🎧 Nghe chương này

Ole-Luk-Oie The Dream God

VỊ THẦN GIẤC MƠ OLE-LUK-OIE

T

Trên khắp thế gian này, chẳng ai biết nhiều câu chuyện như thần Ole-Luk-Oie1, cũng chẳng ai có thể kể chuyện hay bằng ông.

Vào những buổi tối tĩnh lặng, khi lũ trẻ vẫn còn nán lại quanh bàn trà hay nương mình trên chiếc ghế nhỏ xinh, ông nhẹ nhàng bước lên bậc thang, êm ái đến nhường nào vì ông chỉ đi mỗi đôi tất. Ông hé mở cánh cửa không một tiếng động rồi khẽ khàng rắc chút bụi mịn vào đôi mắt bọn trẻ-chỉ vừa đủ để mi mắt chúng khép lại-nhờ thế chúng chẳng thể nào nhìn thấy ông. Sau đó, ông nhẹ bước ra sau lưng, thổi một làn hơi êm ái lên gáy chúng, cho đến khi những cái đầu nhỏ ngoan ngoãn gục xuống.

Nhưng chớ lo, Ole-Luk-Oie chẳng hề làm đau bọn trẻ đâu. Ông thương yêu chúng vô ngần và chỉ muốn chúng nằm ngoan để ông có thể rỉ tai những câu chuyện tuyệt mỹ, và ông thừa hiểu đám trẻ hiếu động ấy sẽ chẳng chịu yên vị cho đến khi yên ấm trên giường và chìm sâu vào giấc mộng. Ngay lúc lũ trẻ vừa say giấc nồng, thần Ole-Luk-Oie liền ngồi bên mép giường. Trang phục của ông thật đẹp; chiếc áo choàng dệt bằng lụa, mang một màu sắc khó tả, bởi nó cứ đổi từ sắc xanh lá sang sắc đỏ, rồi lại ánh lên sắc xanh dương mỗi bận ông khẽ xoay người. Dưới mỗi cánh tay, ông ôm một chiếc ô che mộng. Một chiếc được vẽ đầy những bức tranh huyền ảo, ông sẽ dang nó che chở cho những đứa trẻ ngoan, để chúng chìm đắm trong những giấc mơ tuyệt đẹp nhất. Còn chiếc ô kia lại trống trơn chẳng có lấy một nét vẽ, ông dành nó cho những đứa trẻ hư, khiến chúng chìm vào một giấc ngủ nặng nề vô vị, để sáng hôm sau thức giấc, chúng chẳng mường tượng nổi mình đã mơ thấy điều gì.

Bây giờ chúng ta sẽ nghe chuyện Ole-Luk-Oie đến thăm cậu bé Hjalmar mỗi đêm trong suốt một tuần liền, và xem ông đã dệt nên những mộng tưởng gì cho cậu nhé. Có tất cả bảy câu chuyện, tựa như bảy ngày trôi qua trong một tuần.

THỨ HAI

"Nào, hãy chú ý nhé," Ole-Luk-Oie cất lời vào buổi tối, khi Hjalmar đã cuộn mình trong chăn ấm, "và ông sẽ hô biến để trang hoàng lại căn phòng này."

Tức thì, muôn vàn bông hoa trong chậu vươn mình thành những tán cây vĩ đại, với những cành lá sum suê vươn dài chạm tới tận trần nhà và phủ kín những bức tường, biến cả căn phòng thành một ngôi nhà kính lộng lẫy trập trùng bóng cây. Từng cành cây đều trĩu nặng những chùm hoa rực rỡ, mỗi đóa kiêu sa và ngát hương như một bông hồng thắm, mà nếu ai nếm thử, ắt sẽ thấy hương vị còn ngọt lịm hơn cả mứt sấy. Xen lẫn trong đó là những trái cây lấp lánh tựa ánh vàng son, và cả những chiếc bánh ngọt căng mọng nhân mận, tưởng chừng như sắp nứt tung ra. Một khung cảnh tráng lệ đến ngất ngây.

Chính khoảnh khắc ấy, những tiếng rên xiết thảm thương bỗng vọng ra từ ngăn kéo bàn, nơi Hjalmar cất giữ đống sách giáo khoa.

"Có chuyện gì thế nhỉ?" Ole-Luk-Oie khẽ hỏi, rồi bước tới kéo chiếc ngăn kéo ra.

Thì ra đó là chiếc bảng con, nó đang khổ sở vật vã vì một con số viết sai trong bài toán, đến mức tưởng như sắp vỡ vụn thành từng mảnh. Chiếc bút đá thì cứ hì hục kéo giật sợi dây buộc, hệt như một chú cún nhỏ khao khát cứu chủ nhưng đành bất lực đứng nhìn.

Rồi lại một tiếng thở dài buồn bã vang lên từ cuốn vở tập viết của Hjalmar. Thật là một âm thanh thảm thương! Trên mỗi trang giấy, dọc theo một hàng chữ in hoa nghiêm trang, mỗi chữ đều có một chữ cái viết thường đứng nép mình bên cạnh. Đó là những chữ mẫu chuẩn mực. Còn bên dưới chúng là những con chữ mà Hjalmar tự viết; lũ chữ này cứ ngỡ mình trông cũng oai vệ như chữ mẫu, nhưng hỡi ôi, chúng đã lầm to, bởi chúng cứ ngả nghiêng xiêu vẹo, tưởng chừng như sắp đổ ụp xuống những đường kẻ chì mỏng manh.

