ. Gã quyết định hắt hủi, chẳng muốn dây dưa gì với cô nàng thêm nữa, và lạnh lùng bảo cô nàng muốn vác xác đi đâu thì tùy. Kế đó, gã cắp cô nàng từ chót vót ngọn cây bay thẳng xuống mặt đất, nhẫn tâm thả cô nàng nằm bơ vơ trên một nụ hoa cúc. Cô nàng òa khóc nức nở, xót xa nghĩ rằng mình quả thật xấu xí đến ma chê quỷ hờn, đến nỗi cả lũ bọ hung cũng chẳng thèm ngó ngàng hay đoái hoài. Vậy mà, thực chất, cô nàng lại là sinh linh hoàn mỹ nhất, đáng yêu nhất mà người ta có thể mường tượng ra, vừa mỏng manh thanh khiết, vừa tao nhã kiêu kỳ như một cánh hoa hồng diễm lệ.
Suốt một mùa hè đằng đẵng, Tí Hon tội nghiệp phải nếm trải cảnh sống cô độc thui thủi trong khu rừng rộng lớn, không một bóng người nương tựa. Cô bé hái những ngọn cỏ mỏng manh, tự tay tết thành một chiếc võng nhỏ làm giường, rồi đem treo lủng lẳng dưới một chiếc lá khổng lồ, cốt để che mưa chắn gió. Hằng ngày, cô bé hút mật ngọt từ những nụ hoa để duy trì sự sống, và nhấm nháp những giọt sương mai trong trẻo đọng trên cành lá mỗi buổi bình minh.
Rồi mùa hè qua đi, mùa thu cũng nối bước, nhường chỗ cho mùa đông ập tới-một mùa đông lê thê, rét mướt. Bầy chim nhỏ từng cất tiếng hót ngọt ngào ríu rít cho Tí Hon nghe nay đã rủ nhau bay đi tránh rét, để lại muôn vàn hoa cỏ héo hon, tàn tạ. Cây cỏ ba lá lớn ngày nào còn vươn bóng che chở cho cô bé giờ cuộn tròn, khô quắt lại; chẳng mấy chốc chỉ còn trơ mỗi cái cuống úa vàng, xác xơ. Tí Hon cảm thấy lạnh thấu xương, manh áo trên người đã rách tươm, thân hình nhỏ bé mỏng manh lại run lên bần bật, tưởng chừng như sắp chết cóng. Những bông tuyết bắt đầu rơi lả tả; mỗi bông tuyết vương xuống người cô bé tựa hồ như ai đó xúc cả xẻng tuyết đổ ập vào một người bình thường. Cũng bởi chúng ta cao lớn, còn Tí Hon chỉ cao vỏn vẹn đúng một inch. Cô bé cố lấy một chiếc lá khô quấn quanh người làm chăn, nhưng chiếc lá bỗng nứt toác ra ở giữa, chẳng thể ngăn được hơi lạnh buốt giá, khiến cô bé cứ thế run rẩy trong cơn gió đông.
Ngay sát khu rừng nơi Tí Hon nương náu là một cánh đồng ngô rộng thênh thang. Nhưng người ta đã thu hoạch từ lâu, giờ chỉ trơ lại những gốc rạ khô khốc, cứng đơ nhô lên khỏi lớp đất cứng đanh vì băng giá. Đối với cô bé, lách qua đám rạ ấy tốn sức chẳng khác nào đang chật vật băng qua một khu rừng rậm rạp.
Ôi! Cô bé không ngừng run lên vì rét. Đi mãi, cuối cùng Tí Hon cũng lê bước đến được trước cửa nhà của một bác chuột đồng. Đó là một chiếc hang nhỏ xinh nằm sâu dưới gốc rạ. Bác chuột đồng sống ở đó thật ấm áp và sung túc, với một phòng chứa đầy ắp ngô, một gian bếp khang trang cùng một phòng ăn tuyệt đẹp. Tí Hon tội nghiệp đứng khép nép trước cửa, trông hệt như một cô bé ăn mày nhỏ bé, cất tiếng xin một mẩu hạt lúa mạch, bởi suốt hai ngày qua cô bé chẳng có lấy một hột gì bỏ bụng.
"Tội nghiệp cháu bé," bác chuột đồng nói-bác thực ra là một bà chuột già rất tốt bụng-"mau vào phòng ấm của bác rồi ăn tối cùng bác nào."
Bác chuột đồng rất có cảm tình với Tí Hon, nên bác ngỏ lời: "Cháu cứ thoải mái ở lại đây với bác suốt mùa đông này, nếu cháu muốn. Bù lại, cháu chỉ cần dọn dẹp phòng ốc của bác cho thật sạch sẽ, gọn gàng, và kể truyện cho bác nghe, vì bác rất mê nghe truyện." Tí Hon ngoan ngoãn làm theo mọi lời bác chuột đồng dặn dò, nhờ thế cô bé được tận hưởng những ngày tháng sống yên bình và vô cùng ấm áp.
Một ngày nọ, bác chuột đồng bảo: "Chúng ta sắp có khách đến chơi đấy. Hàng xóm của bác tuần nào cũng sang thăm bác một lần. Ngài ấy còn khá giả hơn bác nhiều; ngài ấy sở hữu vô số căn phòng rộng rãi, lại khoác trên mình chiếc áo nhung đen tuyệt đẹp. Nếu cháu có thể lấy ngài ấy làm chồng, cháu sẽ có một cuộc sống no đủ trọn đời. Khổ nỗi ngài ấy lại bị mù, nên cháu phải trổ tài kể cho ngài ấy nghe những câu chuyện hay nhất của cháu đấy nhé."
Thực lòng, Tí Hon chẳng mảy may hứng thú chút nào với vị hàng xóm kia, bởi lẽ ngài ấy là một con chuột chũi. Mặc cho cô bé dửng dưng, ngài ấy vẫn sang chơi, lộng lẫy trong chiếc áo nhung đen bóng bẩy.
"Ngài ấy rất mực giàu có và uyên bác, nhà của ngài ấy còn rộng gấp hai mươi lần nhà của bác cơ đấy," bác chuột đồng tấm tắc khen ngợi.
