
I. Lão thủy thủ già tại nhà trọ "Admiral Benbow"

Thể theo yêu cầu của ngài điền chủ Trelawney, bác sĩ Livesey cùng các vị quý phái khác, tôi xin chép lại toàn bộ câu chuyện về Đảo Giấu Vàng từ lúc mở đầu cho đến khi kết thúc. Tôi sẽ không giấu giếm bất cứ chi tiết nào, ngoại trừ vị trí của hòn đảo, chỉ bởi lẽ kho báu trên đó vẫn chưa được mang đi hết. Tôi cầm bút vào một ngày năm 17-, để hồi tưởng lại cái thuở cha tôi còn làm chủ nhà trọ Admiral Benbow. Chuyện bắt đầu từ cái ngày lão thủy thủ già da ngăm đen, mang vết sẹo do gươm chém trên mặt, lần đầu tiên bước tới ở trọ dưới mái nhà chúng tôi.
Tôi vẫn còn nhớ lão rành rọt như mới hôm qua. Lão lê bước đến trước cửa quán, cỗ rương đi biển được kéo theo sau lưng bằng một chiếc xe cút kít. Lão là một gã đàn ông cao lớn, lực lưỡng và nặng nề, nước da nâu xỉn như hạt dẻ. Một bím tóc bết đầy hắc ín vắt vẻo trên vai chiếc áo khoác xanh nhếch nhác. Lão có đôi bàn tay thô ráp, chằng chịt sẹo cùng những chiếc móng đen đúa, nứt nẻ, và một vết sẹo gươm chém trắng bệch vắt ngang gò má cáu bẩn. Tôi nhớ lão đã đưa mắt nhìn quanh vịnh nhỏ, tự huýt sáo một mình, rồi cất giọng hát bài ca đi biển cổ lỗ mà sau này lão vẫn thường nghêu ngao:
"Mười lăm người trên chiếc rương của kẻ đã chết1- Yo-ho-ho, và một chai rượu rum!"
Giọng lão cao, run rẩy và già nua, âm điệu nghe như thể đã được tôi luyện rồi vỡ vụn bên những thanh tời neo. Sau đó, lão dùng cái gậy như đòn bẩy mang theo bên mình gõ ầm ĩ vào cửa. Lúc cha tôi bước ra, lão cộc lốc gọi ngay một ly rượu rum. Khi rượu được mang tới, lão uống thật chậm rãi, ra chiều sành sỏi lắm. Lão vừa nhâm nhi thưởng thức hương vị, vừa láo liên nhìn quanh các vách đá cùng tấm biển hiệu của nhà trọ.
"Đây là một vịnh nhỏ khá thuận tiện," cuối cùng lão lên tiếng. "Một quán rượu có vị trí khá đẹp. Khách khứa có đông không, bác?"
Cha tôi đáp rằng chẳng có mấy khách, thật đáng tiếc.
"Thế thì," lão bảo, "đây chính là bến đỗ dành cho tôi. Này, anh bạn," lão gọi vói người đẩy xe cút kít, "mang xe lại gần đây và giúp ta bưng cái rương lên. Tôi sẽ ở lại đây một thời gian," lão tiếp lời. "Tôi là một kẻ giản dị. Rượu rum, thịt lợn muối và trứng là tất cả những gì tôi cần. Tôi cũng cần mỏm đất trên kia để canh chừng những con tàu nhổ neo. Bác muốn gọi tôi là gì ư? Cứ gọi tôi là thuyền trưởng. Ồ, tôi hiểu bác đang lo lắng điều gì-đây"; dứt lời, lão ném ba, bốn đồng tiền vàng boong boong xuống ngưỡng cửa. "Bác có thể báo cho tôi biết khi nào tôi xài hết số tiền này," lão nói, mang vẻ mặt dữ tợn của một vị chỉ huy.