"Nhìn xem, thế này mới là cách các người nên đứng vững chứ," chữ mẫu dõng dạc nói. "Hãy nhìn ta đây, các người phải vươn mình nghiêng một góc thế này, với một đường cong thật thanh tao."

"Ôi, chúng tôi cũng khao khát được thế lắm chứ," những chữ cái của Hjalmar nức nở đáp, "nhưng chúng tôi làm sao mà cố được, chúng tôi bị tạo ra trong một hình hài quá đỗi vụng về."

"Vậy thì các người đành phải bị tẩy đi thôi," Ole-Luk-Oie phán.

"Ôi, xin đừng!" chúng hoảng hốt van nài, và rồi lập tức gồng mình đứng thẳng lên, duyên dáng đến mức ai nhìn cũng phải trầm trồ.

"Thôi, hôm nay chúng ta đành gác lại những câu chuyện, để rèn giũa lũ chữ cái này vậy," Ole-Luk-Oie thở dài. "Một, hai-một, hai-" Thế là ông kiên nhẫn uốn nắn cho đến khi chúng có thể đứng thẳng tắp, duyên dáng và đẹp đẽ y như những chữ mẫu vậy. Thế nhưng, sau khi Ole-Luk-Oie rời gót, và Hjalmar thức giấc nhìn chúng vào ban mai, chúng lại trở về với cái dáng vẻ xiêu vẹo và vụng về y như cũ.

THỨ BA

Ngay khi Hjalmar vừa ngả lưng xuống giường, Ole-Luk-Oie vung nhẹ chiếc đũa thần nhỏ bé lướt qua mọi đồ đạc trong phòng, và lập tức, tất thảy bắt đầu râm ran trò chuyện. Lạ thay, mỗi món đồ đều chỉ thao thao bất tuyệt về chính bản thân mình.

Đặt trên chiếc tủ nhiều ngăn là một bức tranh lớn nằm gọn trong khung mạ vàng, khắc họa một phong cảnh thiên nhiên với những bóng cây cổ thụ to lớn, muôn hoa điểm xuyết trên thảm cỏ xanh, và một dòng suối rộng lớn chảy xuyên qua cánh rừng, lướt qua những tòa lâu đài rồi đổ thẳng ra đại dương hoang dã.

Ole-Luk-Oie khẽ chạm đũa thần vào bức tranh, và tức thì, bầy chim bắt đầu cất tiếng hót líu lo, cành lá xạc xào vẫy gọi, và những đám mây lững lờ trôi ngang bầu trời, phủ bóng râm lên cảnh vật bên dưới.

Đoạn, Ole-Luk-Oie nhấc bổng Hjalmar lên khung tranh mạ vàng, đặt bước chân cậu xuống ngay bãi cỏ cao trong thế giới ấy, và cậu bé bàng hoàng đứng đó, tắm mình trong vạt nắng rực rỡ xuyên qua từng kẽ lá. Cậu háo hức chạy ùa ra bờ nước, tót lên một chiếc thuyền nhỏ xinh đậu sẵn, chiếc thuyền rực rỡ trong sắc sơn đỏ và trắng tinh khôi.

Những cánh buồm lấp lánh như ánh bạc, và sáu chú thiên nga trắng, mỗi con mang một chiếc vòng vàng quanh cổ cùng một ngôi sao xanh lấp lánh trên trán, nhịp nhàng kéo chiếc thuyền lướt nhẹ qua khu rừng xanh biếc. Nơi ấy, những cái cây rầm rì kể về đám cướp giật và mụ phù thủy, còn những đóa hoa lại râm ran những truyền thuyết về bọn yêu tinh nhỏ bé và các nàng tiên xinh đẹp mà bầy bướm từng kể chúng nghe.

Những chú cá rực rỡ, khoác trên mình lớp vảy bạc pha vàng lóng lánh, tung tăng bơi theo thuyền, chốc chốc lại vút mình vọt lên khỏi mặt nước, bọt tung trắng xóa; trong khi đó, những chú chim, từ sắc đỏ chói lọi đến xanh thẳm, con lớn con nhỏ, rộn ràng cất cánh bay theo cậu kết thành hai hàng dài tít tắp. Bầy muỗi vằn tí hon múa lượn thành vòng, còn những chú bọ hung hân hoan reo vang "Rì rào, rì rào." Tất thảy muôn loài đều muốn tháp tùng Hjalmar, và ai ai cũng ấp ủ một câu chuyện để kể cho cậu nghe. Thật là một chuyến ngao du trên sông nước kỳ thú nhất trần đời.

Trên ban công là những nàng công chúa.

Đôi khi, cánh rừng bỗng trở nên tối tăm và rậm rạp, có lúc lại bừng sáng tựa một khu vườn ngập tràn ánh nắng và sắc hoa; con thuyền lướt qua những cung điện khổng lồ tạc từ kính và cẩm thạch tuyệt đẹp, và trên những ban công là các nàng công chúa xinh xắn, những người mang khuôn mặt thân quen giống hệt các cô bé mà Hjalmar vẫn thường nô đùa. Một trong những cô bé ấy khẽ vươn tay ra, trao cho cậu một trái tim làm bằng đường ngọt ngào, thứ kẹo đẹp đẽ hơn bất kỳ món đồ nào từng được những người thợ làm bánh bày bán. Ngay khi Hjalmar lướt qua, cậu liền chộp lấy một cạnh của trái tim đường và giữ chặt, nàng công chúa cũng bám chặt đầu kia, thế là trái tim vỡ làm hai nửa. Hjalmar giữ một nửa và công chúa ôm nửa kia, nhưng phần của Hjalmar thì lớn hơn một chút.

