0046m

III. Vệt Đen

9046m

Khoảng vãn trưa, tôi ghé qua buồng của ông thuyền trưởng, mang theo chút đồ uống giải khát và thuốc men. Lão vẫn nằm gần như y nguyên so với lúc chúng tôi rời đi, đầu chỉ kê cao hơn một chút. Trông lão thật tiều tụy, yếu ớt nhưng lại toát lên vẻ kích động bồn chồn.

"Jim," lão cất lời, "nhóc là người duy nhất ở chốn này còn được việc, và nhóc thừa biết ta luôn đối đãi tử tế với nhóc mà. Có tháng nào ta lại quên cho nhóc đồng bạc bốn xu đâu. Giờ nhóc thấy đó, này nhóc, ta đang kiệt sức nhường nào, lại còn bị mọi người ruồng bỏ; vậy nên, Jim à, nhóc mang cho ta một ly rum nhé, được không nào?"

"Thưa, bác sĩ-" tôi vừa mở miệng.

Nhưng lão liền cắt ngang, buông lời chửi rủa bác sĩ bằng cái giọng tuy yếu ớt mà đầy vẻ hằn học. "Lũ bác sĩ rặt một phường vô dụng," lão nói, "và cái gã bác sĩ đó thì biết cái quái gì về những con sói biển cơ chứ? Ta từng lê la ở những chốn nóng như chảo lửa, nơi đồng đội ta ngã gục tơi bời vì bệnh sốt vàng da1, và cái mảnh đất chết tiệt đó rung bần bật như sóng nhồi vì động đất-gã bác sĩ đó thì biết cái cóc khô gì về những vùng đất như vậy?-và ta sống sót được là nhờ rượu rum, ta nói cho nhóc biết thế. Nó là cơm ăn nước uống, là vợ là chồng của ta; và nếu bây giờ ta không có rượu rum thì ta chẳng khác nào một cái xác tàu mục nát dạt vào bờ, lúc ấy máu của ta sẽ đổ lên đầu nhóc, Jim ạ, và cả gã bác sĩ vô dụng kia nữa." Rồi lão lại tiếp tục tuôn ra một tràng chửi rủa.

"Nhìn đây này, Jim, ngón tay ta đang co giật bần bật đây này," lão tiếp tục, giọng chuyển sang van nài thảm thiết. "Ta không tài nào ghìm chúng lại được. Suốt cả cái ngày chết tiệt này ta chưa được thấm giọng một giọt nào. Gã bác sĩ đó đích thị là một tên ngốc, ta nói cho nhóc biết. Nếu ta không có nổi một ly rum, Jim, ta sẽ thấy những ảo ảnh kinh hoàng2; ta đã thấy lờ mờ vài thứ rồi. Ta thấy lão Flint đứng lù lù ở góc kia, ngay sau lưng nhóc; rõ như ban ngày, ta đã thấy lão; và nếu ta mà bị ảo giác, thì với một kẻ đã sống một đời giang hồ thô bạo như ta, ta sẽ làm loạn lên cho xem. Chính gã bác sĩ của nhóc cũng thừa nhận một ly thì có hại gì đâu mà. Ta sẽ thưởng cho nhóc cả một đồng tiền vàng chỉ đổi lấy một ly thôi, Jim ạ."

Càng nói, lão càng trở nên kích động. Điều này làm tôi thót tim lo cho cha mình, người đang trở bệnh rất nặng trong ngày hôm đó và vô cùng cần sự yên tĩnh. Vả lại, câu nói của bác sĩ mà lão vừa nhắc tới cũng làm tôi yên tâm phần nào, dù tôi khá phật lòng trước lời đề nghị hối lộ sặc mùi tiền bạc kia.

"Cháu không cần tiền của ông," tôi đáp, "ngoài số tiền mà ông còn đang nợ cha cháu. Cháu sẽ lấy cho ông một ly, và chỉ một ly mà thôi."

Lúc tôi mang rượu tới, lão chồm lên vồ lấy như một kẻ chết khát và ngửa cổ nốc cạn sạch.