Quả thực, dù bộ dạng tồi tàn cùng lối ăn nói thô lỗ, lão chẳng có vẻ gì là một tên thủy thủ quèn làm việc trên boong. Trái lại, lão giống một thuyền phó hay thuyền trưởng, kẻ đã quen với việc ra lệnh hoặc trừng phạt kẻ khác. Người đẩy xe kể lại với chúng tôi rằng cỗ xe ngựa chở thư đã thả lão xuống vào sáng hôm trước tại quán Royal George. Lão dò hỏi xem có những nhà trọ nào nằm dọc theo bờ biển. Tôi đoán, khi nghe người ta khen ngợi nhà trọ của chúng tôi và biết nơi này khá hẻo lánh, lão đã nhắm đến nó như một chốn dừng chân hoàn hảo. Và đó là tất cả những gì chúng tôi biết về vị khách mới của mình.
Bản tính lão ta vốn lầm lì, ít nói. Ban ngày, ông ta thường lang thang quanh vịnh hoặc tha thẩn dọc các vách đá, trên tay khư khư chiếc kính viễn vọng bằng đồng. Khi chiều buông, ông ta lại thu mình vào một góc phòng khách bên lò sưởi, trầm ngâm uống thứ rượu rum pha nước đặc sệt. Gần như chẳng ai bắt chuyện được với ông ta. Nếu có ai đó hỏi han, ông ta chỉ bất thình lình ngẩng lên, ném lại một tia nhìn hung tợn rồi khịt mũi ầm ĩ như tiếng còi báo sương mù; thế nên, những người quanh nhà sớm muộn cũng đều học được cách phớt lờ vị khách kỳ quặc này. Cứ mỗi lần đi dạo về, câu đầu tiên ông ta hỏi luôn là liệu có gã thủy thủ nào vừa đi ngang qua đây không. Ban đầu, chúng tôi cứ ngỡ ông ta thèm muốn được trò chuyện với những kẻ cùng nghề, nhưng rồi dần nhận ra điều ngược lại: ông ta đang cố sống cố chết tránh mặt họ. Thỉnh thoảng cũng có vài gã thủy thủ quá bộ trên con đường mòn ven biển dẫn đến Bristol rồi ghé lại quán Admiral Benbow. Nhìn thấy họ, ông ta luôn lấp ló ngó qua khe rèm cửa trước khi bước vào phòng khách, và chắc chắn sẽ ngồi im thin thít như một con chuột. Thật ra, tôi cũng lờ mờ đoán được nguyên do, bởi theo một cách nào đó, tôi chính là người cùng san sẻ nỗi sợ hãi với ông ta. Chuyện là một ngày nọ, ông ta kéo tôi ra góc khuất và hứa cứ mỗi đầu tháng sẽ trả cho tôi một đồng bạc bốn xu, với điều kiện tôi phải "vểnh mắt lên mà trông chừng một gã thủy thủ một chân", và lập tức báo ngay cho ông ta nếu gã xuất hiện. Có không ít lần, khi đến ngày nhận lương, tôi vừa ló mặt ra đòi thì ông ta lại trừng mắt nhìn tôi chằm chằm rồi khịt mũi đuổi đi. Nhưng y như rằng, chỉ vài ngày sau, ông ta sẽ thay đổi thái độ, tự động mang đồng bạc bốn xu đến đưa tôi và lẩm bẩm nhắc lại mệnh lệnh: phải canh chừng "gã thủy thủ một chân".
Chắc tôi cũng chẳng cần phải kể lể dông dài với các vị rằng gã một chân đó đã ám ảnh tôi đến mức nào. Vào những đêm giông bão ập tới, gió gào rít làm rung bần bật bốn góc nhà, sóng biển thì gầm thét dữ dội dọc theo vịnh, chồm lên đập nát tung vào các vách đá. Chính lúc đó, bóng ma của gã lại hiện về trong hàng ngàn hình hài quái đản với cơ man những nét mặt tàn ác. Có lúc chân gã bị cưa cụt đến tận đầu gối, khi lại mất hút đến tận hông; có lúc gã lại biến thành một sinh vật quỷ dị, chỉ có độc một cái chân mọc ngay giữa thân mình. Hình ảnh gã thoăn thoắt nhảy loi choi, chạy đuổi theo tôi qua hết hàng rào đến mương nước thực sự là một cơn ác mộng kinh hoàng nhất đời tôi. Rốt cuộc, cái giá tôi phải trả cho đồng bạc bốn xu mỗi tháng quả là quá đắt, nó bị quy đổi thành những ảo ảnh rùng rợn đến ám ảnh như thế đó.