Đứng gác trước mỗi tòa lâu đài là những vị hoàng tử bé nhỏ uy nghi. Họ bồng súng chào nghiêm trang, giắt bên hông những thanh gươm vàng sáng chói, rồi rải xuống một trận mưa mận ngọt lịm và những chú lính chì dũng cảm2, vì vậy họ đích thị là những vị hoàng tử thật sự.

Hjalmar tiếp tục dong buồm lướt đi, lúc thì luồn lách qua những cánh rừng rậm rạp, lúc lại như đang băng qua những sảnh đường thênh thang, rồi lại lướt ngang qua những thành phố phồn hoa rộng lớn. Cuối cùng, cậu cập bến một thị trấn nhỏ, nơi người vú nuôi ngày xưa đang sinh sống. Đó là người đã từng bế ẵm cậu thuở cậu còn là một đứa trẻ ấu thơ, và vô cùng yêu thương cậu. Vừa thấy cậu, bà liền gật đầu, vẫy tay chào và cất tiếng hát vang những vần thơ nhỏ bé do chính bà sáng tác để gửi tặng cậu:

Biết bao giờ, ôi biết bao giờ ta vơi nỗi nhớ về cháu,

Hjalmar bé nhỏ yêu dấu của ta, niềm tự hào và niềm vui của ta!

Ta đã từng âu yếm ngắm nhìn cháu nhường nào,

Hôn lên đôi má ửng hồng của cháu, cậu bé cưng bé bỏng của ta!

Những tiếng bập bẹ đầu đời của cháu, chính ta là người được nghe,

Và hôm nay, những lời chào từ biệt của ta sẽ bay đến bên cháu.

Ôi, cầu mong Chúa sẽ luôn ở bên chở che cho cháu,

Và sắm sẵn cho cháu một mái nhà trên chốn thiên đường!

Hòa cùng lời ca ấy, muôn loài chim chóc cũng cất tiếng hót líu lo chung một giai điệu, những bông hoa xinh xắn khẽ đu đưa khiêu vũ trên cành, và những thân cây cổ thụ rù rì gật gù như thể chính thần mộng mơ Ole-Luk-Oie cũng vừa rót vào tai chúng một câu chuyện diệu kỳ.

THỨ TƯ

Trời đổ mưa rào mới to làm sao! Ngay cả trong giấc ngủ say sưa, Hjalmar vẫn có thể nghe rõ tiếng mưa rơi rả rích. Khi Ole-Luk-Oie vừa hé mở cánh cửa sổ, nước mưa đã dềnh lên lai láng tận bậu cửa. Cảnh vật bên ngoài giờ đây trông hệt như một mặt hồ mênh mông, và lạ lùng thay, có một chiếc thuyền buồm tuyệt đẹp đang neo đậu ngay sát vách nhà.

"Đêm nay cháu có muốn ra khơi cùng ông không, Hjalmar bé nhỏ?" Ole-Luk-Oie cất giọng hiền từ hỏi. "Chúng ta sẽ cùng nhau chu du ngắm nhìn những vùng đất xa lạ, và cháu sẽ bình an trở về nhà vào buổi sáng tinh sương."

Chỉ trong chớp mắt, Hjalmar đã hiên ngang đứng đó, khoác trên mình bộ trang phục lộng lẫy nhất, ngự trên boong của chiếc thuyền kiêu hãnh. Và như có phép màu, bầu trời lập tức quang đãng, thời tiết trở nên đẹp đẽ vô ngần.

Họ giong buồm lướt qua những dãy phố quen thuộc, vòng qua ngôi nhà thờ cổ kính, giữa bốn bề là đại dương bao la, từng đợt sóng cuồn cuộn vỗ bờ.

Con thuyền cứ mải miết rẽ sóng cho đến khi đất liền khuất bóng hẳn ở phía chân trời. Chợt họ nhìn thấy một đàn cò đang giã từ quê hương, sải cánh bay về những miền đất ấm áp phương Nam. Những chú cò bay nối đuôi nhau thành một hàng dài tắp, miệt mài vỗ cánh vượt qua một chặng đường dài đằng đẵng.

Một con trong đàn rã rời đến nỗi đôi cánh chừng như chẳng tài nào nâng nổi tấm thân mệt mỏi được nữa. Chẳng mấy chốc, nó đã bị bỏ lại xa tít tắp phía sau. Rồi nó chìm dần, chìm dần; đôi cánh sải rộng đập những nhịp yếu ớt, cho đến lúc đôi chân chạm vào mớ dây thừng giăng trên tàu. Nó trượt tuột từ cánh buồm xuống boong, đứng ngay trước mặt mọi người. Thấy vậy, một cậu bé thủy thủ liền tóm lấy nó, nhốt tuột vào chuồng gà cùng với đám gà mái, lũ vịt lạch bạch và bầy gà tây. Giữa bầy gia cầm huyên náo, chú cò tội nghiệp chỉ biết đứng chôn chân ngơ ngác.

"Ngó gã kia kìa," lũ gà con rỉ tai nhau.

Thế là lão gà tây trống bèn xù bộ lông ra to tướng, hách dịch hỏi xem kẻ lạ mặt là ai; còn bầy vịt thì lạch bạch dạt ra sau, la lối om sòm: "Cạp, cạp!"

