Vịt Con Xấu Xí

VỊT CON XẤU XÍ

I

Cảnh sắc chốn thôn quê lúc bấy giờ mới tươi đẹp làm sao. Ấy là vào khoảng giữa mùa hè. Những cánh đồng lúa mì chín vàng óng ả, yến mạch phủ một màu xanh mơn mởn, còn cỏ khô thì vun thành từng đụn lớn trên những triền cỏ xanh mướt. Chú cò sải từng bước dài trên đôi chân đỏ chót, ríu rít bằng thứ tiếng Ai Cập1 mà chú học được từ cò mẹ.

Bao quanh những đồng cỏ và ruộng lúa là những khu rừng già rậm rạp, và nép mình giữa rừng là một hồ nước sâu thăm thẳm. Phải, cảnh sắc chốn thôn quê sao mà đẹp đẽ và thú vị đến vậy.

Dưới một góc đầy nắng, có một ngôi nhà nông trại cũ kỹ, xinh xắn nằm ẩn mình sau những con kênh sâu; và men theo chân tường, trải dài xuống tận mép nước, là những khóm ngưu bàng2 vươn cao, lá xòe rộng đến nỗi dưới tán của cây cao nhất, một đứa trẻ có thể đứng thẳng người. Nơi này hoang vu đến mức ngỡ như nằm lọt thỏm giữa một khu rừng già.

Trong chốn trú thân ấm cúng ấy, có một nàng vịt đang nằm ấp trứng trong ổ, chờ đợi đàn con bé bỏng của mình chào đời; nhưng niềm háo hức ban đầu giờ đã gần như tan biến; nàng bắt đầu thấy công việc này thật tẻ nhạt, bởi lũ con bé bỏng cứ lần lữa mãi chẳng chịu chui ra khỏi vỏ, mà khách khứa lại hiếm hoi chẳng mấy khi ghé thăm. Những con vịt khác khoái bơi lội dưới kênh hơn là trèo lên cái bờ dốc trơn tuột rồi ngồi dưới tán lá ngưu bàng để tán gẫu với nàng. Chịu cảnh một mình triền miên như vậy quả là những ngày tháng dài lê thê.

Thế rồi, cuối cùng, một chiếc vỏ trứng cũng nứt ra, rồi chẳng mấy chốc đến chiếc thứ hai, và từ mỗi chiếc vỏ, một sinh linh tí hon chui ra, ngóc cái đầu nhỏ xíu lên và khe khẽ kêu: "Vít, vít."

"Quạc, quạc!" mẹ vịt đáp; và rồi cả lũ con cũng cố gắng bắt chước tiếng mẹ, hết sức có thể, trong lúc tròn xoe mắt ngắm nhìn những chiếc lá xanh cao vời vợi xung quanh. Mẹ mặc cho chúng nhìn ngắm bao nhiêu tùy thích, bởi màu xanh rất tốt cho đôi mắt.

"Thế giới này thật là rộng lớn," lũ vịt con thốt lên, khi chợt nhận ra mình có nhiều không gian hơn hẳn lúc còn nằm cuộn tròn trong vỏ trứng.

"Các con tưởng thế này đã là cả thế giới rồi sao?" mẹ vịt đáp. "Đợi đến lúc các con được thấy khu vườn nhé. Nó trải dài xa tít tắp đến tận cánh đồng của ông mục sư, dù mẹ thì cũng chưa một lần nào dám mon men đến tận đó. Các con đã ra ngoài hết cả chưa?" mẹ vịt vừa hỏi, vừa đứng dậy ngó nghiêng. "Chưa, vẫn chưa ra hết; quả trứng lớn nhất vẫn còn nằm ỳ ra đấy, rành rành ra đấy. Mẹ không biết chuyện này còn kéo dài đến bao giờ nữa. Mẹ bắt đầu phát mệt với nó rồi đây;" nhưng dẫu nói vậy, nàng lại ngồi xuống.

"Thế nào, thím hôm nay ra sao rồi?" một bà vịt già ghé thăm, cất giọng quạc quạc hỏi thăm.

"Còn một quả trứng phải tốn nhiều công ấp lắm bác ạ. Vỏ của nó cứng quá, mãi chẳng chịu vỡ," vịt mẹ dịu dàng đáp, vẫn ngồi yên trên ổ. "Nhưng bác hãy nhìn mấy đứa kia xem. Bầy con của em có đẹp không nào? Chẳng phải chúng là những chú vịt con xinh xắn nhất mà bác từng thấy hay sao? Đứa nào cũng giống hệt cha chúng - cái đồ vô tích sự ấy! Chẳng bao giờ ông ta đoái hoài đến thăm em lấy một lần."