"Khà... khà..." lão khà hơi sảng khoái, "khá hơn nhiều rồi, chắc chắn là vậy. Mà này nhóc, gã bác sĩ đó có nói ta phải nằm rục xương ở cái ổ cũ kỹ này bao lâu nữa không?"

"Ít nhất là một tuần," tôi đáp.

"Sấm sét đánh tàn mạng!" lão hét lên. "Một tuần ư! Ta không thể; lỡ lúc đó bọn chúng đã gí 'vệt đen3' vào tay ta rồi thì sao. Bọn khốn kiếp đó chắc chắn đang ráo riết lùng sục để đánh hơi ta ngay lúc này; cái lũ không có bản lĩnh giữ lấy đồ của mình, rồi quay sang rình rập cướp đoạt của kẻ khác. Một tên thủy thủ chân chính có hành xử đớn hèn như thế không, nhóc nói ta nghe xem? Nhưng ta là một kẻ biết chắt bóp. Ta chưa bao giờ phung phí những đồng tiền đánh đổi bằng máu và nước mắt của mình, lại càng không đời nào chịu để mất nó; ta sẽ lừa bọn chúng thêm một vố nữa. Ta đếch sợ chúng. Ta sẽ nhổ neo giương buồm, này nhóc, và xỏ mũi bọn chúng thêm một lần nữa cho xem."

Vừa dứt lời, lão đã chống tay nhọc nhằn gượng dậy khỏi giường. Lão bám chặt vào vai tôi như gọng kìm khiến tôi suýt ré lên vì đau, rồi mệt mỏi lê đôi chân nặng như đeo chì. Những lời lẽ đầy khí thế hiên ngang ấy lại đối lập một cách thảm hại với cái giọng điệu thều thào, hụt hơi của lão. Cuối cùng, lão kiệt sức và phải dừng lại, ngồi bệt xuống mép giường.

"Gã bác sĩ đó hại ta tơi bời rồi," lão lầm bầm. "Tai ta đang ù đặc. Đỡ ta nằm xuống đi."

Nhưng trước cả khi tôi kịp đưa tay ra đỡ, lão đã ngã vật xuống chỗ cũ và nằm bất động, im lìm một lúc lâu.

"Jim," lão thì thào cất giọng sau một hồi lâu, "hôm nay nhóc có thấy gã thủy thủ đó lảng vảng quanh đây không?"

"Ông muốn nói tới Chó Đen ạ?" tôi hỏi.

"À! Chó Đen," lão đáp. "Gã đích thị là một tên cặn bã; nhưng đằng sau gã còn có những kẻ khốn nạn hơn nhiều đang giật dây. Giờ nghe này, nếu ta không còn đường nào để lẩn trốn, và bọn chúng gí cho ta vệt đen, nhóc phải khắc cốt ghi tâm nhé, thứ mà chúng thèm khát chính là chiếc rương đi biển cũ kỹ của ta. Nhóc sẽ nhảy lên ngựa-nhóc biết cưỡi ngựa đúng không? Tốt, vậy nhóc hãy phi ngựa như bay, và chạy thẳng đến-ừ, phải rồi, cứ làm thế đi!-đến chỗ gã bác sĩ vô dụng khốn khiếp đó, bảo gã huy động toàn bộ lực lượng-từ quan tòa cho đến đám sai nha lính tráng-và tóm gọn ổ phiến loạn của bọn chúng ngay tại quán trọ Đô đốc Benbow này. Tóm toàn bộ tàn dư của băng đảng cũ dưới trướng lão Flint, từ những thằng nhãi ranh cho đến những gã sừng sỏ già đời, bắt bằng sạch những kẻ còn sót lại. Ta từng là thuyền phó, chính ta đây, thuyền phó tay phải của lão Flint, và ta là kẻ duy nhất trên đời biết cái nơi cất giấu bí mật đó. Lão đã đích thân giao phó nó cho ta ở Savannah4, ngay khi lão đang hấp hối trên giường bệnh, giống hệt như bộ dạng ta lúc này, nhóc thấy đấy. Nhưng nhóc tuyệt đối đừng đánh động gì trừ khi chúng đưa vệt đen cho ta, hoặc nhóc tình cờ nhìn thấy gã Chó Đen quay lại, hay một tên thủy thủ cụt một chân, Jim-đặc biệt phải dè chừng cái gã cụt chân đó."

