
X. Chuyến hải hành

Suốt đêm hôm ấy, chúng tôi tất tả ngược xuôi, bận rộn sắp xếp mọi đồ đạc vào đúng vị trí. Từng chiếc thuyền nhỏ chở những người bạn của điền chủ-như ngài Blandly cùng nhiều người khác-tấp nập cập mạn tàu để chúc ngài ấy một chuyến đi thuận buồm xuôi gió và bình an trở về. Dù là những ngày đông khách nhất tại quán trọ Admiral Benbow, tôi cũng chưa từng phải làm việc quần quật đến quá nửa khối lượng công việc đêm nay. Vậy nên, khi tiếng còi lanh lảnh của gã quản phó xé toạc màn sương lúc rạng sáng, và các thủy thủ bắt đầu túa ra vị trí để đẩy cần tời neo, tôi đã mệt lử. Thế nhưng, dẫu có mệt mỏi gấp đôi, tôi cũng chẳng chịu rời khỏi boong tàu lúc này. Mọi thứ trước mắt tôi đều quá đỗi mới mẻ và đầy sức hút-những tiếng hô dõng dạc, tiếng còi rít lên sắc lạnh, cùng bóng dáng những người đàn ông hối hả lao vào vị trí dưới thứ ánh sáng vàng vọt, chập chờn từ những chiếc đèn lồng đong đưa trên boong.
“Nào, Barbecue, ca một khúc cho anh em nghe đi!” một giọng nói hào hứng cất lên.
“Hát lại bài cũ đi!” một người khác lớn tiếng hùa theo.
“Có ngay, có ngay, các anh,” Long John đáp lời. Bác ta đang đứng ngay gần đó, kẹp chặt chiếc nạng gỗ dưới nách, và lập tức cất lên giai điệu cùng những ca từ mà tôi đã thuộc nằm lòng:
“Mười lăm gã ngồi trên rương người chết-”
Và rồi, toàn bộ thủy thủ đoàn đồng thanh gầm vang:-
“Vô-hô-hô, cùng một chai rượu rum!”
Cứ đến tiếng “Hô!” thứ ba, họ lại dồn toàn lực, đẩy mạnh những chiếc cần tời về phía trước.
Ngay giữa khoảnh khắc rộn rã ấy, tâm trí tôi lại thoáng chốc bay về quán trọ Admiral Benbow cũ kỹ thân thuộc. Tôi ngỡ như nghe thấy chất giọng ồm ồm của viên thuyền trưởng già cũng đang vang lên lanh lảnh trong dàn đồng ca hùng tráng. Nhưng chẳng mấy chốc, mỏ neo đã được kéo lên, treo lủng lẳng và rỏ những giọt nước tong tong nơi mũi tàu. Chẳng bao lâu, những cánh buồm bắt đầu no gió, bờ đất liền và những con tàu khác lần lượt lùi lại phía sau hai bên mạn sườn. Và thế là, trước khi tôi kịp ngả lưng xuống chợp mắt lấy một giờ đồng hồ, con tàu Hispaniola đã kiêu hãnh rẽ sóng, bắt đầu chuyến hải trình tiến về Đảo Kho Báu.
Tôi sẽ không dông dài về chi tiết của chuyến đi ấy. Nhìn chung mọi chuyện diễn ra khá êm đẹp. Con tàu đã chứng tỏ mình là một báu vật tuyệt vời, các thủy thủ đều là những tay đi biển tháo vát, còn thuyền trưởng thì vô cùng am hiểu công việc của mình. Nhưng, trước khi chúng tôi cập bến Đảo Kho Báu, đã có đôi ba chuyện xảy ra mà các bạn cần phải biết.