"Để ta xem thử cái quả trứng ương bướng ấy nào," bà vịt già lên tiếng. "Ta dám chắc đây là trứng của gà sao3. Ngày trước ta cũng từng dính một vụ y hệt thế này, và nó khiến ta khốn khổ vô cùng, bởi vì lũ trẻ con ấy sợ nước. Ta đã quạc quạc rồi lại cục cục đủ kiểu, nhưng cũng chẳng ăn thua gì. Để ta xem kỹ lại nào. Đúng như ta nghĩ, ta không nói sai đâu; đó là trứng của gà sao, ta dám thề đấy; vậy nên cứ nghe lời khuyên của ta mà bỏ mặc nó ra. Hãy dẫn lũ con xuống nước và dạy những đứa khác tập bơi đi."

"Em nghĩ em sẽ ngồi ấp thêm một lúc nữa," vịt mẹ đáp. "Đã ấp lâu như vậy rồi, thì thêm một hai hôm nữa cũng có sao đâu."

"Thôi được, tùy thím vậy," bà vịt già nói rồi đứng dậy; và bà ấy bỏ đi.


Cuối cùng quả trứng to nhất cũng vỡ. Chú chim non ra đời muộn nhất cất lên tiếng kêu "Vít, vít" khi chui ra khỏi vỏ. Trông cậu mới to lớn và xấu xí làm sao! Vịt mẹ chằm chằm nhìn cậu, chẳng biết phải nghĩ gì. "Thật đấy," mẹ nói, "đây đúng là một con vịt con khổng lồ, chẳng giống chút nào với những đứa khác. Mẹ tự hỏi liệu có phải nó là một con gà sao không. Thôi, rồi chúng ta sẽ rõ khi xuống nước - bởi vì nó nhất định phải xuống nước, ngay cả khi mẹ có phải tự tay đẩy nó xuống."

Ngày hôm sau, thời tiết thật tuyệt diệu. Mặt trời rực rỡ chiếu rọi lên những chiếc lá ngưu bàng xanh mướt. Vịt mẹ dẫn cả gia đình ra mép nước rồi nhảy tõm xuống, bọt nước tung trắng xóa. "Quạc, quạc!" mẹ gọi, và lần lượt từng chú vịt con lao mình theo. Nước phủ lấp đầu chúng, nhưng chỉ trong nháy mắt chúng đã trồi lên, bơi lội thật đáng yêu, đôi chân khua nước một cách dễ dàng hết mức - chân tự động khua theo bản năng trời cho. Và cậu bé mặc chiếc áo xám xấu xí cũng đã ở dưới nước, bơi cùng cả đàn.

"Ồ," vịt mẹ nói, "vậy thì nó đâu phải là gà sao. Nhìn cách con ấy dùng đôi chân giỏi biết bao, và cách con ấy giữ người thẳng thớm làm sao! Nó là đứa con của chính mẹ, và thật ra thì cũng chẳng đến nỗi quá xấu xí đâu, nếu nhìn cho thật kỹ. Quạc, quạc! lại đây với mẹ nào. Mẹ sẽ đưa các con vào chốn thượng lưu và giới thiệu các con với cả sân nông trại, nhưng các con phải bám sát mẹ, nếu không có thể bị giẫm đạp đấy; và trên hết, hãy cẩn thận với con mèo."

Khi cả đàn đặt chân đến sân nông trại, nơi ấy đang rối ren vì một cuộc ẩu đả náo loạn - hai gia đình đang tranh giành nhau một cái đầu lươn, thứ mà cuối cùng lại bị con mèo tha đi mất. "Thấy chưa các con, thói đời là thế đấy," vịt mẹ nói, liếm mép, vì chính mẹ cũng thèm cái đầu lươn ấy. "Lại đây nào, giờ thì hãy dùng đôi chân của các con và cho mẹ thấy các con có thể cư xử khéo léo nhường nào. Các con phải cúi đầu thật ngoan ngoãn chào bà vịt già đằng kia; bà ấy là người có dòng dõi cao quý nhất trong tất cả đám ở đây và mang dòng máu Tây Ban Nha4; vì thế bà ấy rất khá giả. Các con có thấy bà ấy đeo một dải giẻ đỏ buộc ở chân5 không - đó là một vật trang sức rất tuyệt vời và là một vinh dự lớn lao đối với một con vịt; nó cho thấy rằng mọi người đều lo không muốn đánh mất bà ấy, và bà ấy được cả con người lẫn thú vật để mắt tới. Lại đây nào, nhớ đừng quặp ngón chân vào trong; một con vịt con được nuôi dạy tử tế sẽ dang rộng hai bàn chân ra, giống hệt cha và mẹ nó, theo cách này này; giờ thì uốn cong cổ và nói 'Quạc!' đi nào."