Cò từ tốn kể cho cả bọn nghe về châu Phi nắng ấm-về những ngọn kim tự tháp kỳ vĩ và cả loài đà điểu hoang dã sải những bước chạy dài qua sa mạc mênh mông, nhanh như ngựa chiến. Khốn nỗi, đám vịt ngốc nghếch ấy chẳng hiểu cò đang nói gì. Chúng lạch bạch bàn tán với nhau: "Chúng ta đồng lòng quá đi chứ; gã này đúng là đồ ngốc nghếch."

"Phải, rành rành thế rồi, gã thật ngu ngốc," lão gà tây trống phụ họa, rồi kêu cục cục hợm hĩnh.

Bấy giờ, cò hoàn toàn im lặng, để mặc tâm trí trôi về quê hương châu Phi ấm áp của mình.

"Nhà ngươi có đôi cẳng tong teo đẹp phết nhỉ," lão gà tây trống cất giọng mỉa mai. "Chúng giá bao nhiêu một thước hả?"

"Cạp, cạp, cạp," bầy vịt cười toe toét; nhưng cò vẫn điềm nhiên như không nghe thấy gì.

"Cứ cười thỏa thích đi," lão gà tây huênh hoang, "câu đấy dẫu sao cũng sắc sảo ra trò, nhưng có lẽ lại quá tầm với một gã ngốc như hắn. Thế nào, ta có thông minh không? Gã này hẳn sẽ là trò tiêu khiển tuyệt diệu cho chúng ta chừng nào hắn còn ở lại chốn này." Rồi lão kêu cục cục, đám vịt hùa theo cạp cạp: "Cục cục, cục cục"; "Cạp, cạp!"

Chúng hùa nhau trêu chọc một cách đắc ý, gây ra một mớ âm thanh hỗn độn ầm ĩ đến đinh tai nhức óc!

Thấy thế, Hjalmar liền bước tới chuồng gà, mở cửa và khẽ gọi chú cò. Cò nhẹ nhàng nhảy ra boong tàu. Chút nghỉ ngơi ngắn ngủi đã giúp nó lấy lại sinh khí, trông nó tràn ngập niềm hân hoan. Nó dường như khẽ gật đầu với Hjalmar thay cho lời cảm ơn sâu sắc. Đoạn, nó dang rộng đôi cánh tự do, bay vút về những vùng đất ngập tràn nắng ấm, bỏ mặc bầy gà mái gân cổ cục tác, lũ vịt ồn ào cạp cạp, và lão gà tây trống với cái đầu tức tối đỏ rực như gấc.

"Đến ngày mai, các người sẽ phải vô nồi nấu súp thôi," Hjalmar bảo với đám gia cầm nhặng xị; và ngay lúc ấy, cậu bé chợt bừng tỉnh, thấy mình đang ngoan ngoãn nằm gọn trên chiếc giường nhỏ quen thuộc.

Đó quả là một chuyến du ngoạn diệu kỳ mà Thần Mộng Mơ3 Ole-Luk-Oie đã mang đến cho cậu trong đêm nay.

THỨ NĂM

"Cháu đoán xem ông có gì ở đây nào?" Thần Mộng Mơ ôn tồn hỏi. "Đừng sợ nhé, cháu sẽ thấy một cô chuột nhắt." Đoạn, ông xòe bàn tay ra, để lộ một sinh vật nhỏ xíu, vô cùng đáng yêu đang nằm ngoan ngoãn trong lòng bàn tay. "Cô ấy đến để mời cháu dự một đám cưới đấy. Có hai cô cậu chuột nhắt sẽ thành thân vào đêm nay. Tổ ấm của họ nằm ngay dưới ván sàn phòng để thức ăn của mẹ cháu, hẳn đó là một chốn ở tuyệt diệu lắm."

"Nhưng làm sao cháu chui lọt qua cái lỗ chuột bé tí tẹo trên sàn nhà được hở ông?" cậu bé thắc mắc.

"Chuyện đó cứ để ông lo," Thần Mộng Mơ đáp. "Ông sẽ biến cháu nhỏ lại trong nháy mắt thôi." Nói đoạn, ông khẽ chạm chiếc đũa thần lên người cậu bé. Lập tức, cậu cứ thế nhỏ dần, nhỏ dần, cho đến khi chỉ còn bé bằng ngón tay út. "Bây giờ cháu có thể mượn bộ quân phục của chú lính chì rồi đấy. Ông tin chắc nó sẽ vừa khít. Được mặc đồng phục oai vệ đi dự tiệc thì còn gì bằng."

"Vâng, tất nhiên rồi ạ," cậu bé đáp lời, và chỉ trong chớp mắt, cậu đã diện bộ quân phục bảnh bao, trông hệt như một chú lính chì oai phong lẫm liệt nhất.

"Cậu có phiền ngồi vào chiếc đê khâu của mẹ cậu không," cô chuột nhắt cất giọng, "để tôi có vinh hạnh được kéo cậu đến dự tiệc cưới?"

"Cô thực sự cất công vì tôi như vậy sao, thưa cô?" cậu hỏi. Và cứ như thế, cậu bé đã oai vệ cưỡi chiếc "xe kéo" độc nhất vô nhị đi trẩy hội đám cưới nhà chuột.

Đầu tiên, họ đi luồn dưới sàn nhà, rồi tiến vào một hành lang dài thườn thượt, trần chỉ vừa đủ cao cho chiếc đê khâu lọt qua. Cả đoạn đường hầm được soi tỏ nhờ thứ ánh sáng huyễn hoặc tỏa ra từ những khúc gỗ mục.