"Nhưng thưa ông, 'vệt đen' rốt cuộc là cái gì thế?" tôi rụt rè hỏi.

"Đó là một trát gọi tử thần5, nhóc ạ. Ta sẽ nói rõ ngọn ngành nếu chúng dám đưa nó cho ta. Nhưng nhóc phải luôn căng mắt ra mà cảnh giác, Jim, và ta hứa sẽ chia đều mọi thứ cho nhóc, ta lấy danh dự của mình ra mà thề đấy."

Lão còn tiếp tục lảm nhảm thêm một chốc nữa, nhưng giọng điệu cứ lịm dần đi. Ngay khi tôi bưng thuốc đến, lão ngoan ngoãn uống cạn như một đứa trẻ, miệng không quên lầm bầm: "Nếu trên đời này có gã thủy thủ nào cần thuốc, thì đó đích thị là ta." Chẳng mấy chốc, lão đã chìm vào một giấc ngủ mê mệt như chết lâm sàng, và tôi đành để mặc lão nằm đó. Giả sử mọi chuyện cứ êm đềm trôi qua, tôi cũng chẳng biết mình sẽ phải xoay xở thế nào. Rất có thể tôi đã đem toàn bộ câu chuyện kinh khủng này kể tuốt luốt cho bác sĩ, bởi tôi vô cùng khiếp đảm trước viễn cảnh gã thuyền trưởng sẽ lật lọng, hối hận vì những lời thú nhận vừa rồi và tiện tay kết liễu luôn mạng sống của tôi để bịt đầu mối. Thế nhưng, chuyện gì đến cũng phải đến, người cha tội nghiệp của tôi đột ngột trút hơi thở cuối cùng vào ngay tối hôm đó, khiến mọi toan tính khác đành phải gác lại. Nỗi đau thương mất mát ập đến, sự chia buồn thăm viếng của bà con lối xóm, việc chạy vạy lo liệu tang lễ, cộng thêm núi công việc điều hành quán trọ vẫn phải duy trì, tất thảy đã vắt kiệt sức lực của tôi. Tôi bận tối tăm mặt mũi, bận đến mức chẳng còn lấy một tâm trí nào để nghĩ ngợi về gã thuyền trưởng, chứ đừng nói đến chuyện sợ hãi lão.