Đầu tiên là chuyện về ông Arrow, người hóa ra còn tệ hại hơn cả những gì thuyền trưởng từng e ngại. Ông ta chẳng có lấy một chút uy quyền nào với thủy thủ đoàn, đến mức ai nấy đều muốn làm gì ông ta thì làm. Nhưng đó hoàn toàn chưa phải là điều tồi tệ nhất. Chỉ độ một hai ngày lênh đênh trên biển, ông ta bắt đầu xuất hiện trên boong tàu với đôi mắt lờ đờ, hai má đỏ lựng, ăn nói líu nhíu cùng đủ mọi dấu hiệu say xỉn. Hết lần này đến lần khác, ông ta bị tống xuống dưới hầm tàu trong bộ dạng vô cùng nhục nhã. Có khi ông ta ngã dúi dụi và tự làm mình bị thương; có khi ông ta lại nằm bẹp gí cả ngày trong chiếc giường tầng chật hẹp ở một bên cầu thang hầm; thỉnh thoảng, được đôi ba ngày, ông ta trông có vẻ tỉnh táo hơn và vớt vát lại đôi chút sự chú tâm vào công việc ở mức ít nhất là tạm chấp nhận được.
Trong khi đó, chúng tôi lại chẳng thể nào tìm ra ông ta giấu rượu ở đâu. Đó quả là một bí ẩn lớn trên tàu. Mặc cho mọi người đã cất công rình rập canh chừng, chúng tôi vẫn không tài nào phá được bí ẩn ấy. Khi bị vặn hỏi thẳng thừng, ông ta chỉ nhoẻn miệng cười hềnh hệch nếu đang say khướt; còn lúc tỉnh táo, ông ta lại trịnh trọng thề thốt với trời biển rằng mình chẳng bao giờ nếm bất cứ thứ gì ngoài nước lọc.
Ông ta không chỉ vô dụng trong vai trò một sĩ quan và gieo rắc ảnh hưởng xấu đến nhuệ khí của thủy thủ đoàn, mà rõ ràng, với cái đà này, ông ta sẽ sớm tự rước lấy cái chết. Bởi thế, chẳng ai lấy làm ngạc nhiên, và cũng chẳng mấy ai xót thương, khi vào một đêm tối trời, biển động dữ dội, ông ta đã hoàn toàn biến mất và vĩnh viễn không bao giờ xuất hiện trở lại.
“Rơi xuống biển rồi!” thuyền trưởng lạnh lùng lên tiếng. “Chà, thưa các ngài, thế là từ nay chúng ta đỡ phải nhọc công còng ông ta lại nữa.”
Thế nhưng, điều đó lại khiến con tàu vắng bóng một người thuyền phó; và dĩ nhiên, cần phải cất nhắc một người khác trong số các thủy thủ lên thay thế. Gã quản phó, Job Anderson, là ứng cử viên sáng giá nhất trên tàu. Dù vẫn mang chức danh cũ, nhưng thực chất ông ta đã gánh vác trọn vẹn công việc của một viên thuyền phó. Ngài Trelawney vốn từng có kinh nghiệm đi biển, và kiến thức của ngài tỏ ra vô cùng hữu ích, bởi ngài thường tự mình trực ca mỗi khi thời tiết chiều lòng người. Còn viên lái trưởng Israel Hands lại là một lão thủy thủ dày dặn gió sương, vô cùng cẩn trọng, mưu trí và dạn dày kinh nghiệm, một người mà trong những tình huống nguy nan nhất, chúng tôi có thể hoàn toàn tin tưởng giao phó gần như mọi trọng trách.
Chú ta là một người bạn tâm giao thân thiết của Long John Silver. Sẵn nhắc đến chú, tôi lại nhớ tới gã đầu bếp của chúng tôi, người mà các thủy thủ thường gọi bằng cái tên Barbecue.
Trên tàu, bác ta buộc chiếc nạng vắt qua cổ bằng một sợi dây để hai tay được rảnh rỗi. Trông bác ta nấu nướng mới thật kỳ lạ làm sao. Bác ta chêm chân nạng vào vách ngăn rồi tựa người vào đó, lắc lư nhịp nhàng theo từng nhịp sóng của con tàu, điềm nhiên xào nấu như thể đang đứng yên trên bờ vững chãi. Đáng nể hơn cả là lúc bác ta bước qua boong tàu giữa những ngày dông bão mù mịt. Bác ta giăng sẵn vài sợi dây ở những quãng rộng nhất-đám thủy thủ hay gọi đùa đó là "hoa tai của Long John". Nhờ đó, bác ta đu người chuyển từ chỗ này sang chỗ khác, khi thì chống nạng, khi thì lôi chiếc nạng lủng lẳng trên cổ theo cùng, thoăn thoắt chẳng kém gì người lành lặn. Dẫu vậy, những thủy thủ từng ra khơi cùng bác ta trước đây vẫn buông lời thương xót khi thấy người đàn ông này nay đã tàn tạ đến thế.