"Cậu ngửi thấy mùi có thơm không?" cô chuột nhắt vừa thoăn thoắt kéo xe vừa hỏi. "Cả tường lẫn sàn nhà đều được trét mỡ lợn hết đấy; chẳng còn gì có thể tuyệt diệu hơn!"

Chẳng mấy chốc, họ đã đến được phòng cưới. Ở ngay bên phải là tất thảy các quý cô chuột đang rầm rì to nhỏ và khúc khích cười đùa như thể đang trêu chọc nhau. Án ngữ bên trái là các quý ngài chuột bệ vệ, đang dùng hai chân trước vuốt vuốt bộ ria mép kiêu hãnh. Và ngay giữa sảnh đường là cặp đôi cô dâu chú rể, đang thẹn thùng đứng cạnh nhau trong một chiếc vỏ phô mai rỗng, trao nhau nụ hôn nồng thắm giữa muôn vàn ánh mắt ngắm nhìn của quan khách.

Khách khứa lũ lượt kéo đến mỗi lúc một đông, đến nỗi bọn chuột tưởng chừng sắp giẫm đạp lên nhau tới nơi. Cặp tân lang tân nương thì đứng trấn ngay ngoài ngưỡng cửa, khiến cho chẳng ai có thể chen chân ra vào được nữa.

Căn phòng cũng được đánh bóng bằng mỡ lợn y hệt ngoài hành lang, và đó cũng là món độc nhất dùng để thiết đãi quan khách. Nhưng điểm nhấn lại nằm ở món tráng miệng, khi một hạt đậu được chuyền tay nhau, trên đó có một con chuột đã khéo léo gặm sẵn những chữ cái đầu trong tên của đôi uyên ương. Đúng là một điều thật sự khác thường! Cả họ nhà chuột đều tấm tắc khen ngợi đây là một đám cưới tuyệt đẹp, và chúng đã được tiếp đón vô cùng nồng hậu.

Sau đó, Hjalmar quay trở về nhà. Quả thật cậu đã được vinh dự bước chân vào một xã hội thượng lưu, dẫu cho cậu có phải chui rúc dưới gầm một căn phòng và tự thu nhỏ mình lại cho vừa vặn với bộ đồng phục của một chú lính chì.

THỨ SÁU

"Cháu có tin được không, chẳng biết bao nhiêu người lớn tuổi lại mong có ông kề bên vào ban đêm," thần Ole-Luk-Oie nói, "nhất là những kẻ từng trót nhúng chàm.

"Họ van nài ông: 'Ole già tốt bụng ơi, chúng tôi nào chợp mắt nổi. Cứ thao thức thâu đêm suốt sáng, phải nhìn thấy bao tội lỗi của mình biến thành những con tiểu yêu đáng sợ, lố nhố ngồi trên giường, rồi hắt cả nước sôi vào chúng tôi. Ngài có thể nào đến xua đuổi chúng đi, để chúng tôi có một giấc ngủ bình yên được không?' Rồi họ lại buông những tiếng thở dài thườn thượt và thốt lên: 'Chúng tôi xin hậu tạ ngài xứng đáng. Chúc ngủ ngon, Ole-Luk, tiền để sẵn trên bệ cửa sổ kìa.' Thế nhưng, ông nào có màng chút vàng bạc nào đâu."

"Thế đêm nay chúng ta sẽ làm gì đây ạ?" Hjalmar hào hứng hỏi.

"Ông cũng không rõ liệu cháu có muốn dự thêm một đám cưới nữa không," thần Ole-Luk-Oie đáp lời, "dù cho sự kiện lần này sẽ khác xa với những gì chúng ta đã chứng kiến đêm qua. Cô búp bê lớn của chị gái cháu, cái cô mặc đồ hệt như con trai và mang tên Herman ấy, đang chuẩn bị kết hôn với cô búp bê Bertha. Hôm nay cũng là sinh nhật của mấy cô cậu búp bê, nên chắc chắn chúng sẽ nhận được cơ man nào là quà cáp."

"Vâng, chuyện này thì cháu rành quá rồi," Hjalmar đáp; "chị gái cháu lúc nào chẳng bày trò cho búp bê tổ chức sinh nhật hay làm đám cưới mỗi khi chúng cần thay quần áo mới. Cháu dám cá là chuyện này đã diễn ra cả trăm lần rồi ấy chứ."

"Đúng vậy, có thể là thế thật; nhưng đêm nay lại là đám cưới thứ một trăm lẻ một, và con số này đã ứng thì đây sẽ là lần cuối cùng; bởi vậy, hôn lễ sẽ lộng lẫy vô ngần. Cháu cứ nhìn mà xem."

Hjalmar đưa mắt nhìn lên bàn, thấy một ngôi nhà búp bê nhỏ nhắn làm bằng bìa cứng, mọi ô cửa sổ đều bừng sáng rực rỡ, còn xếp hàng ngay ngắn phía trước ngôi nhà là những chú lính chì đang bồng súng đứng chào.

Cặp tân lang tân nương thì ngồi tựa vào chân bàn trên sàn nhà, vẻ mặt đầy trầm tư, âu cũng là điều dễ hiểu. Rồi thần Ole-Luk-Oie, khoác trên mình chiếc áo choàng đen của bà nội, đích thân đứng ra làm chủ hôn cho chúng.