Nhưng trái ngược với nỗi khiếp sợ về gã thủy thủ một chân, tôi lại ít sợ thuyền trưởng hơn thảy những ai từng biết ông ta. Có những đêm, ông ta nốc rượu rum pha nước đến mức mụ mẫm cả đầu óc; rồi cứ thế ngồi ca những bài hát đi biển man rợ, điên cuồng và tục tĩu từ thời nảo thời nào mà chẳng thèm đoái hoài đến ai. Cũng có lúc, ông ta gào lên gọi rượu cho cả vòng người, ép tất thảy những vị khách đang run cầm cập phải vểnh tai nghe ông ta kể chuyện, hoặc bắt họ gân cổ lên hát phụ họa. Tôi đã không ít lần nghe thấy cả căn nhà rung chuyển vì điệp khúc "Yo-ho-ho, và một chai rượu rum", nơi tất cả những người hàng xóm đều phải tham gia hát như thể để giữ lấy mạng sống của chính mình. Nỗi sợ chết hiện rõ trên khuôn mặt họ, và ai nấy đều cố hét to hơn người bên cạnh chỉ để ông ta không để mắt tới. Bởi lẽ, trong những cơn bốc đồng say xỉn, ông ta trở thành một kẻ hung bạo và độc đoán nhất trần đời; ông ta đập bàn đánh rầm, ra lệnh cho mọi người phải im thin thít; ông ta nổi trận lôi đình nếu có ai dám mở miệng hỏi han, hoặc lắm khi lại nổi điên chỉ vì chẳng có ai hỏi gì cả - cho rằng đám đông đã không chú tâm vào câu chuyện của mình. Và dĩ nhiên, ông ta chẳng cho phép bất kỳ ai bước chân ra khỏi quán trọ cho đến khi tự mình chuếnh choáng say ngủ rồi loạng choạng tìm đường lên giường.
Thế nhưng, chính những câu chuyện của ông ta mới là thứ gieo rắc nỗi kinh hoàng tột độ. Đó là những chuyện rợn tóc gáy về những vụ treo cổ, những hình phạt đi trên ván2 tàn khốc, những cơn bão kinh hoàng trên đại dương, về hòn đảo Dry Tortugas3, hay về những hành động man rợ xảy ra nhan nhản trên vùng biển Spanish Main4. Nghe theo lời tự thuật, có lẽ ông ta đã dành cả cuộc đời lặn ngụp giữa những kẻ khát máu và tồi tệ nhất mà Chúa từng cho phép được thả trôi trên biển cả. Những ngôn từ chợ búa mà ông ta dùng để tuôn ra các câu chuyện này cũng làm cho những người dân quê chất phác của chúng tôi phải sốc nặng chẳng kém gì sự dã man trong các tội ác đó. Cha tôi vẫn thường than vãn rằng quán trọ thế nào cũng sớm sập tiệm, vì ai mà thèm lui tới mãi để chuốc lấy sự khinh miệt, bị chèn ép, rồi phải về nhà nằm trùm chăn run lẩy bẩy cơ chứ. Ấy vậy mà tôi lại thực lòng tin rằng sự hiện diện của vị khách này đã mang đến vận may cho nhà mình. Lúc nghe kể thì ai nấy đều run rẩy, nhưng ngẫm lại, họ lại thấy cực kỳ thích thú; nó giống như một thứ gia vị cay nồng rắc lên cuộc sống thôn quê vốn dĩ bình lặng tẻ nhạt. Thậm chí còn có hẳn một đám thanh niên tỏ vẻ sùng bái ông ta, gọi ông ta bằng những cái danh như "sói biển thực thụ" hay "thủy thủ già chính hiệu", và ca ngợi rằng chính những con người như vậy mới là thế lực khiến hải quân Anh quốc trở thành nỗi khiếp sợ trên toàn cõi đại dương.