Đàn vịt con làm theo lời mẹ dặn, nhưng đám vịt khác chỉ trân trân nhìn rồi nói: "Nhìn kìa, lại thêm một bầy nữa tới - cứ như thể chúng ta ở đây chưa đủ đông ấy! Và lạy chúa tôi, có một đứa trông thật kỳ dị làm sao; chúng ta không muốn có nó ở đây đâu." Nói rồi, một con liền bay tới, cắn ngay vào cổ cậu.

"Để nó yên," vịt mẹ nói; "nó có làm hại ai đâu."

"Có đấy, nhưng nó vừa to vừa xấu xí. Nó đúng là một sự gớm ghiếc," con vịt đanh đá kia cất giọng, "và vì thế nó phải bị xua đuổi đi. Cắn một chút sẽ tốt cho nó thôi."

"Những đứa còn lại đều là những đứa trẻ rất dễ thương," con vịt già đeo dải giẻ đỏ ở chân lên tiếng, "tất cả - ngoại trừ đứa đó. Ta ước gì mẹ nó có thể chải chuốt lại cho nó một chút; nó thật sự quá xấu xí."

"Điều đó là không thể, thưa phu nhân," vịt mẹ đáp. "Nó không xinh đẹp, nhưng nó có một tính cách rất tốt, và bơi giỏi như bao đứa khác, thậm chí có phần giỏi hơn. Tôi nghĩ nó sẽ lớn lên xinh đẹp, và có lẽ sẽ nhỏ bớt lại. Nó đã ở trong trứng quá lâu, vì thế vóc dáng của nó chưa được hình thành đúng cách." Rồi mẹ dịu dàng vuốt ve chiếc cổ cậu và là phẳng những sợi lông tơ, nói tiếp: "Nó là một con vịt trống, vì vậy nhan sắc cũng không quá quan trọng đâu. Tôi nghĩ nó sẽ lớn lên khỏe mạnh và có thể tự lo cho bản thân mình."

"Những con vịt con khác đủ duyên dáng rồi," vịt già nói. "Giờ thì cứ tự nhiên như đang ở nhà, và nếu cô có tìm thấy cái đầu lươn nào, cứ mang đến cho ta."

Và thế là tất cả làm cho mình cảm thấy thoải mái; nhưng chú vịt con đáng thương - kẻ chui ra khỏi vỏ muộn nhất và trông vô cùng xấu xí - đã bị cắn, bị xô đẩy và biến thành trò cười, không chỉ bởi lũ vịt mà còn bởi tất cả đám gia cầm trong sân.

Lạy chúa tôi, có một đứa trông kỳ dị làm sao...

"Nó to quá đi," tất cả đồng thanh nói; và con gà tây trống - sinh ra trên đời với chiếc cựa và tự huyễn hoặc mình là một vị hoàng đế thực thụ - phồng người lên như một chiếc tàu đang căng buồm, lao thẳng vào chú vịt con. Đầu nó đỏ bừng vì giận dữ, đến nỗi sinh linh nhỏ bé đáng thương chẳng biết trốn đi đâu, cảm thấy vô cùng khốn khổ vì mình quá xấu xí mà bị cả sân nông trại cười nhạo.

Cứ thế ngày nối ngày trôi qua, và mọi sự mỗi lúc một tệ hại hơn. Vịt con đáng thương bị cả thế gian xua đuổi. Anh chị em ruột cũng chẳng hề thương xót cậu, chúng thường chì chiết: "Á à, đồ sinh vật xấu xí kia, bọn tao chỉ mong sao mèo vồ chết mày đi cho rồi!" Ngay cả mẹ cậu cũng đã có lần buột miệng ước gì cậu đừng bao giờ chào đời. Lũ vịt mổ cậu, bầy gà đánh cậu, và cô gái hầu chuyên cho gia cầm ăn thì dùng chân hất cậu đi. Đến nỗi cuối cùng cậu đành bỏ trốn, khiến lũ chim nhỏ ẩn mình trong bụi rậm hoảng hốt bay tán loạn lúc cậu vụt qua hàng rào.

"Chúng sợ vì mình quá xấu xí," cậu tự nhủ.