Rõ ràng ngài chuột chũi cực kỳ giàu có và thông thái, nhưng ngài ấy luôn dùng giọng điệu khinh khỉnh khi nhắc đến mặt trời hay những đóa hoa tươi đẹp, đơn giản vì ngài chưa một lần nhìn thấy chúng. Về phần Tí Hon, cô bé bị ép hát cho ngài nghe đủ bài, từ bài "Ladybird, ladybird, fly away home1", cho đến bao nhiêu khúc ca du dương khác. Say đắm trước chất giọng ngọt ngào tựa sương mai ấy, chuột chũi đã đem lòng yêu cô bé. Nhưng ngài ấy vẫn chưa vội ngỏ lời, vì bản tính ngài vốn thận trọng và vô cùng kín kẽ. Cách đây ít lâu, chuột chũi đã cần mẫn đào một đường hầm dài tít tắp dưới lòng đất, nối thẳng từ chỗ ở của bác chuột đồng sang tận nhà mình. Ngài hào phóng cho phép bác chuột cùng Tí Hon dạo bước qua đó bất cứ lúc nào họ thích. Tuy nhiên, ngài cũng không quên căn dặn cả hai đừng quá hoảng sợ nếu lỡ trông thấy xác một con chim chết nằm vắt ngang lối đi. Đó là xác một con chim còn nguyên vẹn hình hài, với đầy đủ mỏ và bộ lông vũ, dường như chỉ vừa mới trút hơi thở cuối cùng. Đáng buồn thay, nó lại rơi đúng vào đoạn đường hầm chuột chũi vừa mới đào xong. Chuột chũi ngậm chặt trong miệng một mẩu gỗ mục lân quang, thứ phát ra ánh sáng leo lét như ngọn lửa giữa màn đêm tăm tối. Rồi ngài ấy bệ vệ dẫn đầu, soi đường cho hai người kia tiến vào đường hầm thăm thẳm và mù mịt. Khi bước đến chỗ xác con chim chết, chuột chũi liền dùng cái mũi to bè và thô kệch của mình húc mạnh lên trần hầm, làm lớp đất sụt xuống, để lộ ra một khoảng trống cho ánh sáng ban ngày hiếm hoi rọi thẳng xuống.
Giữa nền đất lạnh lẽo là một chú chim én. Đôi cánh tuyệt đẹp của anh gập chặt vào hai bên sườn, đôi chân và cái đầu khốn khổ rụt hẳn vào dưới lớp lông-rõ ràng chú chim tội nghiệp đã chết gục vì cái rét cắt da cắt thịt. Cảnh tượng ấy khiến trái tim Tí Hon như thắt lại vì đau buồn. Cô bé luôn dành một tình cảm đặc biệt cho những chú chim nhỏ; suốt cả mùa hè rực rỡ, chính chúng đã tấu lên những khúc nhạc tuyệt vời nhất cho cô bé nghe. Thế nhưng, chuột chũi lại lạnh lùng dùng đôi chân khoèo gạt phăng xác chú chim sang một bên rồi dè bỉu: "Chà, bây giờ thì hắn hết hót rồi nhé. Thật khốn kiếp làm sao khi bị đày đọa làm một con chim nhỏ! Ta thật tạ ơn trời đất vì chẳng có đứa con nào của ta phải mang kiếp chim chóc. Lũ chúng nó ngoài chuyện kêu gào 'Tweet, tweet' thì làm được trò trống gì cơ chứ, cuối cùng cũng chỉ biết chết đói vào mùa đông mà thôi."
"Đúng thế, ngài phán chí phải, đúng là lời lẽ của một bậc trí giả!" bác chuột đồng phụ họa theo. "Tiếng líu lo êm tai của chúng phỏng có ích gì, khi mà mùa đông ùa tới, chúng chỉ có nước chết đói hoặc chết cóng? Vậy mà cái giống chim chóc ấy lại kiêu ngạo gớm cơ."
Tí Hon lặng thinh không đáp. Nhưng khi hai kẻ kia vừa quay lưng đi khuất, cô bé vội cúi xuống, âu yếm vuốt ve lớp lông mềm mại phủ trên đầu chú chim, rồi khẽ đặt nụ hôn lên đôi mắt đã nhắm nghiền của anh. "Biết đâu đây chính là chú chim từng hát cho mình nghe bằng giọng điệu ngọt ngào nhất vào dạo hè," cô bé thì thầm; "Anh đã mang đến cho em bao nhiêu niềm vui, hỡi anh chim xinh xắn và đáng yêu của em."
Sau khi chuột chũi bít kín cái lỗ thủng nơi ánh sáng ban ngày vừa lọt xuống, ngài ấy hộ tống các quý cô trở về nhà. Tuy nhiên, suốt đêm hôm ấy, Tí Hon cứ trằn trọc mãi chẳng thể nào chợp mắt. Cô bé đành ngồi dậy, tỉ mẩn đan một tấm chăn lớn tuyệt đẹp từ những sợi cỏ khô. Đan xong, cô bé ôm tấm thảm đến bên con chim đã chết và nhẹ nhàng đắp lên mình anh. Cô còn chu đáo mang theo một nắm lông tơ mịn màng từ những bông hoa mà cô bé tình cờ tìm thấy trong góc phòng của bác chuột đồng. Thứ lông tơ ấy mềm mại chẳng kém gì len, cô bé chèn cẩn thận dọc hai bên mạn sườn chú chim, mong sao anh ấy có thể nằm ấm áp hơn giữa lòng đất lạnh giá.
"Vĩnh biệt, anh chim nhỏ xinh xắn," cô bé thủ thỉ, "vĩnh biệt anh. Cảm ơn anh vì những khúc ca du dương không ngớt suốt cả mùa hè, khi vạn vật quanh ta chìm trong sắc xanh tươi mát và ánh mặt trời ấm áp chan hòa." Cảm xúc dâng trào, cô bé khẽ áp đầu mình lên ngực chú chim. Bỗng nhiên, Tí Hon giật nảy mình hoảng hốt. Dường như có thứ gì đó đang đập "thình thịch, thình thịch" bên trong lồng ngực anh. Phải rồi, đó chính là nhịp đập trái tim của chú chim! Hóa ra anh ấy vẫn chưa chết, anh ấy chỉ lịm đi vì tê cóng, và chính hơi ấm từ cô bé đã hồi sinh sự sống trong anh. Thông thường, mỗi độ thu sang, họ hàng nhà én đều cất cánh bay về những vùng đất phương Nam ấm áp; thế nhưng, nếu có con nào lỡ trễ nhịp nán lại, cái lạnh buốt xương sẽ lập tức vồ lấy nó. Con chim đáng thương sẽ bị rét cóng, rơi rụng xuống đất tựa như một cái xác không hồn. Nó nằm bất động ngay tại nơi nó rơi xuống, phó mặc cho những lớp tuyết lạnh giá phủ kín lấy tấm thân.