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, ở một góc độ khác, ông ta thực sự có nguy cơ khiến nhà tôi vỡ nợ. Ông ta cứ chây ỳ ở đây từ tuần này sang tuần nọ, rồi lại từ tháng này qua tháng khác, đến nỗi khoản tiền đặt cọc ban đầu đã nhẵn thín từ đời nào, vậy mà cha tôi chẳng bao giờ gom đủ can đảm để mở miệng vòi thêm tiền. Nếu có đôi lần cha tôi ngập ngừng nhắc khéo, thì vị thuyền trưởng lại khịt mũi ầm ĩ - nghe như tiếng thú dữ gầm gừ - rồi trừng cặp mắt trắng dã đuổi khéo cha tôi ra khỏi phòng. Tôi đã từng chứng kiến cha đứng vặn vẹo đôi bàn tay bần thần sau những cái tát tinh thần như thế, và tôi dám chắc rằng, chính sự muộn phiền cay đắng hòa lẫn nỗi uất ức kinh hoàng cứ ngày ngày giày vò đó đã đẩy nhanh cha tôi đến cái chết đầy bất hạnh và tức tưởi.
Trong suốt chừng ấy thời gian sống dưới mái nhà chúng tôi, vị thuyền trưởng chưa một lần chịu thay đổi diện mạo, ngoại trừ việc mua dăm ba đôi bít tất của một người bán rong. Có một nếp gấp trên vành mũ của ông ta bị sụp xuống, ông ta cũng mặc kệ cho nó lòa xòa từ ngày này qua tháng khác, bất chấp sự vướng víu khó chịu mỗi khi có gió lùa. Tôi vẫn nhớ rõ bộ dạng thảm hại của chiếc áo khoác mà ông ta thường tự vá trên phòng; đến những ngày cuối đời, cái áo ấy có lẽ chẳng còn gì khác ngoài những mảnh chắp vá. Ông ta cũng chưa từng gửi đi hay nhận lại một phong thư nào, và cũng chẳng thèm nói chuyện với ai ngoài đám láng giềng tọc mạch - mà thường thì cũng chỉ lúc đã ngà ngà say sưa với men rượu rum. Còn về chiếc rương đi biển khổng lồ kia ư? Từ đầu chí cuối, chẳng một ai trong số chúng tôi từng có cơ hội thấy nó hé mở.
Tuy nhiên, ông ta cũng từng bị trái ý một lần duy nhất. Đó là vào những ngày cuối đời của cha tôi, khi căn bệnh quái ác đang từng ngày rút cạn sinh lực của ông cụ. Một buổi chiều muộn, bác sĩ Livesey ghé sang khám bệnh cho cha. Dùng xong bữa tối do mẹ tôi dọn sẵn, vị bác sĩ liền bước vào phòng khách để hút vài hơi tẩu trong lúc chờ người dong ngựa từ ngôi làng nhỏ tới, bởi quán Benbow cũ kỹ của chúng tôi chẳng có chuồng ngựa nào. Tôi tò mò theo chân ông vào phòng. Tôi vẫn còn nhớ rõ sự tương phản đến kỳ lạ giữa vị bác sĩ chỉn chu, tươm tất với mái tóc rắc phấn trắng muốt, đôi mắt đen tinh anh cùng phong thái nhã nhặn, với đám dân quê thô kệch. Nhưng trên hết là sự đối lập một trời một vực với lão cướp biển lờ đờ, nhếch nhác như một con bù nhìn gớm ghiếc, đang nằm ườn ra bàn ngập ngụa trong hơi men rượu rum. Đột nhiên ông ta-ý tôi là, vị thuyền trưởng-cất giọng oang oang hát bài ca quen thuộc:
"Mười lăm người trên chiếc rương của kẻ đã chết- Yo-ho-ho, và một chai rượu rum! Rượu và ác quỷ đã kết liễu những kẻ còn lại- Yo-ho-ho, và một chai rượu rum!"