Ngay khi buổi lễ vừa khép lại, mọi đồ đạc trong phòng liền đồng thanh cất lên một khúc ca tuyệt mỹ do chiếc bút chì sáng tác, nương theo nhịp điệu của một bản hùng ca quân hành:

"Gió nhẹ lướt đi, xin mang theo lời từ biệt êm ái này,

Đến chốn nhỏ bé nơi đôi uyên ương chung sống.

Khoác trên mình lớp da dê non hoàn mỹ,

Họ đứng thẳng tắp như chiếc thước thợ may.

Hoan hô! Hoan hô! Chàng rể bảnh bao cùng cô dâu xinh đẹp.

Hãy để tiếng vang mãi lặp lại lời từ biệt êm ái của chúng ta."

Giờ thì đến màn tặng quà; nhưng đôi vợ chồng son nào cần đến đồ ăn thức uống, bởi tình yêu đã là món ăn nuôi dưỡng tâm hồn họ rồi.

"Chúng ta sẽ lui về một ngôi nhà ở vùng quê, hay là làm một chuyến du ngoạn đây?" chú rể lên tiếng hỏi.

Họ bèn đi hỏi ý kiến chim én, một kẻ từng sải cánh ngao du khắp chốn, và cô gà mái già ngoài sân, người đã tần tảo nuôi nấng đến tận năm lứa gà con.

Thế là chim én say sưa kể cho họ nghe về những miền đất ấm áp, nơi có những chùm nho căng mọng trĩu trịt trên giàn, nơi bầu không khí lúc nào cũng êm đềm, dịu nhẹ, và cả về những ngọn núi rực rỡ sắc màu đẹp hơn mọi điều ta có thể mường tượng.

"Nhưng ở xứ đó làm gì có bắp cải đỏ như quê mình," cô gà mái chen vào. "Tôi đã từng trải qua cả một mùa hè chốn thôn quê cùng đàn con nhỏ. Ở đó có một hố cát thật to để chúng tôi tha hồ dạo quanh và bới móc thỏa thích. Xong xuôi đâu đấy, chúng tôi lại kéo nhau vào vườn bắp cải đỏ. Ôi chao, mới tuyệt làm sao! Tôi chẳng thể nào nghĩ ra được thứ gì ngon lành hơn thế."

"Nhưng mấy cái thân bắp cải thì cái nào chẳng giống cái nào," chim én vặn lại; "với lại, ở đây chúng ta thường xuyên phải chịu cảnh thời tiết khắc nghiệt."

"Đúng là thế thật, nhưng chúng tôi đã quen với điều đó rồi," cô gà mái đáp lời.

"Nhưng ở đây lạnh lẽo quá, có khi còn đóng cả băng nữa."

"Thời tiết lạnh rất tốt cho bắp cải," gà mái quả quyết; "hơn nữa, đôi khi nơi đây cũng ấm áp lắm chứ. Bốn năm trước, chúng ta đã đón một mùa hè kéo dài đằng đẵng hơn năm tuần, trời oi ả đến độ người ta tưởng chừng như nghẹt thở. Hơn thế nữa, ở đất nước này, chúng ta chẳng có lấy một loài động vật độc hại nào, cũng chẳng có bóng dáng bọn cướp. Kẻ nào không công nhận đất nước chúng ta là vùng đất tươi đẹp nhất trần đời thì ắt hẳn phải là một tên đại ngốc. Kẻ đó chẳng hề xứng đáng được sống ở nơi này đâu." Rồi cô gà mái nức nở nói tiếp: "Tôi cũng từng đi du lịch rồi đấy chứ. Tôi đã từng phải ngồi suốt mười hai dặm đường trong một cái lồng chật hẹp, quả thật việc đi lại chẳng dễ chịu chút nào."

"Cô gà mái này đúng là một quý bà biết điều," búp bê Bertha lên tiếng. "Tôi chẳng tha thiết gì việc trèo đèo lội suối, chỉ để đi lên rồi lại đi xuống đâu. Không, chúng ta hãy cứ ra hố cát trước cổng, rồi làm một chuyến tản bộ quanh vườn bắp cải là tuyệt nhất."

Và thế là, chúng đã quyết định như vậy.

Hãy nhìn những người ... Trung Hoa này ...

THỨ BẢY

"Cháu có được nghe kể thêm câu chuyện nào nữa không ạ?" Hjalmar bé nhỏ thắc mắc, ngay khi vừa được thần Ole-Luk-Oie dỗ dành vào giấc ngủ.

"Tối nay chúng ta sẽ chẳng còn thì giờ nữa đâu," thần nói, rồi nhẹ nhàng bung chiếc ô đẹp nhất của mình ra che chắn cho cậu bé. "Cháu hãy nhìn những người Trung Hoa này xem." Cùng lúc ấy, toàn bộ chiếc ô bỗng hóa thành một chiếc bát sứ khổng lồ, điểm xuyết những tán cây xanh lam cùng những cây cầu nhọn hoắt, và trên đó là những người Trung Hoa nhỏ bé đang không ngừng gật gật cái đầu4.