“Barbecue không phải người phàm đâu,” chú lái trưởng thì thầm với tôi. “Hồi trẻ bác ấy được ăn học đàng hoàng, muốn tuôn chữ nghĩa như sách lúc nào cũng được. Còn nói về độ gan góc thì-một con sư tử cũng chẳng bõ bèn gì nếu đem so với Long John! Chú từng chứng kiến bác ấy vật lộn với bốn gã to con, túm đầu chúng đập vào nhau binh binh-mà khi đó bác ấy hoàn toàn tay không tấc sắt đấy nhé.”
Cả thủy thủ đoàn ai nấy đều kính nể và rắp tâm nghe lời bác ta. Bác ta có tài lựa lời cư xử với từng người, lại luôn sốt sắng giúp đỡ anh em chút việc vặt. Riêng với tôi, bác ta lúc nào cũng vô cùng tử tế. Bác ta luôn hồ hởi đón tôi vào khu bếp, một không gian luôn được giữ gìn sạch bóng, mâm bát treo trên vách sáng loáng, cùng với con vẹt kiểng nằm gọn trong chiếc lồng đặt ở góc phòng.
“Lại đây, Hawkins,” bác ta thường cất giọng vồn vã; “lại đây trò chuyện với John nào. Bác chẳng thiết đón ai bằng cháu đâu, chàng trai của bác ạ. Ngồi xuống đây mà nghe báo tin mừng này. Giới thiệu với cháu, đây là Thuyền trưởng Flint-bác lấy tên gã hải tặc khét tiếng đặt cho con vẹt của mình đấy-Thuyền trưởng Flint đang tiên tri rằng chuyến đi này của chúng ta sẽ vô cùng thắng lợi. Phải không, Thuyền trưởng?”
Và rồi con vẹt sẽ lải nhải với tốc độ nhanh như máy khâu: “Đồng 8 real1! Đồng 8 real! Đồng 8 real!”, cho đến khi tôi phát thắc mắc sao nó gào mãi mà không đứt hơi, hoặc cho đến lúc John phải rút chiếc khăn tay ném trùm lên lồng chim.
“Cháu xem, con chim đó,” bác ta tiếp lời, “chắc cũng ngót nghét hai trăm tuổi rồi, Hawkins ạ-giống này thọ ngang với trời đất; và nếu có kẻ nào từng chứng kiến nhiều tội ác tày trời hơn nó, thì hẳn chỉ có lũ ác quỷ dưới địa ngục mà thôi. Nó từng đi biển cùng England, gã Thuyền trưởng England2 vĩ đại ấy. Nó từng dạt đến Madagascar, rồi Malabar, Surinam, Providence, và cả Portobello. Nó từng có mặt ở cái bận người ta trục vớt những chuyến tàu chở bạc bị đắm. Chính ở đó nó đã học được câu ‘Đồng 8 real’. Mà cũng chẳng có gì lạ; ba trăm năm mươi ngàn đồng cơ đấy, Hawkins ạ! Nó từng dự phần trong trận đánh cướp chiếc Viceroy of the Indies ở vùng biển ngoài khơi Goa, đúng thế đấy; vậy mà nhìn nó, cháu sẽ ngỡ nó chỉ là một con chim non nớt vô tội. Nhưng mi đã từng hít no mùi thuốc súng rồi cơ mà-phải không, Thuyền trưởng?”
“Chuẩn bị chuyển hướng tàu!” con vẹt quang quác kêu lên.
“Chà, đó quả thực là một con tàu tuyệt đẹp,” gã đầu bếp chép miệng, rồi móc chút đường trong túi ra mớm cho con vẹt. Nhận được đường, con chim bắt đầu mổ lách cách vào những song sắt rồi chửi thề liên hồi, buông ra những lời lẽ ngoa ngắt tới mức khó tin. “Đó,” John tặc lưỡi, “gần mực thì đen, cháu ạ. Cháu nhìn xem, con chim già ngây thơ tội nghiệp này của bác đang văng tục như điên, và chẳng còn biết chừng mực là gì nữa, cháu cứ tin bác đi. Dù có đang đứng trước mặt một vị mục sư thì nó cũng sẽ chửi bới y hệt như thế này thôi.” Vừa nói, John vừa đưa tay vuốt món tóc trước trán với vẻ trang nghiêm thành kính quen thuộc, khiến tôi đinh ninh rằng bác ta hẳn là người tốt bụng nhất thế gian.