Thuở ban đầu, tôi cứ đinh ninh "chiếc rương của kẻ đã chết" chính là cái rương lớn ông ta cất trong căn phòng phía trước trên lầu. Ý nghĩ rùng rợn ấy cứ bám riết lấy tôi, đan xen cùng bóng dáng gã thủy thủ một chân trong những cơn ác mộng triền miên. Thế nhưng, đến lúc này, mọi người quanh vùng đã quá quen tai và chẳng màng chú ý đến bài hát đó nữa. Tối hôm ấy, bài ca chẳng qua chỉ lạ lẫm với mỗi bác sĩ Livesey. Tôi liếc thấy bác sĩ tỏ vẻ khó chịu ra mặt. Ông ngước mắt lên nhìn lão chằm chằm đầy bực dọc một chốc, rồi mới quay sang nói tiếp với cụ Taylor làm vườn về một phương thuốc mới chữa bệnh thấp khớp. Trong khi đó, tên thuyền trưởng càng hát càng phấn khích với thứ âm điệu của chính mình. Cuối cùng, ông ta đập mạnh tay xuống mặt bàn một cái chát - cái ám hiệu mà ai nấy đều thừa biết là lệnh đòi tất cả phải im lặng. Mọi tiếng xì xào trong phòng bỗng chốc bặt tăm, duy chỉ có bác sĩ Livesey là không. Ông vẫn cứ thản nhiên tiếp tục câu chuyện, giọng nói rành rọt, hòa nhã, và cứ nói được dăm ba chữ lại hít những hơi tẩu ngắn nhẹ nhàng. Lão thuyền trưởng trừng mắt nhìn vị bác sĩ một hồi, đập tay xuống bàn lần nữa, ánh mắt lại càng thêm phần hung tợn. Cuối cùng ông ta buột miệng gầm lên một tiếng chửi thề thô tục, ồm ồm: "Im lặng ngay, lũ dưới hầm tàu kia!"
"Ông đang nói với tôi đấy à, thưa ông?" vị bác sĩ cất tiếng hỏi. Và khi lão lưu manh bồi thêm một tiếng chửi thề nữa để xác nhận rằng đúng là thế, vị bác sĩ điềm nhiên đáp lại: "Tôi chỉ có một điều muốn nói với ông, thưa ông, rằng nếu ông cứ tiếp tục nốc rượu rum như thế, thế giới này sẽ sớm bớt đi được một tên vô lại bẩn thỉu!"
Cơn thịnh nộ của lão già bùng lên thật đáng sợ. Ông ta chồm dậy, vung tay rút xoạch con dao gập của dân đi biển, rồi giữ lưỡi dao thăng bằng trên lòng bàn tay, hăm dọa sẽ ghim chặt vị bác sĩ vào tường.
Nhưng bác sĩ không hề nao núng lấy một nhịp. Ông ngoái nhìn lão qua vai, vẫn giữ nguyên điệu bộ như trước, tông giọng hơi cất cao để cả phòng đều có thể nghe rõ, thong thả mà đanh thép: "Nếu ông không cất ngay con dao đó vào túi, tôi lấy danh dự ra thề, ông chắc chắn sẽ bị treo cổ tại phiên tòa tiếp theo."

Sau đó là một màn đấu mắt nảy lửa giữa hai người. Nhưng lão thuyền trưởng sớm phải nhượng bộ, đành cụp mắt cất vũ khí, hậm hực ngồi phịch xuống ghế, lầm bầm trong miệng hệt như một con chó bị đòn.