Rồi cậu lại bay tiếp, bay mãi, cho đến khi chạm tới một vùng đầm lầy rộng lớn mênh mông, nơi lũ vịt trời chọn làm chốn cư ngụ. Tại đây cậu nằm rạp suốt cả đêm dài, lòng quặn thắt nỗi buồn khôn tả.

Sáng hôm sau, khi đàn vịt trời vỗ cánh tung bay lên không trung, chúng sững lại mà nhìn người bạn mới lạ lẫm giữa đầm lầy.

"Cậu là thứ vịt gì thế này?" tất cả đồng thanh hỏi, xúm lại vây quanh cậu.

Vịt con cúi đầu chào, tỏ ra nhã nhặn hết mức có thể, nhưng cậu chẳng đáp lại câu hỏi nào. "Cậu xấu đến là xấu," lũ vịt trời nhận xét, "nhưng mà thôi, điều đó cũng chẳng sao, miễn là cậu đừng có ý định kết hôn với ai trong gia đình chúng ta."

Tội nghiệp cậu bé! Cậu còn chưa từng thoáng nghĩ đến chuyện kết hôn bao giờ. Tất cả những gì cậu khao khát chỉ đơn giản là được phép nằm yên giữa những bụi sậy, và uống vài ngụm nước đầm lầy cho đỡ khát. Cậu ở lại nơi ấy được hai ngày, thì có hai con ngỗng trời ghé ngang - hay nói đúng hơn, là hai chú ngỗng non, bởi chúng mới vừa chui ra khỏi vỏ trứng chưa lâu, và chính điều ấy giải thích cho cái thói ngang tàng của chúng.

"Này, anh bạn," một con cất giọng nói với vịt con, "chú mày xấu xí tới nỗi bọn ta lại thấy khoái chí. Chú mày có muốn bay cùng bọn ta, trở thành một loài chim di trú không? Cách đây không xa là một đầm lầy khác, trong đó có mấy ả ngỗng trời còn chưa kết hôn. Tha hồ cho chú mày kiếm vợ đấy nhé. Dù xấu xí thế, nhưng biết đâu chú mày lại làm nên cơ đồ lớn."

"Đoàng! Đoàng!" - tiếng súng bỗng rền vang trong không trung, và hai chú ngỗng trời rơi thẳng xuống giữa bãi sậy, chết cứng, dòng nước thẫm đỏ màu máu. "Đoàng! Đoàng!" - âm thanh lại dội về từ phía xa xa, những đàn ngỗng trời hoảng loạn vút lên khỏi đám lau sậy.

Tiếng súng tiếp tục vang dội từ mọi hướng, vì những người thợ săn đã bủa vây kín cả khu đầm lầy. Vài tay súng thậm chí còn ngồi vắt vẻo trên những cành cây, cúi xuống chĩa nòng về phía những bụi sậy rậm rạp. Làn khói xanh từ các họng súng cuộn lên như mây vần vũ trên những tán cây sẫm tối, rồi là là trôi trên mặt nước. Một lũ chó săn xông xộc lao vào giữa bãi sậy, giẫm rạp từng khóm cây theo từng bước chúng quét qua. Vịt con đáng thương khiếp đảm biết nhường nào! Cậu ngoảnh đầu toan giấu nó dưới cánh, và ngay khoảnh khắc ấy, một con chó săn to lớn, hung tợn sải bước lướt qua sát ngay bên cậu. Hàm nó há rộng, lưỡi thè dài ra khỏi miệng, đôi mắt trừng trừng ánh lên vẻ dữ dằn. Nó dí mũi sát vào vịt con, nhe hai hàm răng sắc nhọn, và rồi - "bùm, bùm" - nó quay ngoắt mình, lao thẳng xuống nước, không hề đụng đến cậu.

"Ồ," vịt con thở phào nhẹ nhõm, "mình thật biết ơn vì mình quá đỗi xấu xí. Ngay cả một con chó săn cũng chẳng thèm đoái hoài mà cắn mình."

Và thế là cậu nằm im tuyệt đối, không dám nhúc nhích, trong khi đạn réo vèo vèo xuyên qua đám sậy, hết khẩu súng này đến khẩu súng khác lần lượt khai hỏa ngang qua người cậu. Mãi đến cuối ngày, tất cả mới trở lại yên tĩnh. Nhưng ngay cả lúc ấy, sinh linh nhỏ bé đáng thương ấy vẫn chưa dám động đậy. Cậu nằm đợi thêm vài giờ đồng hồ nữa, rồi sau khi thận trọng đảo mắt nhìn quanh, cậu vùng chạy, rời khỏi khu đầm lầy nhanh hết sức có thể. Cậu lao băng qua những cánh đồng và đồng cỏ bát ngát. Một cơn bão gió bỗng nổi lên, và cậu gần như không thể nào chống chọi nổi với sức gió hung tàn.