Trong lúc đó, ngài điền chủ và thuyền trưởng Smollett vẫn giữ khoảng cách nhất định với nhau. Ngài điền chủ không buồn che giấu thái độ coi thường vị thuyền trưởng ra mặt. Về phần mình, thuyền trưởng Smollett chẳng bao giờ lên tiếng trừ khi được hỏi tới, và hễ mở lời là ông lại đáp trả sắc gọn, khô khan, chẳng phí hoài một chữ. Khi bị dồn vào thế bí, ông thừa nhận có vẻ như mình đã đánh giá sai về đám thủy thủ. Vài người trong số họ hành động nhanh nhẹn như ông mong muốn, và nhìn chung tất cả đều cư xử khá chừng mực. Riêng với con tàu, ông thực sự đã nảy sinh cảm tình.
“Nó rẽ sóng ngược gió còn tài tình hơn cả những gì một gã đàn ông dám kỳ vọng ở cô vợ mới cưới của mình, thưa ngài,” ông nói. “Nhưng,” ông chậm rãi thêm vào, “ý tôi là, chúng ta vẫn chưa bình an về tới nhà, và tôi chẳng mặn mà gì với chuyến hải trình này.”
Nghe thế, điền chủ lập tức ngoảnh mặt đi, rảo bước vội vã dọc boong tàu, cằm hất ngược lên trời với vẻ bất bình.
“Chỉ cần chịu đựng gã đó thêm chút nữa thôi,” ngài ấy làu bàu, “chắc tôi nổ tung mất.”
Chúng tôi đã nếm trải đôi chút thời tiết xấu, nhưng điều đó lại càng khẳng định chất lượng tuyệt hảo của chiếc Hispaniola. Mọi người trên tàu có vẻ đều vô cùng hài lòng, và hẳn ai nấy phải thuộc dạng khó chiều đến mức nào mới không cảm thấy vậy. Bởi tôi dám chắc rằng, kể từ khi cụ Noah3 đưa con thuyền cứu sinh ra khơi, chưa từng có một đám thủy thủ nào được nuông chiều đến mức ấy. Khẩu phần rượu grog4 luôn được tăng gấp đôi vì dăm ba cái lý do vặt vãnh; lúc nào cũng sẵn bánh xốp tươi vào bất kể ngày nào, chẳng hạn như khi ngài điền chủ nghe phong phanh ai đó đang mừng sinh nhật. Lại còn có cả một thùng táo mở toang nắp, lúc nào cũng nằm chễm chệ giữa tàu để bất cứ ai thèm khát đều có thể tự do lấy ăn.
“Tôi chưa từng thấy điều gì hay ho từ kiểu nuông chiều ấy,” thuyền trưởng Smollett nói với bác sĩ Livesey. “Cứ chiều chuộng đám thủy thủ lảng vảng ở boong trước, rồi chúng sẽ sớm hóa thành quỷ dữ. Tôi luôn tin là vậy.”
Thế nhưng, chính cái thùng táo ấy lại thực sự mang đến một vận may khó tin, như các bạn sẽ được nghe ngay sau đây. Bởi nếu không có nó, chúng tôi hẳn đã chẳng nhận được chút lời cảnh báo nào, và có lẽ tất cả đều đã sớm vùi thây nơi biển sâu bởi những bàn tay phản trắc.
Chuyện đó đã xảy ra như thế này.