Tí Hon bỗng run lên bần bật; cô bé thực sự hoảng sợ, bởi chú chim ấy quá đỗi to lớn, to hơn cô bé vô số lần (đừng quên cô bé chỉ cao vỏn vẹn đúng một inch). Nhưng rồi, gom hết can đảm, cô bé đắp thêm thật nhiều lớp lông nhung êm ái lên chú chim én tội nghiệp. Chưa hết, cô bé còn lấy luôn cả chiếc lá mà mình vẫn thường đắp làm chăn để cẩn thận ủ ấm cho đầu anh ấy.
Đêm hôm sau, cô bé lại lén lút trốn ra ngoài thăm anh. Chim én vẫn sống, chỉ có điều anh ấy còn yếu ớt vô cùng. Anh cố gắng hé mở đôi mắt mệt mỏi trong chốc lát để nhìn Tí Hon, cô bé ân nhân đang đứng bên cạnh mình, tay chới với cầm một mẩu gỗ mục phát sáng, vì ngoài thứ đó ra cô chẳng bói đâu ra chiếc đèn lồng nào khác. "Cảm ơn em, hỡi cô bé xinh đẹp," chú chim én ốm yếu thì thào cất tiếng; "nhờ em ủ ấm thật cẩn thận, anh nhất định sẽ sớm lấy lại được sức lực, và rồi anh lại có thể tự do bay lượn trong ánh nắng ấm áp."
"Ôi không," cô bé đáp lời, "bên ngoài bây giờ lạnh buốt xương; tuyết vẫn đang rơi và sương giá thì giăng đầy. Anh hãy cứ an tâm nằm lại trong chiếc giường ấm áp của mình nhé; em sẽ hằng ngày chăm sóc cho anh."
Nói rồi, cô bé múc một ít nước đựng trong chiếc đài hoa mang đến cho chim én. Uống cạn ngụm nước mát lành, anh bắt đầu kể cho cô nghe cơ sự. Anh bảo rằng mình đã vô tình bị một bụi gai sắc nhọn cào rách một bên cánh, thế nên anh không thể bay nhanh bắt kịp những bạn chim khác, những người đã sớm cất cánh bay tới các vùng đất ấm áp xa xôi. Rốt cuộc, vì kiệt sức, anh đã rơi phịch xuống đất, và từ đó anh chẳng còn nhớ thêm được điều gì nữa, thậm chí anh cũng chẳng hiểu cơ duyên nào đã đưa mình nằm đúng nơi cô bé tìm thấy anh.
Thế là suốt mùa đông lạnh lẽo, chim én trú ẩn an toàn dưới lòng đất, và Tí Hon thì chăm sóc anh bằng tất cả sự ân cần và tình yêu thương sâu sắc. Cô bé tuyệt đối giấu kín chuyện này, chẳng hé nửa lời với chuột chũi hay bác chuột đồng, bởi cô thừa biết họ vốn chẳng ưa gì loài chim én. Thời gian thấm thoắt thoi đưa, chẳng bao lâu mùa xuân đã gõ cửa, và ánh nắng mặt trời lại dang vòng tay sưởi ấm mặt đất. Đã đến lúc chim én phải nói lời tạm biệt Tí Hon. Cô bé giúp anh mở tung chiếc hốc trên trần hầm mà chuột chũi từng đào. Ánh nắng ban mai rực rỡ và lấp lánh hắt thẳng xuống chỗ họ, soi rọi vạn vật tuyệt đẹp đến mức chim én cất lời hỏi liệu cô bé có muốn đi cùng anh hay không. Anh háo hức bảo cô bé có thể ngồi vững trên lưng mình, và anh sẽ mang cô vút bay vào những cánh rừng xanh thẳm ngút ngàn. Dẫu khát khao tự do, cô bé biết chắc rằng nếu mình cất bước ra đi theo cách đó, bác chuột đồng sẽ vô cùng đau lòng. Vì vậy, cô bé đành ngậm ngùi từ chối: "Không, em không thể đâu."
"Vậy thì đành vĩnh biệt, vĩnh biệt em, cô bé xinh đẹp và tốt bụng của anh," chim én đáp lời, rồi anh sải rộng đôi cánh, vút bay ra ngoài hòa mình vào ánh nắng mùa xuân ấm áp.
Tí Hon thẩn thờ nhìn theo bóng anh xa dần, những giọt lệ trong vắt cứ thế trào dâng nơi khóe mắt. Hơn lúc nào hết, cô bé nhận ra mình rất mực quý mến chú chim én đáng thương ấy.
"Tweet, tweet," chú chim hót vang lừng, bỏ lại khúc ca phía sau khi anh sải cánh lượn vào khu rừng xanh thẳm. Ở lại dưới lòng đất tăm tối, Tí Hon cảm thấy nỗi buồn tủi dâng lên vô hạn. Cô bé không được phép bước ra ngoài tắm mình trong ánh nắng chan hòa ấm áp. Chẳng mấy chốc, những cây ngô được người ta gieo hạt trên cánh đồng ngay phía trên ngôi nhà của bác chuột đồng đã mọc lên cao vút, đan xen vươn lên thành một khu rừng rậm rạp và dày đặc bao bọc lấy Tí Hon-một cô bé nhỏ bé chỉ cao vỏn vẹn một inch.

"Cháu sắp lấy chồng rồi đấy, cháu gái bé bỏng," bác chuột đồng lên tiếng. "Ngài hàng xóm của bác vừa ngỏ lời hỏi cưới cháu xong. Quả là phúc lớn cho một đứa trẻ tội nghiệp như cháu! Giờ thì chúng ta phải sửa soạn váy áo cô dâu thôi. Đồ cưới phải may bằng len và vải lanh đắt tiền. Cháu tuyệt đối không được thiếu thốn thứ gì khi bước chân vào nhà ngài chuột chũi với tư cách là phu nhân."
Thumbelina đành phải mải miết quay trục kéo sợi, trong khi bác chuột đồng mướn hẳn bốn con nhện thợ ngày đêm miệt mài dệt vải. Tối nào ngài chuột chũi cũng sang chơi và luôn miệng càu nhàu mong cho mùa hè mau chóng qua đi. Ngài định bụng đợi tiết trời chuyển mùa sẽ lập tức tổ chức hôn lễ với Thumbelina; chứ lúc này, sức nóng rát bỏng của mặt trời đang thiêu đốt vạn vật, nung khô mặt đất rắn đanh lại như đá. Ngay khi mùa hè vãn bóng, đám cưới sẽ chính thức cử hành. Thế nhưng, trong lòng Thumbelina chẳng mảy may gợn chút niềm vui, bởi lẽ em vốn chẳng ưa gì ngài chuột chũi tẻ nhạt và ảm đạm.