Mới sáng sớm hôm sau, lão đã lết xuống lầu và dùng bữa như thường lệ, dẫu lão nhai nuốt chẳng được bao nhiêu. Và tôi e rằng, lão đã nốc rượu rum nhiều hơn hẳn mọi khi, bởi lão cứ tự tiện rót rượu ở quầy bar, mặt mày nhăn nhó, mũi thở phì phò khó nhọc, và tuyệt nhiên chẳng một ai dám há miệng can ngăn. Đêm trước ngày cử hành tang lễ, lão vẫn say khướt bí tỉ như thường lệ. Thật chướng tai gai mắt làm sao, giữa một ngôi nhà đang nhuốm màu tang tóc, lại phải nghe lão gào rống ầm ĩ cái bài ca đi biển cũ rích và gớm ghiếc của mình. Nhưng bất chấp vẻ ốm yếu tàn tạ của lão, tất cả chúng tôi đều khiếp sợ đến mức chẳng dám hé răng, và vị bác sĩ thì lại đột ngột phải băng đồng đi chữa trị cho một ca bệnh cách xa hàng dặm, thành ra ông ấy chẳng hề bén mảng đến nhà sau khi cha tôi qua đời. Tôi đã nhắc đến chuyện gã thuyền trưởng cực kỳ yếu ớt, và trên thực tế, trông lão ngày một tàn tạ héo hon chứ chẳng hề lấy lại được chút sinh khí nào. Lão vã mồ hôi nhọc nhằn bấu víu để trèo lên trèo xuống cầu thang, lết từ phòng khách ra quầy bar rồi lại quay vào. Đôi khi, lão thò mũi ra ngoài cửa hít lấy hít để chút mùi mặn mòi của gió biển, tay bám chặt vào vách tường để lấy điểm tựa, nhịp thở hổn hển đứt quãng như thể đang phải gồng mình leo lên một ngọn núi dốc đứng. Lão không bao giờ chủ động cất lời trò chuyện riêng với tôi nữa, và tôi đồ rằng lão đã quên sạch sành sanh những lời tâm can rỉ tai tôi hôm trước. Thế nhưng, tính khí lão lại đâm ra dở dở ương ương, thất thường hơn, và nếu so với cái thân xác rệu rã đang suy nhược từng ngày, thì sự hung bạo trong lão lại càng trỗi dậy mãnh liệt hơn bao giờ hết. Lúc rượu vào bốc men say, lão mắc một thói quen vô cùng đáng báo động: đó là tuốt trần lùi lụi thanh gươm cong sắc lẹm6 và dằn mạnh ngay trước mặt trên bàn. Dẫu có thế nào đi chăng nữa, dạo này lão cũng ít để mắt soi mói mọi người xung quanh hơn, dường như lão đang tự nhốt mình trong những suy tư mông lung bí ẩn và trở nên khá lơ đãng. Chẳng hạn, có một lần, khiến tất thảy chúng tôi phải há hốc mồm kinh ngạc tột độ, lão đột ngột cất giọng rống lên một giai điệu hoàn toàn xa lạ, một bản tình ca đồng quê êm đềm mà lão ắt hẳn đã ngân nga từ cái thuở thanh xuân tươi trẻ, rất lâu trước khi dấn thân vào kiếp sống lênh đênh bạt mạng của nghề đi biển.

Mọi chuyện cứ thế trôi đi. Đến ngày hôm sau tang lễ, vào khoảng ba giờ chiều, trời mịt mù sương giá và lạnh buốt. Tôi đang thẫn thờ đứng ngoài cửa, đầu óc ngập tràn những dòng suy nghĩ buồn bã về cha mình thì bất chợt thấy một bóng người đang chậm rãi bước dọc theo con đường. Gã ta đích thị là một kẻ mù lòa. Gã dò dẫm từng bước bằng một cây gậy, trên mặt đeo một miếng che màu xanh lục to tướng che khuất cả mắt lẫn mũi. Lưng gã còng gập xuống, có lẽ vì tuổi già sức yếu. Gã khoác trên mình một chiếc áo choàng đi biển khổng lồ, cũ kỹ và rách nát. Chiếc mũ trùm đầu lụp xụp càng khiến gã trông thực sự dị dạng. Trong đời mình, tôi chưa bao giờ thấy một hình dáng nào đáng sợ đến thế. Gã dừng bước cách quán trọ một quãng ngắn. Bằng một điệu ngân nga kỳ lạ, gã cất cao giọng nói vào khoảng không trước mặt: “Liệu có người bạn tốt bụng nào nói cho một kẻ mù lòa tội nghiệp, kẻ đã đánh mất đôi mắt quý giá khi anh dũng bảo vệ quê hương nước Anh-và cầu Chúa ban phước cho Vua George7!-biết gã đang ở đâu, thuộc vùng đất nào của đất nước này không?”

“Thưa ông, ông đang ở quán trọ Đô đốc Benbow, Vịnh Đồi Đen,” tôi đáp lời.

“Tao nghe thấy một giọng nói,” gã cất lời, “một giọng nói trẻ trung. Này người bạn nhỏ tốt bụng, mày có thể đưa tay cho tao và dẫn tao vào trong được không?”