Chúng tôi vừa lọt vào vùng gió mậu dịch5. Cả đoàn để mặc cho gió đưa con tàu hướng về hòn đảo bí mật mà chúng tôi cất công tìm kiếm-tôi không được phép nói rõ hơn. Con tàu lao vun vút trên biển. Đội canh gác căng mắt thức trắng cả ngày lẫn đêm. Theo những tính toán dự trù xa nhất, thì đây chính là ngày cuối cùng của chặng đường đi; nội trong đêm nay, hay muộn nhất là trước buổi trưa ngày mai, Đảo Kho Báu sẽ hiện ra trước mắt. Chúng tôi thẳng tiến theo hướng Nam Tây Nam. Một luồng gió êm ái thổi đều ngang sườn tàu, mặt biển hiền hòa phẳng lặng. Chiếc Hispaniola lướt sóng nhẹ nhàng, thỉnh thoảng lại chúi mũi xuống biển khơi, tung bọt trắng xóa. Từ trên xuống dưới, mọi cánh buồm đều no gió. Nỗi phấn khích râm ran trong lòng mỗi người, bởi chúng tôi đã đến rất gần đích đến của chặng đầu tiên trong chuyến phiêu lưu này.
Vừa lúc mặt trời lặn, mọi công việc trong ngày của tôi đã xong xuôi. Đang trên đường về chỗ ngủ, tôi sực nhớ ra mình rất thèm ăn một quả táo. Tôi liền chạy vọt lên boong. Toàn bộ người trong ca trực đều đang dán mắt về phía trước, mải miết ngóng chờ hòn đảo. Người cầm lái chăm chú nhìn mép buồm, miệng khẽ huýt sáo một mình. Giữa biển trời mênh mông, đó là âm thanh duy nhất vang lên, lọt thỏm trong tiếng sóng vỗ rào rạt vào mũi và dọc hai bên mạn tàu.

Tôi lách mình, chui tọt cả người vào trong thùng, mới phát hiện ra dưới đáy chẳng còn sót lại quả táo nào. Thế nhưng, khi ngồi thu lu dưới đó trong bóng tối, tiếng sóng vỗ rì rào hòa cùng nhịp chao đảo êm ái của con tàu đã ru tôi thiu thiu ngủ. Đột nhiên, một gã to béo ngồi phịch xuống ngay sát cạnh làm vang lên một tiếng động lớn. Hắn tựa vai vào chiếc thùng khiến ván gỗ rung bần bật. Tôi giật bắn mình, vừa định chồm dậy thì gã đàn ông cất lời. Đó là giọng của Silver! Chỉ nghe chưa đầy mười hai tiếng thốt ra, dù có đem cả thế giới này ra đánh đổi, tôi cũng sẽ không dại dột tự nộp mạng mà thu mình nằm im thin thít. Toàn thân tôi run rẩy, vừa kinh hãi tột độ vừa tò mò khôn tả, bởi chỉ qua chừng ấy lời lẽ, tôi đã hiểu ra một điều: mạng sống của tất cả những con người lương thiện trên con tàu này giờ đây đều trông cậy vào một mình tôi.
-
Nguyên gốc tiếng Anh là 'Pieces of eight' (Đồng 8 real), đồng đô la bạc của Đế quốc Tây Ban Nha từng được sử dụng phổ biến trong thương mại toàn cầu và thường là mục tiêu cướp bóc của hải tặc. ↩
-
Edward England là một thủ lĩnh hải tặc có thật, nổi tiếng vào đầu thế kỷ 18 ở khu vực Ấn Độ Dương và bờ biển châu Phi. Việc nhắc tới nhân vật lịch sử này giúp tăng tính chân thực về Kỷ nguyên Vàng của hải tặc. ↩
-
Điển tích từ Kinh Thánh. Noah là người được Chúa báo mộng đóng một con thuyền khổng lồ (Noah's Ark) để cứu gia đình và các loài động vật khỏi trận đại hồng thủy. Ở đây tác giả ví von ngụ ý con tàu của Noah là chuyến đi biển xa xưa nhất. ↩
-
Grog là một loại thức uống truyền thống của hải quân và thủy thủ ngày xưa, được pha từ rượu rum với nước, đôi khi vắt thêm nước cốt chanh để phòng bệnh hoại huyết (scurvy) do thiếu vitamin C trong các chuyến đi biển dài ngày. ↩
-
Gió mậu dịch (Trade winds) là các luồng gió thổi thường xuyên và cực kỳ ổn định ở vùng gần xích đạo. Trong thời đại thuyền buồm, các thủy thủ phụ thuộc rất lớn vào luồng gió này để vượt đại dương nhanh chóng và thuận lợi. ↩

X. The Voyage

ll that night we were in a great bustle getting things stowed in their place, and boatfuls of the squire’s friends, Mr. Blandly and the like, coming off to wish him a good voyage and a safe return. We never had a night at the Admiral Benbow when I had half the work; and I was dog-tired when, a little before dawn, the boatswain sounded his pipe and the crew began to man the capstan-bars. I might have been twice as weary, yet I would not have left the deck, all was so new and interesting to me-the brief commands, the shrill note of the whistle, the men bustling to their places in the glimmer of the ship’s lanterns.