Gần về chiều, vịt con đến bên một căn nhà tranh nhỏ xác xơ, trông như sắp sập đến nơi - dường như nó chỉ còn đứng vững được là vì chưa kịp quyết định sẽ đổ về phía nào trước. Cơn bão vẫn dữ dội đến nỗi vịt con không tài nào đi thêm được nữa. Cậu ngồi thu mình cạnh căn nhà, rồi chợt nhận ra cánh cửa không được đóng kín, bởi một bên bản lề đã gãy. Thế là có một khe hở hẹp sát phía dưới, vừa đủ rộng để cậu lẻn qua. Vịt con nhẹ nhàng chui vào và tìm được một chỗ trú thân qua đêm.

Trong căn nhà tranh này có một bà lão, một con mèo và một con gà mái cùng chung sống. Con mèo - được bà chủ cưng chiều gọi là "Con trai bé bỏng của ta" - biết cong lưng, biết kêu gừ gừ, và thậm chí còn có thể bắn ra những tia lửa từ bộ lông nếu bị vuốt ve ngược chiều. Con gà mái thì có đôi chân ngắn cũn cỡn, vì thế nó mang tên "Gà Chân Ngắn." Nó đẻ những quả trứng rất ngon, và bà lão thương yêu nó như con ruột trong nhà. Sáng hôm sau, vị khách lạ mặt bị phát giác; mèo bắt đầu gừ gừ, còn gà mái thì cục cục kêu lên.

"Có chuyện gì mà ồn ào thế?" bà lão lên tiếng, đưa mắt nhìn quanh phòng. Nhưng thị lực của bà chẳng còn tinh tường; vậy nên khi trông thấy vịt con, bà đinh ninh đó hẳn là một con vịt béo nào đó lạc khỏi nhà. "Ồ, đúng là một món hời!" bà thốt lên. "Ta mong mi không phải vịt trống, vậy thì ta sẽ có vài quả trứng vịt. Phải chờ xem sao mới được."

Thế là vịt con được phép ở lại thử thách trong ba tuần; nhưng chẳng có quả trứng nào xuất hiện cả.

Lúc này, mèo là ông chủ của ngôi nhà, còn gà mái là bà chủ; và chúng luôn miệng nói: "Chúng ta và thế giới," bởi chúng tin rằng bản thân chúng đã chiếm một nửa thế giới, mà hơn thế nữa, lại là nửa tốt đẹp hơn. Vịt con thầm nghĩ rằng những kẻ khác có lẽ sẽ giữ một ý kiến khác về vấn đề này, nhưng gà mái không thèm nghe đến những sự hoài nghi như vậy.

"Cậu có biết đẻ trứng không?" gà mái hỏi.

"Không."

"Thế thì làm ơn ngậm miệng lại đi."

"Nhóc có biết cong lưng, hay kêu gừ gừ, hay bắn ra những tia lửa không?" mèo lên tiếng.

"Không."

"Thế thì nhóc không có tư cách gì để đưa ra ý kiến khi những kẻ hiểu biết đang nói."

Vậy là vịt con ngồi co ro trong một góc, lòng vô cùng ủ rũ. Nhưng rồi khi ánh nắng và bầu không khí trong lành tràn vào phòng qua cánh cửa đang mở, cậu bỗng cảm thấy một niềm khao khát được bơi lội mãnh liệt đến nỗi không sao kìm lòng được, bèn buột miệng thốt ra.

"Đúng là một ý nghĩ ngớ ngẩn!" gà mái nói. "Cậu chẳng có việc gì khác để làm, thành ra mới sinh ra những mộng tưởng ngu xuẩn như thế. Nếu cậu mà biết kêu gừ gừ hoặc biết đẻ trứng, thì những ý nghĩ ấy sẽ tiêu tan ngay."

"Nhưng bơi lội trên mặt nước mới tuyệt vời làm sao," vịt con đáp, "và thật sảng khoái biết bao khi cảm nhận dòng nước phủ lên đầu chị trong lúc chị lặn xuống tận đáy."