Tôi vừa đưa tay ra, sinh vật không có mắt cùng giọng nói the thé rợn người ấy đã vồ lấy tay tôi nhanh như chớp. Cú siết chặt như một chiếc kìm sắt. Tôi hoảng hồn vùng vằng định rút tay lại, nhưng gã mù chỉ cần giật nhẹ cánh tay đã kéo tuột tôi sát vào người gã.

“Nào, thằng nhãi,” gã gầm gừ, “đưa tao vào chỗ lão thuyền trưởng.”

“Thưa ông,” tôi run rẩy, “cháu thề là cháu không dám đâu.”

“Ồ,” gã cười khẩy, “ra vậy sao! Đưa tao thẳng vào đó, không tao bẻ gãy tay mày.”

Vừa dứt lời, gã nhẫn tâm vặn ngoặt tay tôi khiến tôi phải kêu ré lên đau đớn.

“Thưa ông,” tôi van nài, “cháu nói vậy cũng chỉ vì muốn tốt cho ông thôi. Thuyền trưởng không còn như trước đây đâu. Ông ấy đang ngồi lăm lăm thanh kiếm tuốt trần. Một quý ngài khác-”

“Thôi ngay, bước đi,” gã lạnh lùng ngắt lời. Trong đời mình, tôi chưa từng nghe thấy một giọng nói nào tàn nhẫn, lạnh lẽo và gớm ghiếc đến thế. Nó khiến tôi khiếp đảm còn hơn cả nỗi đau thể xác. Chẳng dám chần chừ thêm, tôi răm rắp vâng lời gã, rảo bước vào cửa rồi hướng thẳng đến phòng khách. Ở đó, tên cướp biển già ốm yếu của chúng tôi đang ngồi ủ rũ, lờ đờ vì men rượu rum. Gã mù bám riết lấy tôi. Bàn tay cứng như sắt của gã kẹp chặt, đồng thời gã tì gần như toàn bộ trọng lượng cơ thể lên người tôi khiến tôi oằn mình chống đỡ. “Dẫn tao đi thẳng tới chỗ hắn. Khi tao đã bước vào tầm mắt hắn, mày phải hét lên: ‘Có bạn đến thăm đây, Bill’. Nếu mày trái lệnh, tao sẽ làm thế này,” gã vừa dứt lời liền giật mạnh tay tôi một cú trời giáng khiến tôi tưởng chừng như sắp ngất lịm đi. Bị kẹt giữa hai mối nguy hiểm, tôi đâm ra khiếp đảm gã ăn mày mù tột độ đến mức quên bẵng cả nỗi sợ hãi vị thuyền trưởng. Và thế là, khoảnh khắc mở tung cánh cửa phòng khách, tôi run lẩy bẩy hét lớn những lời gã vừa ra lệnh.

0051m

Lão thuyền trưởng khốn khổ ngước mắt lên, và chỉ qua một cái nhìn, hơi men dường như bốc hơi sạch sẽ, để lại một khuôn mặt sững sờ đến tỉnh cả rượu. Nét mặt lão lúc này không hẳn là khiếp đảm, mà mang vẻ rã rời của một kẻ đang hấp hối. Lão cựa mình định gượng dậy, nhưng tôi đồ rằng lão chẳng còn mảy may chút sức lực nào.

“Nào, Bill, cứ ngồi yên đấy,” gã ăn mày cất giọng lạnh lẽo. “Tuy mù, nhưng tai tao vẫn nghe được cả tiếng một ngón tay cựa quậy. Việc nào ra việc nấy. Chìa cái bàn tay trái của mày ra. Thằng nhãi, nắm lấy cổ tay trái của hắn rồi đưa lại gần tay phải tao.”

Cả hai chúng tôi răm rắp làm theo lời gã như một cái máy. Tôi thấy gã tuồn một vật gì đó từ bàn tay đang chống gậy sang tay viên thuyền trưởng, lão liền nắm chặt lại ngay lập tức.