“Now, Barbecue, tip us a stave,” cried one voice.
“The old one,” cried another.
“Aye, aye, mates,” said Long John, who was standing by, with his crutch under his arm, and at once broke out in the air and words I knew so well:
“Fifteen men on the dead man’s chest-”
And then the whole crew bore chorus:-
“Yo-ho-ho, and a bottle of rum!”
And at the third “Ho!” drove the bars before them with a will.
Even at that exciting moment it carried me back to the old Admiral Benbow in a second, and I seemed to hear the voice of the captain piping in the chorus. But soon the anchor was short up; soon it was hanging dripping at the bows; soon the sails began to draw, and the land and shipping to flit by on either side; and before I could lie down to snatch an hour of slumber the Hispaniola had begun her voyage to the Isle of Treasure.
I am not going to relate that voyage in detail. It was fairly prosperous. The ship proved to be a good ship, the crew were capable seamen, and the captain thoroughly understood his business. But before we came the length of Treasure Island, two or three things had happened which require to be known.
Mr. Arrow, first of all, turned out even worse than the captain had feared. He had no command among the men, and people did what they pleased with him. But that was by no means the worst of it, for after a day or two at sea he began to appear on deck with hazy eye, red cheeks, stuttering tongue, and other marks of drunkenness. Time after time he was ordered below in disgrace. Sometimes he fell and cut himself; sometimes he lay all day long in his little bunk at one side of the companion; sometimes for a day or two he would be almost sober and attend to his work at least passably.
In the meantime, we could never make out where he got the drink. That was the ship’s mystery. Watch him as we pleased, we could do nothing to solve it; and when we asked him to his face, he would only laugh if he were drunk, and if he were sober deny solemnly that he ever tasted anything but water.
He was not only useless as an officer and a bad influence amongst the men, but it was plain that at this rate he must soon kill himself outright, so nobody was much surprised, nor very sorry, when one dark night, with a head sea, he disappeared entirely and was seen no more.
“Overboard!” said the captain. “Well, gentlemen, that saves the trouble of putting him in irons.”
But there we were, without a mate; and it was necessary, of course, to advance one of the men. The boatswain, Job Anderson, was the likeliest man aboard, and though he kept his old title, he served in a way as mate. Mr. Trelawney had followed the sea, and his knowledge made him very useful, for he often took a watch himself in easy weather. And the coxswain, Israel Hands, was a careful, wily, old, experienced seaman who could be trusted at a pinch with almost anything.
He was a great confidant of Long John Silver, and so the mention of his name leads me on to speak of our ship’s cook, Barbecue, as the men called him.
Aboard ship he carried his crutch by a lanyard round his neck, to have both hands as free as possible. It was something to see him wedge the foot of the crutch against a bulkhead, and propped against it, yielding to every movement of the ship, get on with his cooking like someone safe ashore. Still more strange was it to see him in the heaviest of weather cross the deck. He had a line or two rigged up to help him across the widest spaces-Long John’s earrings, they were called; and he would hand himself from one place to another, now using the crutch, now trailing it alongside by the lanyard, as quickly as another man could walk. Yet some of the men who had sailed with him before expressed their pity to see him so reduced.
“He’s no common man, Barbecue,” said the coxswain to me. “He had good schooling in his young days and can speak like a book when so minded; and brave-a lion’s nothing alongside of Long John! I seen him grapple four and knock their heads together-him unarmed.”
All the crew respected and even obeyed him. He had a way of talking to each and doing everybody some particular service. To me he was unweariedly kind, and always glad to see me in the galley, which he kept as clean as a new pin, the dishes hanging up burnished and his parrot in a cage in one corner.
“Come away, Hawkins,” he would say; “come and have a yarn with John. Nobody more welcome than yourself, my son. Sit you down and hear the news. Here’s Cap’n Flint-I calls my parrot Cap’n Flint, after the famous buccaneer-here’s Cap’n Flint predicting success to our v’yage. Wasn’t you, Cap’n?”