"Tuyệt vời, hẳn rồi! Đúng là một cái thú kỳ quặc," gà mái nói. "Sao cơ, cậu điên rồi hả? Hỏi mèo ấy - anh ấy là loài vật sáng suốt nhất mà ta biết - hỏi anh ấy xem có thích bơi lội trên mặt nước, hay lặn sâu dưới nước không, vì ta sẽ chẳng thèm nêu ý kiến riêng của ta ra đâu. Hỏi bà chủ của chúng ta, bà lão ấy; trên thế gian này chẳng có ai khôn ngoan hơn bà ấy đâu. Cậu nghĩ bà ấy có thích bơi lội và để nước phủ lấp đầu mình không?"

"Tôi thấy chị chẳng hiểu tôi rồi," vịt con nói.

"Chúng ta không hiểu cậu ư? Để ta hỏi, ai mới là kẻ hiểu được cậu đây? Cậu có tự cho mình thông minh hơn mèo, hay hơn bà lão không? - Ta sẽ không nói gì về bản thân ta. Đừng có tưởng tượng ra những điều vô lý như thế, ranh con ạ, và hãy cảm ơn vận may của cậu vì đã được tiếp đón tử tế ở nơi này. Chẳng phải cậu đang ở trong một căn phòng ấm áp, trong một cộng đồng mà từ đó cậu có thể học hỏi được bao điều hay sao? Nhưng cậu thì chỉ là một kẻ lắm lời, và sự hiện diện của cậu chẳng mấy dễ chịu cho ai. Tin ta đi, ta nói vậy chỉ vì muốn tốt cho cậu thôi. Ta có thể thốt ra những sự thật mất lòng, nhưng đó chính là minh chứng cho tình bạn của ta. Bởi vậy, ta khuyên cậu hãy học cách đẻ trứng và học cách kêu gừ gừ càng nhanh càng tốt."

"Tôi tin là tôi phải đi ra ngoài thế giới một lần nữa thôi," vịt con nói.

"Ừ, đi đi," gà mái đáp. Vậy là vịt con rời khỏi căn nhà tranh, và chẳng mấy chốc đã tìm thấy dòng nước để có thể bơi và lặn, nhưng cậu vẫn bị tất cả các loài vật khác xa lánh vì vẻ ngoài xấu xí của mình.

Mùa thu đến, lá rừng nhuộm sắc cam vàng rực rỡ. Rồi khi mùa đông ghé gần, gió cuốn từng chiếc lá đang rơi, hất tung chúng vào bầu không khí lạnh buốt. Những đám mây nặng trĩu mưa đá và bông tuyết là đà bay trên bầu trời. Giữa đám sậy, quạ đứng lẻ loi, cất tiếng kêu "Quạ, quạ" - chỉ cần trông thấy cảnh ấy thôi cũng đủ khiến người ta lạnh run lên rồi. Tất cả những điều này buồn xiết bao đối với chú vịt con bé nhỏ đáng thương.

Một buổi chiều tà, đúng lúc mặt trời đang lặn giữa những tầng mây rực sáng, một đàn chim lớn xinh đẹp từ trong các bụi rậm tung cánh bay ra. Vịt con chưa từng thấy loài chim nào giống như vậy. Chúng là thiên nga; chúng uốn chiếc cổ duyên dáng, bộ lông mềm mại trắng đến chói lóa lấp lánh dưới ánh hoàng hôn. Chúng cất lên tiếng kêu lạ lùng, rồi dang rộng đôi cánh huy hoàng, bay khỏi những miền đất giá lạnh để đến những phương trời ấm áp hơn bên kia đại dương. Chúng bay lên cao mãi, cao mãi trong không trung, và chú vịt con xấu xí nhỏ bé cảm thấy một nỗi xao xuyến thật kỳ lạ khi dõi theo chúng. Cậu xoay mình dưới nước như một cái bánh xe, vươn dài cổ về phía đàn thiên nga và cất lên tiếng kêu kỳ quặc đến nỗi chính cậu cũng phải sợ hãi. Ôi, làm sao cậu có thể quên được những chú chim xinh đẹp và hạnh phúc ấy! Khi chúng khuất hẳn khỏi tầm mắt, cậu lặn sâu xuống nước rồi lại ngoi lên, gần như phát cuồng vì phấn khích. Cậu không hề biết tên của những con chim này, cũng chẳng biết chúng bay về đâu, nhưng cậu dành cho chúng một thứ cảm xúc mà cậu chưa từng có với bất kỳ loài chim nào khác trên đời.

Cậu không ghen tị với những sinh vật xinh đẹp ấy; thậm chí cậu chưa từng nảy ra ý nghĩ ước mình cũng được đẹp đẽ như chúng. Sinh vật xấu xí tội nghiệp, chỉ cần được sống chung với đám vịt, giá như chúng đối xử tử tế và dành cho cậu một chút khích lệ thôi, cũng đủ khiến cậu vui lòng biết mấy.