"Chúng ta phải trang hoàng cho cả thế giới này thật lộng lẫy vào sáng mai," Ole-Luk-Oie ôn tồn nói, "bởi ngày mai là một ngày lễ trọng đại; đó là ngày Chủ nhật. Giờ thì, ông phải đến tháp chuông nhà thờ để xem chừng đám yêu tinh tí hon sống trên ấy đã đánh bóng những quả chuông, sao cho âm thanh cất lên thật đượm đà, ngọt ngào hay chưa. Rồi ông còn phải dạo quanh những cánh đồng bao la, xem gió đã mải miết thổi bay lớp bụi mờ trên ngọn cỏ và vòm cây hay chưa. Nhưng nhiệm vụ gian nan nhất trong mọi việc, chính là hái tất cả những vì sao trên trời xuống để đánh bóng chúng. Ông phải cẩn thận đánh số từng vì sao trước khi gói ghém vào chiếc tạp dề của mình, rồi cũng phải đánh số cả những chỗ ông vừa hái chúng xuống nữa. Có như vậy, chúng mới trở về đúng chỗ cũ, bằng không, chúng sẽ chẳng chịu nằm yên, và rồi chúng ta sẽ phải hứng chịu cả một trận mưa sao băng, bởi vì tất cả chúng sẽ đua nhau rụng lả tả xuống trần gian."

"Khoan hãy nói, ngài Luk-Oie!" một bức chân dung ố màu thời gian treo trên tường phòng ngủ của Hjalmar bỗng cất lời. "Ngài có biết ta là ai không? Ta chính là cụ cố của Hjalmar đây. Ta rất cảm kích vì ngài đã bỏ công kể chuyện cho thằng bé, thế nhưng ngài tuyệt đối không được gieo rắc vào đầu nó những ý nghĩ sai lệch. Ngài đâu thể nào cứ thế hái những vì sao trên trời xuống mà đánh bóng được; bởi chúng vốn là những tinh cầu to lớn chẳng khác nào trái đất của chúng ta, và chính điều đó mới làm nên vẻ đẹp của chúng."

"Cảm ơn ngài, thưa ngài cụ cố kính mến," Ole-Luk-Oie mỉm cười đáp lại. "Tôi xin gửi lời cảm ơn ngài. Ngài có thể là người đứng đầu trong dòng họ, hẳn nhiên là vậy rồi, và ngài đã bước qua những năm tháng rất đỗi xa xăm, nhưng xin thưa rằng tôi đây còn lâu đời hơn ngài gấp vạn lần. Tôi vốn là một vị thần ngoại giáo từ thời xa xưa. Những người La Mã và Hy Lạp cổ đại vẫn tôn tôi là Thần Mộng Mơ. Tôi từng bước vào những ngôi nhà danh giá nhất,-vâng, và cho đến tận bây giờ tôi vẫn miệt mài làm điều đó,-dẫu vậy, tôi vẫn luôn biết cách cư xử với cả người cao sang lẫn kẻ thấp hèn. Giờ thì, ngài có thể tự mình kể tiếp những câu chuyện ấy đi"; dứt lời, Ole-Luk-Oie quay gót bước đi, chẳng quên mang theo những chiếc ô nhiệm màu của mình.

"Chà, chà, ta đồ rằng ở đời người ta chẳng bao giờ được phép lên tiếng bày tỏ ý kiến thì phải," bức chân dung lúng túng càu nhàu. Và chính những lời lẽ ấy đã đánh thức Hjalmar bừng tỉnh.

CHỦ NHẬT

"Chào buổi tối," Ole-Luk-Oie cất tiếng êm đềm.

Hjalmar ngoan ngoãn gật đầu, rồi thoắt cái nhảy tót ra khỏi giường. Cậu lẳng lặng quay ngược bức chân dung cụ cố úp mặt vào tường, cốt để ông cụ không thể buông lời phá đám như đêm hôm trước nữa. "Bây giờ," cậu háo hức thưa, "ông phải kể cho cháu nghe vài câu chuyện về năm hạt đậu xanh cùng chung sống dưới một lớp vỏ5, hay về chuyện chàng cỏ hương bài tán tỉnh nàng cỏ tinh thảo, hoặc giả là câu chuyện về ả Kim Khâu Cũ kiêu kỳ cứ đinh ninh mình là một chiếc kim thêu quý giá6."

"Có lẽ cái gì nhiều quá cũng không tốt đâu," Ole-Luk-Oie dịu dàng đáp lời. "Cháu biết mà, ông luôn muốn cho cháu chiêm ngưỡng những điều mới lạ, thế nên đêm nay ông sẽ cho cháu gặp anh trai ông. Người đời cũng gọi ông ấy là Ole-Luk-Oie, nhưng ông ấy chẳng bao giờ gõ cửa nhà ai quá một lần trong đời. Và hễ ông ấy hiện diện, ông ấy sẽ nhấc bổng người đó lên lưng ngựa, mang họ dạo quanh và kể cho họ nghe những câu chuyện miên man dọc suốt chuyến đi dài.

"Ông ấy chỉ thuộc lòng vỏn vẹn hai câu chuyện. Một câu chuyện thì lộng lẫy và tuyệt diệu đến độ trên cõi thế gian này chẳng một ai đủ sức hình dung ra điều gì sánh bằng, nhưng câu chuyện còn lại thì đáng sợ đến mức ngôn từ vĩnh viễn bất lực để tỏ bày."

Nói rồi, Ole-Luk-Oie nhẹ nhàng nhấc bổng Hjalmar lên bậu cửa sổ. "Đấy, giờ thì cháu đã có thể ngắm nhìn anh trai ông rồi đấy, một Ole-Luk-Oie thứ hai; nhân gian vẫn thường xưng tụng ông ấy là Thần Chết. Cháu thấy không, ông ấy chẳng hề mang dáng vẻ gớm ghiếc, rùng rợn như những hình bóng được phác họa trong mấy cuốn sách tranh. Trong những trang sách ấy, ông ấy chỉ là một bộ hài cốt khô khốc7, nhưng ở đây, ông ấy khoác trên mình chiếc áo thêu chỉ bạc lấp lánh, khoác bộ đồng phục kỵ binh oai vệ tuyệt trần, cùng một chiếc áo choàng nhung đen tuyền kiêu hãnh tung bay trong gió phía sau lưng ngựa. Nhìn kìa, ông ấy đang uy dũng phi nước đại!"