Mỗi sớm mai khi thái dương ló rạng hay những độ chiều tà buông nắng, em lại rón rén lẻn ra bậu cửa. Khi những cơn gió đồng mơn man thổi rạp những ngọn ngô xuống, hé lộ ra cả một khoảng trời xanh thẳm, em lại ngơ ngẩn ngắm nhìn thế giới rực rỡ và tươi đẹp vô ngần ấy, lòng quặn thắt nỗi nhớ mong người bạn tri kỷ - anh chim én nhỏ. Nhưng chim én đã chẳng bao giờ quay lại nữa, bởi giờ đây, anh đang mải sải cánh chao liệng giữa dải rừng xanh biếc ngút ngàn.
Độ thu sang, xiêm y ngày cưới của Thumbelina đã chuẩn bị đâu vào đấy. Bác chuột đồng liền thông báo: "Bốn tuần nữa thôi, hôn lễ sẽ diễn ra."
Nghe vậy, em bật khóc nức nở và kiên quyết nói rằng mình không muốn gả cho ngài chuột chũi đáng ghét kia.
"Thật là ngang ngược," bác chuột đồng quở trách. "Thôi ngay thói bướng bỉnh ấy đi, bằng không bác sẽ ngoạm cháu bằng những chiếc răng trắng ởn này đấy. Ngài ấy là một con chuột chũi vô cùng bảnh bao; thử hỏi ngay cả nữ hoàng liệu có được khoác những bộ áo nhung và lông thú sang trọng bằng ngài ấy chăng? Bếp núc và hầm rượu nhà ngài lại luôn ăm ắp. Đáng ra cháu phải thấy phước phần dâng trào vì bắt được mối duyên may mắn nhường ấy mới phải."
Thế rồi ngày cưới cũng được ấn định. Bắt đầu từ ngày đó, ngài chuột chũi sẽ rước em về sống chung sâu mãi dưới lòng đất lạnh lẽo, vĩnh viễn không bao giờ được nhìn ngắm ánh mặt trời ấm áp nữa, chỉ bởi vì ngài vốn rất dị ứng với nó. Đứa trẻ tội nghiệp chìm trong tận cùng tuyệt vọng khi nghĩ đến việc phải cất tiếng từ biệt thái dương rạng ngời. Nhân lúc bác chuột đồng ân chuẩn cho em được đứng nán lại ngoài bậu cửa, em bèn bước ra để ngắm nhìn vầng dương lần cuối.
"Vĩnh biệt, vĩnh biệt vầng thái dương rực rỡ," em khóc òa lên, hai cánh tay nhỏ xíu dang rộng vươn về phía mặt trời. Sau đó, em thơ thẩn bước ra xa khỏi bậu cửa một quãng. Ngô trên cánh đồng đã gặt hái từ lâu, nay chỉ trơ lại những gốc rạ khô khốc nằm lăn lóc vương vãi khắp bãi đất trống. "Vĩnh biệt, vĩnh biệt," em nghẹn ngào lặp lại, đôi tay bé xíu ấp ôm nụ hoa nhỏ màu đỏ tươi vừa chớm nở bên đường. "Gửi lời chào của em đến anh chim én, nếu có lúc nào bạn hội ngộ cùng anh ấy nhé."
"Tweet, tweet," một tiếng hót trong trẻo bỗng vang lên ngay trên đỉnh đầu em. Thumbelina vội ngước nhìn, kìa, đúng là anh chim én đang chao liệng ngang qua. Vừa trông thấy Thumbelina, chim én mừng rỡ khôn xiết. Em nức nở thổ lộ hết nỗi lòng với anh, rằng em chẳng hề muốn bị gả cho ngài chuột chũi gớm ghiếc kia, cũng chẳng muốn bị chôn vùi thanh xuân dưới đáy vực tăm tối, vĩnh viễn chia lìa ánh mặt trời tươi đẹp. Vừa kể lể, những giọt lệ sầu thảm của em cứ thế tuôn rơi.
"Mùa đông giá rét đang sập đến rồi," chim én ân cần nói, "và anh đang chuẩn bị di cư về những miền đất ấm áp hơn. Em có muốn đồng hành cùng anh không? Em cứ việc trèo lên lưng anh, dùng thắt lưng buộc chặt mình lại cho khỏi ngã. Rồi đôi ta sẽ vỗ cánh bay thật xa, bỏ lại ngài chuột chũi kinh tởm cùng cơ ngơi tăm tối của ông ta mãi mãi ở đằng sau. Chúng ta sẽ bay băng qua những rặng núi điệp trùng, hướng tới những chân trời ấm áp, nơi ánh mặt trời chói lọi hơn nơi này bội phần. Nơi ấy bốn mùa đều là mùa hè rực rỡ, trăm hoa đua nở ngát hương khoe sắc kiêu sa. Bay cùng anh ngay đi, cô bé nhỏ dấu yêu; chính em đã cứu mạng anh khi anh đang nằm thoi thóp rét cóng trong cái đường hầm lạnh lẽo tăm tối đó mà."
"Vâng, em sẽ đi cùng anh," Thumbelina quả quyết; rồi em trèo lên lưng anh chim én, khẽ khàng đặt đôi chân xinh xắn lên đôi cánh đang dang rộng, rồi cẩn thận dùng chiếc thắt lưng nịt chặt thân mình vào một chiếc lông vũ cứng cáp nhất.
Chim én vút bay lên không trung, sải cánh băng qua thảm rừng già và biển cả bao la, vút qua cả những đỉnh núi cao ngất ngưởng quanh năm tuyết phủ trắng xóa. Thumbelina tưởng chừng đã chết cóng giữa tầng không buốt giá, nhưng em đã khôn khéo rúc mình thật sâu vào dưới lớp lông vũ ấm áp của chim én, chỉ để thò ra cái đầu nhỏ xíu, say sưa ngắm nhìn cảnh sắc tuyệt mĩ lướt qua bên dưới. Cuối cùng, họ cũng hạ cánh xuống một miền đất ấm áp, nơi vầng dương tỏa nắng chói chang và vòm trời tưởng như cao rộng hơn mặt đất gấp trăm ngàn lần. Ở nơi này, nho tím, nho xanh, nho trắng mọc trĩu quả vấn vít trên những dãy hàng rào và dọc men theo các nẻo đường. Giữa những cánh đồng bát ngát, chanh và cam cũng sai trĩu cành, trong khi bầu không khí ngập tràn hương thơm thanh khiết của hoa sim và hoa cam. Bọn trẻ con xinh xắn tung tăng chạy nhảy dọc theo những con đường đất quê, nô đùa với bầy bướm sặc sỡ sắc màu. Và rồi chim én càng bay xa, cảnh sắc thiên nhiên lại càng muôn phần mỹ lệ.