Mùa đông ngày càng khắc nghiệt; cậu buộc phải bơi liên tục trên mặt nước để ngăn nó khỏi đóng băng, nhưng mỗi đêm trôi qua, khoảng nước cậu bơi được cứ hẹp dần, hẹp dần. Cuối cùng, băng đông cứng đến mức mặt băng răng rắc nứt ra mỗi lần cậu cựa mình, vịt con phải khua chân hết sức lực để giữ cho khoảng trống không bị khép lại. Rồi cậu kiệt sức, nằm im bất lực và bị đóng băng cứng trong lớp băng.

Sáng sớm hôm sau, một bác nông dân đi ngang qua trông thấy cảnh tượng ấy. Bác dùng chiếc guốc gỗ của mình đập tan lớp băng thành từng mảnh và mang vịt con về nhà cho vợ. Hơi ấm đã khiến sinh vật bé nhỏ đáng thương tỉnh lại; nhưng khi lũ trẻ muốn chơi với cậu, vịt con lại nghĩ rằng chúng định làm hại mình, thế là cậu vùng dậy trong cơn hoảng sợ, đập cánh bay thẳng vào chảo sữa khiến sữa bắn tung tóe khắp phòng. Người đàn bà vỗ tay, điều đó càng làm cậu sợ hãi hơn. Cậu lao vào thùng bơ trước, rồi vào bồn đựng bột, rồi lại vọt ra. Ôi, cậu đang ở trong tình cảnh thảm thương làm sao! Người đàn bà thét lên, cầm cái kẹp gắp than đập cậu; lũ trẻ cười rộ, la hét, ngã nhào lên nhau trong lúc cố gắng bắt cậu. Nhưng may mắn thay, cậu đã trốn thoát. Cánh cửa đang mở; sinh vật đáng thương chỉ kịp lẻn ra ngoài, chui tọt vào giữa đám bụi cây và nằm xuống, hoàn toàn kiệt quệ, giữa lớp tuyết mới rơi.

Sẽ buồn xiết bao nếu tôi kể hết tất cả những nỗi gian khổ và thiếu thốn mà chú vịt con nhỏ bé đáng thương phải chịu đựng suốt mùa đông khắc nghiệt ấy. Nhưng rồi mùa đông cũng qua. Một buổi sáng nọ, cậu thấy mình đang nằm giữa một vùng đầm lầy, lọt thỏm trong đám sậy. Ánh nắng ấm áp chiếu rọi lên người cậu. Cậu nghe tiếng chim chiền chiện6 hót vang, và nhìn thấy cảnh vật quanh mình là mùa xuân tươi đẹp đang tràn về.

Bấy giờ chú chim non cảm nhận đôi cánh đã trở nên mạnh mẽ, khi cậu đập chúng vào hai bên sườn rồi vút bay lên không trung. Đôi cánh ấy đưa cậu bay đi, cho đến khi, trước cả lúc cậu kịp nhận ra chuyện gì đang xảy ra, cậu thấy mình đã ở trong một khu vườn rộng lớn. Những cây táo đang mùa nở rộ; những cây cơm cháy7 ngát hương thơm, rủ những cành xanh dài xuống dòng suối uốn lượn quanh một bãi cỏ phẳng lặng. Mọi thứ trông thật tuyệt đẹp trong vẻ tinh khôi của đầu mùa xuân. Từ một bụi cây gần đó, ba con thiên nga trắng xinh đẹp xuất hiện, xào xạc bộ lông và nhẹ nhàng lướt đi trên mặt nước êm ả. Vịt con nhìn những chú chim đáng yêu ấy, lòng cậu bỗng cảm thấy bất hạnh hơn bao giờ hết.

"Mình sẽ bay đến chỗ những chú chim hoàng gia này," cậu thốt lên, "và các ngài ấy sẽ giết tôi, bởi vì dù tôi xấu xí, tôi vẫn dám đến gần các ngài. Nhưng điều đó không quan trọng; thà bị các ngài ấy giết còn hơn là bị bọn vịt mổ, bị gà đánh, bị cô hầu gái cho gia cầm ăn xô đuổi, hoặc chết đói trong mùa đông."

Rồi cậu bay xuống nước và bơi về phía những con thiên nga xinh đẹp. Ngay khoảnh khắc chúng nhìn thấy người lạ, chúng lao đến đón cậu với đôi cánh dang rộng.

"Hãy giết tôi đi," chú chim đáng thương nói, và cậu cúi đầu xuống mặt nước chờ đợi cái chết.