"Và bây giờ, thưa ông," bác sĩ tiếp tục, "vì tôi đã biết có một kẻ như ông tồn tại trong vùng đất của mình, ông cứ liệu hồn, tôi sẽ để mắt tới ông cả ngày lẫn đêm. Tôi không chỉ là một bác sĩ, tôi còn là một quan tòa. Và nếu tôi nghe thấy bất kỳ lời phàn nàn nào về ông, dù chỉ vì một hành vi bất lịch sự như tối nay thôi, tôi cũng sẽ có đủ mọi cách để săn lùng và tống cổ ông khỏi nơi này. Mong rằng ông hiểu bấy nhiêu là đủ rồi."
Ngay lúc ấy, người ta cũng vừa dắt ngựa của bác sĩ Livesey đến trước cửa. Ông trèo lên yên ngựa rời đi. Còn lão thuyền trưởng thì nín thinh suốt buổi tối hôm đó, và cả nhiều buổi tối sau này nữa.
-
Trong bài hát gốc tiếng Anh là 'Dead Man's Chest'. Dù cậu bé Jim Hawkins tưởng đây là chiếc rương gỗ đựng đồ, nhưng thực chất đây có thể là tên một hòn đảo hoang cằn cỗi thuộc quần đảo Virgin, nơi hải tặc thường bị bỏ lại đến chết khát như một hình phạt. ↩
-
Dịch từ chữ 'walking the plank'. Đây là một phương pháp hành quyết trên biển, trong đó nạn nhân bị ép bước ra ngoài rìa một tấm ván nhô ra khỏi mạn tàu cho đến khi rơi xuống biển và chết đuối. ↩
-
Một quần đảo san hô ở Vịnh Mexico. Chữ 'Dry' (khô) cảnh báo rằng nơi này hoàn toàn không có nguồn nước ngọt. Do nằm cạnh tuyến đường hàng hải lớn, đảo từng là nơi trú ẩn lý tưởng của cướp biển. ↩
-
Thuật ngữ lịch sử chỉ vùng đất liền và ven biển châu Mỹ do Đế quốc Tây Ban Nha kiểm soát thời bấy giờ. Nơi đây tập trung nhiều tàu chở vàng bạc châu báu, do đó trở thành 'sân mồi' khét tiếng của hải tặc. ↩

I. The Old Sea-dog at the “Admiral Benbow”

quire Trelawney, Dr. Livesey, and the rest of these gentlemen having asked me to write down the whole particulars about Treasure Island, from the beginning to the end, keeping nothing back but the bearings of the island, and that only because there is still treasure not yet lifted, I take up my pen in the year of grace 17-, and go back to the time when my father kept the Admiral Benbow inn and the brown old seaman with the sabre cut first took up his lodging under our roof.
I remember him as if it were yesterday, as he came plodding to the inn door, his sea-chest following behind him in a hand-barrow-a tall, strong, heavy, nut-brown man, his tarry pigtail falling over the shoulder of his soiled blue coat, his hands ragged and scarred, with black, broken nails, and the sabre cut across one cheek, a dirty, livid white. I remember him looking round the cove and whistling to himself as he did so, and then breaking out in that old sea-song that he sang so often afterwards:
“Fifteen men on the dead man’s chest-
Yo-ho-ho, and a bottle of rum!”
in the high, old tottering voice that seemed to have been tuned and broken at the capstan bars. Then he rapped on the door with a bit of stick like a handspike that he carried, and when my father appeared, called roughly for a glass of rum. This, when it was brought to him, he drank slowly, like a connoisseur, lingering on the taste and still looking about him at the cliffs and up at our signboard.
“This is a handy cove,” says he at length; “and a pleasant sittyated grog-shop. Much company, mate?”
My father told him no, very little company, the more was the pity.