Rốt cuộc, cả hai đã tới được một hồ nước biếc xanh thẳm. Nép mình bên mặt hồ phẳng lặng, dưới tán lá rợp mát của rặng cây xanh thẫm là một tòa lâu đài bằng đá cẩm thạch trắng muốt và tráng lệ, nhuốm màu rêu phong của thời gian. Những dải dây leo quấn quýt vươn lên ôm trọn lấy các cột trụ cao vút, còn trên mái vòm chót vót là vô số tổ chim én. Một trong số đó chính là tổ ấm của anh chim én ân nhân chở Thumbelina.
"Nhà của anh đây rồi," chim én hân hoan cất tiếng; "nhưng em sống trong đó e là không tiện đâu - em sẽ thấy chật chội và tù túng lắm. Em hãy tự tay chọn cho mình một nụ hoa rực rỡ nhất trong số những bông hoa kiều diễm kia nhé. Anh sẽ đặt em ngồi vào đó, và em sẽ có được mọi thứ êm ái nhất trên đời để có thể sống thật hạnh phúc."
"Thế thì diệu kỳ quá," em reo lên, đôi bàn tay nhỏ xíu hớn hở vỗ vào nhau mừng rỡ.
Một cây cột trụ cẩm thạch khổng lồ đã đổ sụp xuống mặt đất, vỡ nát thành ba mảnh. Từ giữa khe nứt của những mảnh vỡ ấy, một khóm hoa trắng buốt mọc lên vô cùng diễm lệ. Chim én bèn chao liệng mang Thumbelina sà xuống, cẩn thận đặt em ngồi trên một phiến lá xanh to bản. Vừa chạm gót, em kinh ngạc sững sờ khi trông thấy ngự ở giữa đài hoa là một chàng trai tí hon, thân thể trắng ngần và trong suốt như thể được chạm khắc từ khối pha lê thuần khiết! Chàng ngự chiếc vương miện vàng chói lọi trên đầu, đôi cánh mỏng manh thanh tao khẽ rung rinh trên vai, và vóc dáng chàng cũng chẳng nhỉnh hơn em là bao. Chàng chính là thiên thần bản mệnh của khóm hoa này, bởi lẽ tạo hóa đã ban cho mỗi đóa hoa một người đàn ông hoặc một người phụ nữ tí hon cư ngụ. Và chàng đây chính là vị vua uy quyền thống lãnh tất cả bọn họ.
"Ôi, chàng ấy mới khôi ngô tuấn tú làm sao!" Thumbelina thẹn thùng thì thầm vào tai anh chim én.
Thoạt đầu, vị hoàng tử bé nhỏ vô cùng hoảng hốt trước bóng dáng đồ sộ của anh chim én - một sinh vật khổng lồ đáng sợ đối với một sinh linh mỏng manh như chàng. Thế nhưng, ngay khi chạm mặt Thumbelina, ánh mắt chàng chợt rực sáng niềm hân hoan khôn tả. Chàng tin chắc đây chính là thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần nhất mà chàng từng may mắn diện kiến. Hoàng tử từ tốn tháo chiếc vương miện vàng trên đầu mình xuống, ân cần đội lên mái tóc của Thumbelina, dịu dàng hỏi tên nàng, và thỉnh cầu xem nàng có bằng lòng nhận lời cầu hôn để trở thành vợ chàng, đường hoàng làm hoàng hậu trị vì vương quốc của muôn loài hoa hay không.
Rõ ràng đây là một đấng phu quân hoàn hảo, khác một trời một vực so với gã con trai ngốc nghếch của mụ cóc, hay lão chuột chũi tối tăm trong bộ áo nhung đen và lông thú ngột ngạt. Chẳng ngần ngại gì nữa, em bẽn lẽn thốt lời ưng thuận với chàng hoàng tử khôi ngô. Ngay khoảnh khắc ấy, cả cánh đồng hoa đồng loạt bừng nở rạng rỡ. Từ mỗi đóa hoa, từng tiểu thư đài các và công tử hào hoa tí hon duyên dáng bước ra. Trông ai nấy đều toát lên vẻ đẹp mỹ miều, say đắm lòng người. Tất cả cùng đến và dâng tặng cho Thumbelina những món quà quý giá; nhưng tuyệt diệu hơn cả thảy là một đôi cánh trắng muốt vô ngần, vốn dĩ là của một chú ruồi trắng khổng lồ. Mọi người xúm vào gắn đôi cánh lấp lánh ấy lên vai Thumbelina, để từ nay em có thể thỏa thích bay lượn tung tăng dạo chơi từ đóa hoa này sang đóa hoa khác.
Tiếp nối là một buổi dạ tiệc linh đình và rộn rã. Anh chim én nhỏ, ngự chót vót trên chiếc tổ thân thuộc, được trân trọng mời xướng lên một khúc ca chúc phúc cho đôi uyên ương. Anh cất cao tiếng hát bằng tất cả tấm lòng nhiệt thành; dẫu vậy, thẳm sâu trong đáy tâm hồn, anh vẫn thoáng gợn một nỗi buồn man mác. Trái tim anh vốn dĩ đã chan chứa một niềm yêu thương nồng hậu dành cho Thumbelina, và anh khát khao được mãi mãi kề cận chăm sóc, chẳng nỡ lòng nào phải chia xa em thêm một giây phút nào nữa.
"Nàng không thể tiếp tục mang cái tên Thumbelina quê mùa ấy nữa," vị hoàng tử - linh hồn của các loài hoa - âu yếm nói. "Cái tên ấy thật xấu xí, chẳng hề xứng tầm với dung nhan diễm lệ của nàng. Từ nay trở đi, chúng ta sẽ gọi nàng là Maia2."