Hjalmar say sưa nhìn vị Ole-Luk-Oie kia cưỡi ngựa lướt tới, ông nhẹ nhàng nâng cả những cụ già móm mém lẫn đám trẻ thơ bé bỏng lên lưng con chiến mã. Vài người được ông sắp xếp ngồi chễm chệ phía trước, số khác lại phải lùi về sau, nhưng lúc nào cũng vậy, trước khi lên yên, ông luôn trầm giọng hỏi: "Sổ ghi chép công tội8 thế nào rồi?"

"Tốt ạ," tất thảy bọn họ đều đồng thanh đáp lời.

"Đúng là thế, nhưng cứ để ta xem sao đã," ông đáp lại, và thế là họ đành ngoan ngoãn đưa cho ông những cuốn sổ. Rồi tất cả những ai mang dòng chữ "Rất tốt" hay "Đặc biệt tốt" liền được ngồi phía trước ngựa, lắng nghe câu chuyện tuyệt hay. Trái lại, những kẻ chỉ mang lời phê "Tàm tạm" hoặc "Khá tốt" thì bị tống ra phía sau. Họ gào khóc và vùng vẫy toan nhảy phóc xuống khỏi lưng ngựa, nhưng lạ thay, họ chẳng thể nào thoát thân nổi, bởi dường như thân thể họ đã bị dính chặt vào yên ngựa từ thuở nào.

"Chà, Thần Chết quả thực là một Luk-Oie uy nghi và lộng lẫy nhất," Hjalmar thốt lên. "Cháu chẳng thấy e sợ ông ấy lấy nửa điểm."

"Cháu vốn dĩ không cần phải sợ hãi ông ấy," Ole-Luk-Oie mỉm cười nói; "nhưng hãy luôn khắc tâm và giữ gìn cho mình một cuốn sổ hạnh kiểm thật vẹn toàn."

"Đấy, bây giờ ta mới thấy điều đó quả là thấm đẫm tính giáo dục," bức chân dung cụ cố khẽ khàng thì thầm. "Suy cho cùng, đôi khi cất lời bày tỏ ý kiến cũng mang lại đôi chút ích lợi đấy chứ." Nhờ thế, ông cụ tỏ vẻ khá mãn nguyện.

Đó chỉ là một vài mảnh ghép nhỏ bé trong vô vàn những phép màu và những câu chuyện kỳ diệu của Ole-Luk-Oie. Tôi chân thành hy vọng rằng vào một đêm thanh vắng, chính ngài ấy sẽ cất bước đến thăm bạn và rỉ tai bạn nghe nhiều hơn nữa những điều bí ẩn xa xăm.



  1. Ole-Luk-Oie (tiếng Đan Mạch: Ole Lukøje) là một nhân vật trong văn hóa dân gian Bắc Âu, tương đương với Thần Ngủ (Sandman). Tên của ông ghép từ 'Ole' (một tên nam phổ biến ở Đan Mạch) và 'Lukøje' (nghĩa là nhắm mắt lại). Theo truyền thuyết, ông mang đến những giấc mơ cho trẻ em bằng cách rắc cát bụi vào mắt chúng. ↩

  2. Chi tiết này gợi nhắc đến 'Chú lính chì dũng cảm' (The Steadfast Tin Soldier), một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Hans Christian Andersen, tạo nên sự liên kết thú vị (intertextuality) giữa các câu chuyện của ông. ↩

  3. Chi tiết này ám chỉ Morpheus trong thần thoại Hy Lạp, vị thần của những giấc mơ. Lời khẳng định này cho thấy Ole-Luk-Oie tự coi mình chính là hiện thân hoặc tồn tại từ thời của các vị thần cổ đại. ↩

  4. Ám chỉ những bức tượng gốm sứ có phần đầu cử động được (nodding figures) còn gọi là 'Nodding Mandarin'. Chúng có nguồn gốc từ Trung Quốc và là món đồ trang trí xa xỉ, cực kỳ thịnh hành tại các gia đình quý tộc châu Âu vào thế kỷ 18 và 19. ↩

  5. Đây là một chi tiết mang tính liên văn bản (intertextuality), nhắc đến câu chuyện 'Năm hạt đậu từ một vỏ' (Five Peas from a Pod) do chính Andersen sáng tác. ↩

  6. Chi tiết này nhắc đến tác phẩm 'Cây kim khâu' (The Darning-Needle) của Andersen, kể về một cây kim vá luôn ảo tưởng về giá trị cao quý của bản thân. ↩

  7. Hình ảnh này ám chỉ cách khắc họa Thần Chết (Grim Reaper) điển hình trong văn hóa phương Tây từ thời Trung Cổ, thường hiện lên dưới hình dạng một bộ xương người cầm lưỡi hái, mang ý nghĩa u ám và đáng sợ. ↩

  8. Phản ánh quan niệm tôn giáo của Cơ Đốc giáo phương Tây về 'Cuốn sách của Sự sống' (Book of Life), nơi Thiên Chúa ghi chép lại mọi việc làm thiện và ác của con người khi còn sống, dùng làm cơ sở phán xét khi họ qua đời. ↩