And the parrot would say, with great rapidity, “Pieces of eight! Pieces of eight! Pieces of eight!” till you wondered that it was not out of breath, or till John threw his handkerchief over the cage.
“Now, that bird,” he would say, “is, maybe, two hundred years old, Hawkins-they live forever mostly; and if anybody’s seen more wickedness, it must be the devil himself. She’s sailed with England, the great Cap’n England, the pirate. She’s been at Madagascar, and at Malabar, and Surinam, and Providence, and Portobello. She was at the fishing up of the wrecked plate ships. It’s there she learned ‘Pieces of eight,’ and little wonder; three hundred and fifty thousand of ’em, Hawkins! She was at the boarding of the Viceroy of the Indies out of Goa, she was; and to look at her you would think she was a babby. But you smelt powder-didn’t you, Cap’n?”
“Stand by to go about,” the parrot would scream.
“Ah, she’s a handsome craft, she is,” the cook would say, and give her sugar from his pocket, and then the bird would peck at the bars and swear straight on, passing belief for wickedness. “There,” John would add, “you can’t touch pitch and not be mucked, lad. Here’s this poor old innocent bird o’ mine swearing blue fire, and none the wiser, you may lay to that. She would swear the same, in a manner of speaking, before chaplain.” And John would touch his forelock with a solemn way he had that made me think he was the best of men.
In the meantime, the squire and Captain Smollett were still on pretty distant terms with one another. The squire made no bones about the matter; he despised the captain. The captain, on his part, never spoke but when he was spoken to, and then sharp and short and dry, and not a word wasted. He owned, when driven into a corner, that he seemed to have been wrong about the crew, that some of them were as brisk as he wanted to see and all had behaved fairly well. As for the ship, he had taken a downright fancy to her. “She’ll lie a point nearer the wind than a man has a right to expect of his own married wife, sir. But,” he would add, “all I say is, we’re not home again, and I don’t like the cruise.”
The squire, at this, would turn away and march up and down the deck, chin in air.
“A trifle more of that man,” he would say, “and I shall explode.”
We had some heavy weather, which only proved the qualities of the Hispaniola. Every man on board seemed well content, and they must have been hard to please if they had been otherwise, for it is my belief there was never a ship’s company so spoiled since Noah put to sea. Double grog was going on the least excuse; there was duff on odd days, as, for instance, if the squire heard it was any man’s birthday, and always a barrel of apples standing broached in the waist for anyone to help himself that had a fancy.
“Never knew good come of it yet,” the captain said to Dr. Livesey. “Spoil forecastle hands, make devils. That’s my belief.”
But good did come of the apple barrel, as you shall hear, for if it had not been for that, we should have had no note of warning and might all have perished by the hand of treachery.
This was how it came about.
We had run up the trades to get the wind of the island we were after-I am not allowed to be more plain-and now we were running down for it with a bright lookout day and night. It was about the last day of our outward voyage by the largest computation; some time that night, or at latest before noon of the morrow, we should sight the Treasure Island. We were heading S.S.W. and had a steady breeze abeam and a quiet sea. The Hispaniola rolled steadily, dipping her bowsprit now and then with a whiff of spray. All was drawing alow and aloft; everyone was in the bravest spirits because we were now so near an end of the first part of our adventure.
Now, just after sundown, when all my work was over and I was on my way to my berth, it occurred to me that I should like an apple. I ran on deck. The watch was all forward looking out for the island. The man at the helm was watching the luff of the sail and whistling away gently to himself, and that was the only sound excepting the swish of the sea against the bows and around the sides of the ship.

In I got bodily into the apple barrel, and found there was scarce an apple left; but sitting down there in the dark, what with the sound of the waters and the rocking movement of the ship, I had either fallen asleep or was on the point of doing so when a heavy man sat down with rather a clash close by. The barrel shook as he leaned his shoulders against it, and I was just about to jump up when the man began to speak. It was Silver’s voice, and before I had heard a dozen words, I would not have shown myself for all the world, but lay there, trembling and listening, in the extreme of fear and curiosity, for from these dozen words I understood that the lives of all the honest men aboard depended upon me alone.