"Vĩnh biệt, vĩnh biệt," chim én cất lời từ biệt với trái tim trĩu nặng xót xa, khi anh vỗ cánh từ giã vùng đất ấm áp để bay trở về quê hương Đan Mạch xa xôi. Tại đó, anh có một chiếc tổ nhỏ bé bám tựa phía trên ô cửa sổ của một ngôi nhà, nơi vị nhà văn chuyên viết truyện cổ tích nọ đang sinh sống. Chú chim én đã hót vang lên những âm thanh "Tweet, tweet" ngân nga, và rồi chính từ khúc ca du dương ấy, toàn bộ câu chuyện kỳ diệu này đã được tượng hình, nảy nở rồi lan truyền mãi trong thế giới thần tiên.
-
Đây là câu mở đầu của một bài đồng dao (nursery rhyme) phổ biến bằng tiếng Anh, khuyên chú bọ rùa (ladybird) bay về nhà. Việc giữ nguyên tiếng Anh giúp bảo toàn âm điệu nguyên bản của bài hát. ↩
-
Trong thần thoại La Mã và Hy Lạp, Maia là vị nữ thần gắn liền với mùa xuân, sự sinh sôi nảy nở và các loài hoa (tháng 5 - 'May' trong tiếng Anh được đặt theo tên nữ thần này). Việc hoàng tử đổi tên mang ngụ ý tôn vinh nàng như một vị nữ thần của vương quốc các loài hoa. ↩
LITTLE THUMBELINA
HERE was once a woman who wished very much to have a little child. She went to a fairy and said: "I should so very much like to have a little child. Can you tell me where I can find one?"
"Oh, that can be easily managed," said the fairy. "Here is a barleycorn; it is not exactly of the same sort as those which grow in the farmers' fields, and which the chickens eat. Put it into a flowerpot and see what will happen."
"Thank you," said the woman; and she gave the fairy twelve shillings, which was the price of the barleycorn. Then she went home and planted it, and there grew up a large, handsome flower, somewhat like a tulip in appearance, but with its leaves tightly closed, as if it were still a bud.
"It is a beautiful flower," said the woman, and she kissed the red and golden-colored petals; and as she did so the flower opened, and she could see that it was a real tulip. But within the flower, upon the green velvet stamens, sat a very delicate and graceful little maiden. She was scarcely half as long as a thumb, and they gave her the name of Little Thumb, or Thumbelina, because she was so small.
A walnut shell, elegantly polished, served her for a cradle; her bed was formed of blue violet leaves, with a rose leaf for a counterpane. Here she slept at night, but during the day she amused herself on a table, where the peasant wife had placed a plate full of water.
Round this plate were wreaths of flowers with their stems in the water, and upon it floated a large tulip leaf, which served the little one for a boat. Here she sat and rowed herself from side to side, with two oars made of white horsehair. It was a very pretty sight. Thumbelina could also sing so softly and sweetly that nothing like her singing had ever before been heard.
One night, while she lay in her pretty bed, a large, ugly, wet toad crept through a broken pane of glass in the window and leaped right upon the table where she lay sleeping under her rose-leaf quilt.
"What a pretty little wife this would make for my son," said the toad, and she took up the walnut shell in which Thumbelina lay asleep, and jumped through the window with it, into the garden.
In the swampy margin of a broad stream in the garden lived the toad with her son. He was uglier even than his mother; and when he saw the pretty little maiden in her elegant bed, he could only cry "Croak, croak, croak."
"Don't speak so loud, or she will wake," said the toad, "and then she might run away, for she is as light as swan's-down. We will place her on one of the water-lily leaves out in the stream; it will be like an island to her, she is so light and small, and then she cannot escape; and while she is there we will make haste and prepare the stateroom under the marsh, in which you are to live when you are married."
Far out in the stream grew a number of water lilies with broad green leaves which seemed to float on the top of the water. The largest of these leaves appeared farther off than the rest, and the old toad swam out to it with the walnut shell, in which Thumbelina still lay asleep.
The tiny creature woke very early in the morning and began to cry bitterly when she found where she was, for she could see nothing but water on every side of the large green leaf, and no way of reaching the land.
Meanwhile the old toad was very busy under the marsh, decking her room with rushes and yellow wildflowers, to make it look pretty for her new daughter-in-law. Then she swam out with her ugly son to the leaf on which she had placed poor Thumbelina. She wanted to bring the pretty bed, that she might put it in the bridal chamber to be ready for her. The old toad bowed low to her in the water and said, "Here is my son; he will be your husband, and you will live happily together in the marsh by the stream."
"Croak, croak, croak," was all her son could say for himself. So the toad took up the elegant little bed and swam away with it, leaving Thumbelina all alone on the green leaf, where she sat and wept. She could not bear to think of living with the old toad and having her ugly son for a husband. The little fishes who swam about in the water beneath had seen the toad and heard what she said, so now they lifted their heads above the water to look at the little maiden.
As soon as they caught sight of her they saw she was very pretty, and it vexed them to think that she must go and live with the ugly toads.
"No, it must never be!" So they gathered together in the water, round the green stalk which held the leaf on which the little maiden stood, and gnawed it away at the root with their teeth. Then the leaf floated down the stream, carrying Thumbelina far away out of reach of land.
Thumbelina sailed past many towns, and the little birds in the bushes saw her and sang, "What a lovely little creature." So the leaf swam away with her farther and farther, till it brought her to other lands. A graceful little white butterfly constantly fluttered round her and at last alighted on the leaf. The little maiden pleased him, and she was glad of it, for now the toad could not possibly reach her, and the country through which she sailed was beautiful, and the sun shone upon the water till it glittered like liquid gold. She took off her girdle and tied one end of it round the butterfly, fastening the other end of the ribbon to the leaf, which now glided on much faster than before, taking Thumbelina with it as she stood.
Presently a large cockchafer flew by. The moment he caught sight of her he seized her round her delicate waist with his claws and flew with her into a tree. The green leaf floated away on the brook, and the butterfly flew with it, for he was fastened to it and could not get away.
Oh, how frightened Thumbelina felt when the cockchafer flew with her to the tree! But especially was she sorry for the beautiful white butterfly which she had fastened to the leaf, for if he could not free himself he would die of hunger. But the cockchafer did not trouble himself at all about the matter. He seated himself by her side, on a large green leaf, gave her some honey from the flowers to eat, and told her she was very pretty, though not in the least like a cockchafer.
After a time all the cockchafers who lived in the tree came to pay Thumbelina a visit. They stared at her, and then the young lady cockchafers turned up their feelers and said, "She has only two legs! how ugly that looks." "She has no feelers," said another. "Her waist is quite slim. Pooh! she is like a human being."