“Thế là xong,” gã mù nói gọn lỏn. Vừa dứt lời, gã đột ngột buông tôi ra. Bằng một động tác thoăn thoắt và chuẩn xác đến khó tin, gã lùi thoắt ra khỏi phòng khách rồi phóng vút ra đường. Trong lúc tôi vẫn đứng chôn chân tại chỗ, tiếng gậy của gã đã gõ lộc cộc, lộc cộc xa dần.

Phải mất một chốc, tôi và lão thuyền trưởng mới định thần trở lại. Cùng lúc tôi buông cổ tay lão ra, lão cũng rụt tay về, ánh mắt trân trân nhìn chằm chằm vào lòng bàn tay.

“Mười giờ!” lão thét lên. “Còn những sáu tiếng đồng hồ nữa. Ta nhất định sẽ xử đẹp bọn chúng,” rồi lão nhảy bật dậy.

Nhưng ngay khi vừa đứng lên, thân hình lão chao đảo, hai tay ôm choàng lấy cổ. Lão đứng đung đưa chới với trong tích tắc, rồi phát ra một âm thanh nghẹn ứ kỳ lạ, trước khi đổ ập cả tấm thân to lớn sấp mặt xuống sàn nhà.

Tôi hoảng hốt lao đến bên lão, cuống cuồng gào gọi mẹ. Nhưng mọi sự vội vã đều vô ích. Lão thuyền trưởng đã tắt thở vì một cơn đột quỵ sét đánh. Thật kỳ lạ là tôi lại cảm thấy xót xa. Rõ ràng tôi chưa bao giờ ưa con người này, dẫu dạo gần đây tôi cũng bắt đầu thấy thương hại lão, vậy mà ngay khi chứng kiến lão gục chết, tôi lại bật khóc nức nở. Đó là cái chết thứ hai mà tôi phải chứng kiến, và nỗi đau buồn từ cái chết đầu tiên hãy còn đang nhức nhối trong tim tôi.



  1. Nguyên gốc là 'Yellow Jack' (sốt vàng da), một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do muỗi lây truyền ở vùng nhiệt đới (như vùng Caribe) từng cướp đi sinh mạng của rất nhiều thủy thủ và hải tặc vào thế kỷ 18. 

  2. Nguyên gốc tiếng Anh dùng từ 'the horrors', một cách nói lóng chỉ hội chứng sảng run (delirium tremens), tình trạng sinh lý nguy hiểm khi người nghiện rượu nặng đột ngột ngưng uống, gây ảo giác và run rẩy mất kiểm soát. 

  3. Nguyên gốc là 'Black Spot', một chi tiết hư cấu do tác giả Robert Louis Stevenson sáng tạo ra cho văn hóa cướp biển. Đó là một mảnh giấy có chấm đen ở một mặt, dùng để trao tối hậu thư hoặc bản án tử hình cho đồng bọn sắp bị trừng phạt. 

  4. Một thành phố cảng lâu đời ở tiểu bang Georgia, Mỹ. Vào thế kỷ 18, vùng biển lân cận và các khu vực phía Nam Bắc Mỹ là tụ điểm và nơi trú ẩn quen thuộc của giới cướp biển. 

  5. Nguyên gốc là 'summons' (trát hầu tòa/lệnh triệu tập). Ở đây nhân vật dùng từ ngữ pháp lý để ẩn dụ rằng băng đảng cướp biển cũng có luật pháp riêng của thế giới ngầm, và nhận vệt đen tương đương với một bản án tử. 

  6. Nguyên gốc là 'cutlass', loại đoản đao có lưỡi to bản, cong và rất sắc. Đây là vũ khí đặc trưng của thủy thủ và hải tặc do dễ thao tác và cận chiến hiệu quả trong không gian chật hẹp trên boong tàu. 

  7. Ám chỉ vị vua cai trị Vương quốc Anh thời bấy giờ (George II hoặc George III). Gã ăn mày mù nhắc đến tên nhà vua để khoe khoang lòng yêu nước giả tạo nhằm khơi gợi sự thương hại từ những người đi đường.