Nhưng cậu đã nhìn thấy gì trong dòng suối trong vắt bên dưới? Hình ảnh phản chiếu của chính cậu - không còn là một con chim xám sẫm, xấu xí và khó ưa nữa, mà là một con thiên nga duyên dáng và xinh đẹp.

Được sinh ra trong ổ vịt ở sân nông trại chẳng có ý nghĩa gì đối với một con chim, nếu nó được ấp nở từ một quả trứng thiên nga. Giờ đây cậu cảm thấy vui mừng vì đã phải chịu đựng tất cả những nỗi buồn và gian khó ấy, bởi chính điều đó giúp cậu có thể tận hưởng trọn vẹn hơn gấp bội tất cả niềm vui và hạnh phúc đang bao quanh mình; vì những con thiên nga lớn đã bơi quanh người bạn mới đến và dùng mỏ chúng vuốt ve cổ cậu, như một lời chào đón.

Đúng lúc đó, có vài đứa trẻ bước vào khu vườn và ném bánh mì cùng bánh ngọt xuống nước.

Người bạn mới này là người đẹp nhất trong tất cả...

"Nhìn kìa," đứa nhỏ nhất kêu lên, "có một chú thiên nga mới;" và những đứa còn lại thì vô cùng thích thú, chạy đến chỗ cha mẹ chúng, nhảy múa và vỗ tay, reo hò vui sướng: "Có một chú thiên nga mới tới này! Một chú thiên nga mới đã đến!"

Rồi chúng ném thêm bánh mì và bánh ngọt xuống nước và bảo nhau: "Chú thiên nga mới này là đẹp nhất trong tất cả, chú ấy thật trẻ trung và xinh đẹp." Và những con thiên nga già cúi đầu chào cậu.

Lúc ấy cậu cảm thấy vô cùng xấu hổ, giấu đầu dưới cánh, vì cậu không biết phải làm gì nữa - cậu quá đỗi hạnh phúc, nhưng cậu không hề tự mãn. Cậu từng bị bắt nạt và coi thường vì vẻ ngoài xấu xí của mình, thế mà bây giờ cậu lại nghe chúng nói rằng mình là loài chim xinh đẹp nhất trong tất cả. Ngay cả cây cơm cháy cũng uốn cành xuống nước trước mặt cậu, và mặt trời chiếu sáng ấm áp rực rỡ. Rồi cậu làm xào xạc bộ lông, uốn cong chiếc cổ thon thả và cất tiếng hét lên vui sướng, từ tận đáy lòng: "Tôi chưa bao giờ mơ đến niềm hạnh phúc như thế này trong lúc tôi còn là một con vịt con xấu xí bị khinh miệt."



  1. Chi tiết xuất phát từ tập tính di cư thực tế của loài cò ở châu Âu, thường bay về Ai Cập (châu Phi) để tránh rét vào mùa đông, nên tác giả nhân hóa rằng chúng đang nói ngôn ngữ của vùng đất này. 

  2. Loài thực vật mọc hoang phổ biến ở Bắc Âu (tên tiếng Anh là burdock), có lá rất to. Sự xuất hiện của ngưu bàng báo hiệu một vùng đất ẩm ướt, hoang vu nhưng an toàn cho động vật làm tổ. 

  3. Một giống gia cầm lốm đốm lông, có tập tính sợ nước. Vịt già nhầm quả trứng lớn là trứng gà sao và cho rằng khi nở ra nó sẽ không biết bơi. 

  4. Vào thế kỷ 19 ở châu Âu, những giống gia cầm nhập ngoại từ Tây Ban Nha thường được coi là quý hiếm và có giá trị cao hơn giống bản địa, thể hiện sự phân biệt giai cấp ngay trong thế giới động vật. 

  5. Tập quán thực tế của nông dân châu Âu: buộc những dải ruy băng vào chân những con gia cầm đắt tiền hoặc lai giống tốt để đánh dấu, tránh đi lạc hoặc bị bắt trộm. 

  6. Loài chim nhỏ (tên tiếng Anh là lark), nổi tiếng với tiếng hót lảnh lót vào buổi sáng sớm, được xem là biểu tượng báo hiệu mùa xuân đến trong văn chương châu Âu. 

  7. Loài cây bụi phổ biến ở Đan Mạch (elder tree/elderberry), nở hoa trắng nhỏ tỏa hương thơm vào cuối xuân đầu hè. Trong văn hóa Bắc Âu, cây cơm cháy thường gắn liền với sự sinh sôi và vẻ đẹp tĩnh lặng của thiên nhiên.