“Well, then,” said he, “this is the berth for me. Here you, matey,” he cried to the man who trundled the barrow; “bring up alongside and help up my chest. I’ll stay here a bit,” he continued. “I’m a plain man; rum and bacon and eggs is what I want, and that head up there for to watch ships off. What you mought call me? You mought call me captain. Oh, I see what you’re at-there”; and he threw down three or four gold pieces on the threshold. “You can tell me when I’ve worked through that,” says he, looking as fierce as a commander.
And indeed bad as his clothes were and coarsely as he spoke, he had none of the appearance of a man who sailed before the mast, but seemed like a mate or skipper accustomed to be obeyed or to strike. The man who came with the barrow told us the mail had set him down the morning before at the Royal George, that he had inquired what inns there were along the coast, and hearing ours well spoken of, I suppose, and described as lonely, had chosen it from the others for his place of residence. And that was all we could learn of our guest.
He was a very silent man by custom. All day he hung round the cove or upon the cliffs with a brass telescope; all evening he sat in a corner of the parlour next the fire and drank rum and water very strong. Mostly he would not speak when spoken to, only look up sudden and fierce and blow through his nose like a fog-horn; and we and the people who came about our house soon learned to let him be. Every day when he came back from his stroll he would ask if any seafaring men had gone by along the road. At first we thought it was the want of company of his own kind that made him ask this question, but at last we began to see he was desirous to avoid them. When a seaman did put up at the Admiral Benbow (as now and then some did, making by the coast road for Bristol) he would look in at him through the curtained door before he entered the parlour; and he was always sure to be as silent as a mouse when any such was present. For me, at least, there was no secret about the matter, for I was, in a way, a sharer in his alarms. He had taken me aside one day and promised me a silver fourpenny on the first of every month if I would only keep my “weather-eye open for a seafaring man with one leg” and let him know the moment he appeared. Often enough when the first of the month came round and I applied to him for my wage, he would only blow through his nose at me and stare me down, but before the week was out he was sure to think better of it, bring me my four-penny piece, and repeat his orders to look out for “the seafaring man with one leg.”
How that personage haunted my dreams, I need scarcely tell you. On stormy nights, when the wind shook the four corners of the house and the surf roared along the cove and up the cliffs, I would see him in a thousand forms, and with a thousand diabolical expressions. Now the leg would be cut off at the knee, now at the hip; now he was a monstrous kind of a creature who had never had but the one leg, and that in the middle of his body. To see him leap and run and pursue me over hedge and ditch was the worst of nightmares. And altogether I paid pretty dear for my monthly fourpenny piece, in the shape of these abominable fancies.
But though I was so terrified by the idea of the seafaring man with one leg, I was far less afraid of the captain himself than anybody else who knew him. There were nights when he took a deal more rum and water than his head would carry; and then he would sometimes sit and sing his wicked, old, wild sea-songs, minding nobody; but sometimes he would call for glasses round and force all the trembling company to listen to his stories or bear a chorus to his singing. Often I have heard the house shaking with “Yo-ho-ho, and a bottle of rum,” all the neighbours joining in for dear life, with the fear of death upon them, and each singing louder than the other to avoid remark. For in these fits he was the most overriding companion ever known; he would slap his hand on the table for silence all round; he would fly up in a passion of anger at a question, or sometimes because none was put, and so he judged the company was not following his story. Nor would he allow anyone to leave the inn till he had drunk himself sleepy and reeled off to bed.
His stories were what frightened people worst of all. Dreadful stories they were-about hanging, and walking the plank, and storms at sea, and the Dry Tortugas, and wild deeds and places on the Spanish Main. By his own account he must have lived his life among some of the wickedest men that God ever allowed upon the sea, and the language in which he told these stories shocked our plain country people almost as much as the crimes that he described. My father was always saying the inn would be ruined, for people would soon cease coming there to be tyrannized over and put down, and sent shivering to their beds; but I really believe his presence did us good. People were frightened at the time, but on looking back they rather liked it; it was a fine excitement in a quiet country life, and there was even a party of the younger men who pretended to admire him, calling him a “true sea-dog” and a “real old salt” and such like names, and saying there was the sort of man that made England terrible at sea.