"Oh, she is ugly," said all the lady cockchafers. The cockchafer who had run away with her believed all the others when they said she was ugly. He would have nothing more to say to her, and told her she might go where she liked. Then he flew down with her from the tree and placed her on a daisy, and she wept at the thought that she was so ugly that even the cockchafers would have nothing to say to her. And all the while she was really the loveliest creature that one could imagine, and as tender and delicate as a beautiful rose leaf.
During the whole summer poor little Thumbelina lived quite alone in the wide forest. She wove herself a bed with blades of grass and hung it up under a broad leaf, to protect herself from the rain. She sucked the honey from the flowers for food and drank the dew from their leaves every morning.
So passed away the summer and the autumn, and then came the winter-the long, cold winter. All the birds who had sung to her so sweetly had flown away, and the trees and the flowers had withered. The large shamrock under the shelter of which she had lived was now rolled together and shriveled up; nothing remained but a yellow, withered stalk. She felt dreadfully cold, for her clothes were torn, and she was herself so frail and delicate that she was nearly frozen to death. It began to snow, too; and the snowflakes, as they fell upon her, were like a whole shovelful falling upon one of us, for we are tall, but she was only an inch high. She wrapped herself in a dry leaf, but it cracked in the middle and could not keep her warm, and she shivered with cold.
Near the wood in which she had been living was a large cornfield, but the corn had been cut a long time; nothing remained but the bare, dry stubble, standing up out of the frozen ground. It was to her like struggling through a large wood.
Oh! how she shivered with the cold. She came at last to the door of a field mouse, who had a little den under the corn stubble. There dwelt the field mouse in warmth and comfort, with a whole roomful of corn, a kitchen, and a beautiful dining room. Poor Thumbelina stood before the door, just like a little beggar girl, and asked for a small piece of barleycorn, for she had been without a morsel to eat for two days.
"You poor little creature," said the field mouse, for she was really a good old mouse, "come into my warm room and dine with me."
She was pleased with Thumbelina, so she said, "You are quite welcome to stay with me all the winter, if you like; but you must keep my rooms clean and neat, and tell me stories, for I shall like to hear them very much." And Thumbelina did all that the field mouse asked her, and found herself very comfortable.
"We shall have a visitor soon," said the field mouse one day; "my neighbor pays me a visit once a week. He is better off than I am; he has large rooms, and wears a beautiful black velvet coat. If you could only have him for a husband, you would be well provided for indeed. But he is blind, so you must tell him some of your prettiest stories."
Thumbelina did not feel at all interested about this neighbor, for he was a mole. However, he came and paid his visit, dressed in his black velvet coat.
"He is very rich and learned, and his house is twenty times larger than mine," said the field mouse.
He was rich and learned, no doubt, but he always spoke slightingly of the sun and the pretty flowers, because he had never seen them. Thumbelina was obliged to sing to him, "Ladybird, ladybird, fly away home," and many other pretty songs. And the mole fell in love with her because she had so sweet a voice; but he said nothing yet, for he was very prudent and cautious. A short time before, the mole had dug a long passage under the earth, which led from the dwelling of the field mouse to his own, and here she had permission to walk with Thumbelina whenever she liked. But he warned them not to be alarmed at the sight of a dead bird which lay in the passage. It was a perfect bird, with a beak and feathers, and could not have been dead long. It was lying just where the mole had made his passage. The mole took in his mouth a piece of phosphorescent wood, which glittered like fire in the dark. Then he went before them to light them through the long, dark passage. When they came to the spot where the dead bird lay, the mole pushed his broad nose through the ceiling, so that the earth gave way and the daylight shone into the passage.
In the middle of the floor lay a swallow, his beautiful wings pulled close to his sides, his feet and head drawn up under his feathers-the poor bird had evidently died of the cold. It made little Thumbelina very sad to see it, she did so love the little birds; all the summer they had sung and twittered for her so beautifully. But the mole pushed it aside with his crooked legs and said: "He will sing no more now. How miserable it must be to be born a little bird! I am thankful that none of my children will ever be birds, for they can do nothing but cry 'Tweet, tweet,' and must always die of hunger in the winter."
"Yes, you may well say that, as a clever man!" exclaimed the field mouse. "What is the use of his twittering if, when winter comes, he must either starve or be frozen to death? Still, birds are very high bred."
Thumbelina said nothing, but when the two others had turned their backs upon the bird, she stooped down and stroked aside the soft feathers which covered his head, and kissed the closed eyelids. "Perhaps this was the one who sang to me so sweetly in the summer," she said; "and how much pleasure it gave me, you dear, pretty bird."
The mole now stopped up the hole through which the daylight shone, and then accompanied the ladies home. But during the night Thumbelina could not sleep; so she got out of bed and wove a large, beautiful carpet of hay. She carried it to the dead bird and spread it over him, with some down from the flowers which she had found in the field mouse's room. It was as soft as wool, and she spread some of it on each side of the bird, so that he might lie warmly in the cold earth.
"Farewell, pretty little bird," said she, "farewell. Thank you for your delightful singing during the summer, when all the trees were green and the warm sun shone upon us." Then she laid her head on the bird's breast, but she was alarmed, for it seemed as if something inside the bird went "thump, thump." It was the bird's heart; he was not really dead, only benumbed with the cold, and the warmth had restored him to life. In autumn all the swallows fly away into warm countries; but if one happens to linger, the cold seizes it, and it becomes chilled and falls down as if dead. It remains where it fell, and the cold snow covers it.
Thumbelina trembled very much; she was quite frightened, for the bird was large, a great deal larger than herself (she was only an inch high). But she took courage, laid the wool more thickly over the poor swallow, and then took a leaf which she had used for her own counterpane and laid it over his head.
The next night she again stole out to see him. He was alive, but very weak; he could only open his eyes for a moment to look at Thumbelina, who stood by, holding a piece of decayed wood in her hand, for she had no other lantern. "Thank you, pretty little maiden," said the sick swallow; "I have been so nicely warmed that I shall soon regain my strength and be able to fly about again in the warm sunshine."
"Oh," said she, "it is cold out of doors now; it snows and freezes. Stay in your warm bed; I will take care of you."
She brought the swallow some water in a flower leaf, and after he had drunk, he told her that he had wounded one of his wings in a thornbush and could not fly as fast as the others, who were soon far away on their journey to warm countries. At last he had fallen to the earth, and could remember nothing more, nor how he came to be where she had found him.
All winter the swallow remained underground, and Thumbelina nursed him with care and love. She did not tell either the mole or the field mouse anything about it, for they did not like swallows. Very soon the springtime came, and the sun warmed the earth. Then the swallow bade farewell to Thumbelina, and she opened the hole in the ceiling which the mole had made. The sun shone in upon them so beautifully that the swallow asked her if she would go with him. She could sit on his back, he said, and he would fly away with her into the green woods. But she knew it would grieve the field mouse if she left her in that manner, so she said, "No, I cannot."