In one way, indeed, he bade fair to ruin us, for he kept on staying week after week, and at last month after month, so that all the money had been long exhausted, and still my father never plucked up the heart to insist on having more. If ever he mentioned it, the captain blew through his nose so loudly that you might say he roared, and stared my poor father out of the room. I have seen him wringing his hands after such a rebuff, and I am sure the annoyance and the terror he lived in must have greatly hastened his early and unhappy death.
All the time he lived with us the captain made no change whatever in his dress but to buy some stockings from a hawker. One of the cocks of his hat having fallen down, he let it hang from that day forth, though it was a great annoyance when it blew. I remember the appearance of his coat, which he patched himself upstairs in his room, and which, before the end, was nothing but patches. He never wrote or received a letter, and he never spoke with any but the neighbours, and with these, for the most part, only when drunk on rum. The great sea-chest none of us had ever seen open.
He was only once crossed, and that was towards the end, when my poor father was far gone in a decline that took him off. Dr. Livesey came late one afternoon to see the patient, took a bit of dinner from my mother, and went into the parlour to smoke a pipe until his horse should come down from the hamlet, for we had no stabling at the old Benbow. I followed him in, and I remember observing the contrast the neat, bright doctor, with his powder as white as snow and his bright, black eyes and pleasant manners, made with the coltish country folk, and above all, with that filthy, heavy, bleared scarecrow of a pirate of ours, sitting, far gone in rum, with his arms on the table. Suddenly he-the captain, that is-began to pipe up his eternal song:
“Fifteen men on the dead man’s chest-
Yo-ho-ho, and a bottle of rum!
Drink and the devil had done for the rest-
Yo-ho-ho, and a bottle of rum!”
At first I had supposed “the dead man’s chest” to be that identical big box of his upstairs in the front room, and the thought had been mingled in my nightmares with that of the one-legged seafaring man. But by this time we had all long ceased to pay any particular notice to the song; it was new, that night, to nobody but Dr. Livesey, and on him I observed it did not produce an agreeable effect, for he looked up for a moment quite angrily before he went on with his talk to old Taylor, the gardener, on a new cure for the rheumatics. In the meantime, the captain gradually brightened up at his own music, and at last flapped his hand upon the table before him in a way we all knew to mean silence. The voices stopped at once, all but Dr. Livesey’s; he went on as before speaking clear and kind and drawing briskly at his pipe between every word or two. The captain glared at him for a while, flapped his hand again, glared still harder, and at last broke out with a villainous, low oath, “Silence, there, between decks!”
“Were you addressing me, sir?” says the doctor; and when the ruffian had told him, with another oath, that this was so, “I have only one thing to say to you, sir,” replies the doctor, “that if you keep on drinking rum, the world will soon be quit of a very dirty scoundrel!”
The old fellow’s fury was awful. He sprang to his feet, drew and opened a sailor’s clasp-knife, and balancing it open on the palm of his hand, threatened to pin the doctor to the wall.
The doctor never so much as moved. He spoke to him as before, over his shoulder and in the same tone of voice, rather high, so that all the room might hear, but perfectly calm and steady: “If you do not put that knife this instant in your pocket, I promise, upon my honour, you shall hang at the next assizes.”

Then followed a battle of looks between them, but the captain soon knuckled under, put up his weapon, and resumed his seat, grumbling like a beaten dog.
“And now, sir,” continued the doctor, “since I now know there’s such a fellow in my district, you may count I’ll have an eye upon you day and night. I’m not a doctor only; I’m a magistrate; and if I catch a breath of complaint against you, if it’s only for a piece of incivility like tonight’s, I’ll take effectual means to have you hunted down and routed out of this. Let that suffice.”
Soon after, Dr. Livesey’s horse came to the door and he rode away, but the captain held his peace that evening, and for many evenings to come.