"Farewell, then, farewell, you good, pretty little maiden," said the swallow, and he flew out into the sunshine.
Thumbelina looked after him, and the tears rose in her eyes. She was very fond of the poor swallow.
"Tweet, tweet," sang the bird, as he flew out into the green woods, and Thumbelina felt very sad. She was not allowed to go out into the warm sunshine. The corn which had been sowed in the field over the house of the field mouse had grown up high into the air and formed a thick wood to Thumbelina, who was only an inch in height.
"You are going to be married, little one," said the field mouse. "My neighbor has asked for you. What good fortune for a poor child like you! Now we will prepare your wedding clothes. They must be woolen and linen. Nothing must be wanting when you are the wife of the mole."
Thumbelina had to turn the spindle, and the field mouse hired four spiders, who were to weave day and night. Every evening the mole visited her and was continually speaking of the time when the summer would be over. Then he would keep his wedding day with Thumbelina; but now the heat of the sun was so great that it burned the earth and made it hard, like stone. As soon as the summer was over the wedding should take place. But Thumbelina was not at all pleased, for she did not like the tiresome mole.
Every morning when the sun rose and every evening when it went down she would creep out at the door, and as the wind blew aside the ears of corn so that she could see the blue sky, she thought how beautiful and bright it seemed out there and wished so much to see her dear friend, the swallow, again. But he never returned, for by this time he had flown far away into the lovely green forest.
When autumn arrived Thumbelina had her outfit quite ready, and the field mouse said to her, "In four weeks the wedding must take place."
Then she wept and said she would not marry the disagreeable mole.
"Nonsense," replied the field mouse. "Now don't be obstinate, or I shall bite you with my white teeth. He is a very handsome mole; the queen herself does not wear more beautiful velvets and furs. His kitchens and cellars are quite full. You ought to be very thankful for such good fortune."
So the wedding day was fixed, on which the mole was to take her away to live with him, deep under the earth, and never again to see the warm sun, because he did not like it. The poor child was very unhappy at the thought of saying farewell to the beautiful sun, and as the field mouse had given her permission to stand at the door, she went to look at it once more.
"Farewell, bright sun," she cried, stretching out her arm towards it; and then she walked a short distance from the house, for the corn had been cut, and only the dry stubble remained in the fields. "Farewell, farewell," she repeated, twining her arm around a little red flower that grew just by her side. "Greet the little swallow from me, if you should see him again."
"Tweet, tweet," sounded over her head suddenly. She looked up, and there was the swallow himself flying close by. As soon as he spied Thumbelina he was delighted. She told him how unwilling she was to marry the ugly mole, and to live always beneath the earth, nevermore to see the bright sun. And as she told him, she wept.
"Cold winter is coming," said the swallow, "and I am going to fly away into warmer countries. Will you go with me? You can sit on my back and fasten yourself on with your sash. Then we can fly away from the ugly mole and his gloomy rooms-far away, over the mountains, into warmer countries, where the sun shines more brightly than here; where it is always summer, and the flowers bloom in greater beauty. Fly now with me, dear little one; you saved my life when I lay frozen in that dark, dreary passage."
"Yes, I will go with you," said Thumbelina; and she seated herself on the bird's back, with her feet on his outstretched wings, and tied her girdle to one of his strongest feathers.
The swallow rose in the air and flew over forest and over sea-high above the highest mountains, covered with eternal snow. Thumbelina would have been frozen in the cold air, but she crept under the bird's warm feathers, keeping her little head uncovered, so that she might admire the beautiful lands over which they passed. At length they reached the warm countries, where the sun shines brightly and the sky seems so much higher above the earth. Here on the hedges and by the wayside grew purple, green, and white grapes, lemons and oranges hung from trees in the fields, and the air was fragrant with myrtles and orange blossoms. Beautiful children ran along the country lanes, playing with large gay butterflies; and as the swallow flew farther and farther, every place appeared still more lovely.
At last they came to a blue lake, and by the side of it, shaded by trees of the deepest green, stood a palace of dazzling white marble, built in the olden times. Vines clustered round its lofty pillars, and at the top were many swallows' nests, and one of these was the home of the swallow who carried Thumbelina.
"This is my house," said the swallow; "but it would not do for you to live there-you would not be comfortable. You must choose for yourself one of those lovely flowers, and I will put you down upon it, and then you shall have everything that you can wish to make you happy."
"That will be delightful," she said, and clapped her little hands for joy.
A large marble pillar lay on the ground, which, in falling, had been broken into three pieces. Between these pieces grew the most beautiful large white flowers, so the swallow flew down with Thumbelina and placed her on one of the broad leaves. But how surprised she was to see in the middle of the flower a tiny little man, as white and transparent as if he had been made of crystal! He had a gold crown on his head, and delicate wings at his shoulders, and was not much larger than was she herself. He was the angel of the flower, for a tiny man and a tiny woman dwell in every flower, and this was the king of them all.
"Oh, how beautiful he is!" whispered Thumbelina to the swallow.
The little prince was at first quite frightened at the bird, who was like a giant compared to such a delicate little creature as himself; but when he saw Thumbelina he was delighted and thought her the prettiest little maiden he had ever seen. He took the gold crown from his head and placed it on hers, and asked her name and if she would be his wife and queen over all the flowers.
This certainly was a very different sort of husband from the son of the toad, or the mole with his black velvet and fur, so she said Yes to the handsome prince. Then all the flowers opened, and out of each came a little lady or a tiny lord, all so pretty it was quite a pleasure to look at them. Each of them brought Thumbelina a present; but the best gift was a pair of beautiful wings, which had belonged to a large white fly, and they fastened them to Thumbelina's shoulders, so that she might fly from flower to flower.
Then there was much rejoicing, and the little swallow, who sat above them in his nest, was asked to sing a wedding song, which he did as well as he could; but in his heart he felt sad, for he was very fond of Thumbelina and would have liked never to part from her again.
"You must not be called Thumbelina any more," said the spirit of the flowers to her. "It is an ugly name, and you are so very lovely. We will call you Maia."
"Farewell, farewell," said the swallow, with a heavy heart, as he left the warm countries, to fly back into Denmark. There he had a nest over the window of a house in which dwelt the writer of fairy tales. The swallow sang "Tweet, tweet," and from his song came the whole story.
