
XIX. Jim Hawkins tiếp tục câu chuyện: Đội quân đồn trú trong Pháo đài

Vừa thoáng thấy lá cờ tung bay, Ben Gunn đã đứng sững lại. Chú ta vội vã níu lấy tay tôi, lôi tôi ngồi sụp xuống đất che giấu tung tích.
"Này," chú ta thì thào, "kia chắc chắn là phe của cháu rồi."
"Cháu lại sợ đó là đám phản loạn thì đúng hơn," tôi đáp lời, lòng trĩu nặng hoài nghi.
"Nói bậy nào!" chú ta bật thốt. "Chà, ở cái xó xỉnh này, nơi chẳng có mống người nào lai vãng ngoại trừ những quý ngài sống đời hải tặc, thì thằng Silver kiểu gì chẳng giương toạt lá cờ Đầu Lâu Xương Chéo lên, cháu không việc gì phải lăn tăn chuyện đó. Không đâu, đấy đích thị là người nhà cháu. Chắc mẩm đã xảy ra một trận ác chiến, và theo chú thấy thì bạn bè cháu đang nắm thế thượng phong. Bọn họ hẳn đã đổ bộ lên bờ, trú ngự trong cái pháo đài cũ rích mà gã Flint dựng lên từ thuở nảo thuở nào. Chà, gã Flint quả là kẻ có cái đầu đầy sỏi! Ngoại trừ thói nát rượu ra, đố ai có thể sánh bằng tay lão. Lão nào biết sợ bố con thằng nào; họa chăng chỉ nể nang mỗi Silver-bởi Silver lúc nào cũng tỏ ra quá sức lịch thiệp."
"Vâng," tôi gật đầu, "chắc chú nói đúng, và cứ hy vọng là vậy đi. Thế thì cháu lại càng phải mau chóng chạy đến sát cánh cùng mọi người."
"Không đâu, anh bạn nhỏ ạ," Ben lắc đầu nguầy nguậy, "cháu không đi được đâu. Cháu quả là một cậu nhóc ngoan ngoãn, nếu chú không nhìn lầm; nhưng xét cho cùng, cháu vẫn chỉ là một cậu bé. Giờ thì, Ben Gunn này vốn khôn ngoan lõi đời. Có đem cả thùng rượu rum ra cám dỗ thì chú cũng chẳng đời nào mò đến cái nơi mà cháu định lao đầu vào đâu-rượu rum cũng bằng thừa, ít nhất là cho đến khi chú gặp được vị quý tộc đáng kính của cháu và nghe lời thề danh dự từ chính miệng ngài ấy. Còn cháu thì nhớ khắc tâm lời chú dặn: 'Một cảnh tượng vô giá1' (cháu phải nhắc y hệt vậy nhé), 'một cảnh tượng vô giá đem lại nhiều niềm tin hơn'-nói xong rồi nhéo ngài ấy một cái thật đau."
Và chú ta thẳng tay nhéo tôi lần thứ ba, vẻ mặt không giấu nổi sự đắc ý.
"Đến lúc nào cần tìm Ben Gunn, cháu biết phải đi đâu rồi đấy, Jim. Đúng ngay cái chỗ cháu đụng độ chú hôm nay. Và nhớ kỹ, người nào đến tìm chú thì trên tay phải cầm theo một vật màu trắng, và phải đi một mình. Ồ! Thêm nữa, cháu hãy nhắn nhủ thế này: 'Ben Gunn,' cháu cứ nói thế, 'có những lý do của riêng mình.'"
"Vâng," tôi đáp, "cháu nghĩ là cháu hiểu rồi. Chú đang ấp ủ một thỏa thuận, chú muốn gặp thẳng mặt điền chủ hoặc bác sĩ, và điểm hẹn là nơi cháu và chú vừa gặp nhau. Chỉ có thế thôi, đúng không ạ?"
"Thế cháu không định hỏi xem là lúc nào à?" chú ta sốt sắng dặn thêm. "Chà, từ lúc mặt trời đứng bóng cho tới khoảng sáu tiếng chuông2 nhé."
"Được rồi," tôi gật gù, "vậy bây giờ cháu đi được chưa?"
"Cháu sẽ không quên chứ?" chú ta lại bồn chồn hỏi vặn. "Cảnh tượng vô giá, và có những lý do của riêng mình, cháu phải nói y như thế. 'Lý do của riêng mình'; đấy mới là từ khóa cốt lõi; một lời hứa chắc nịch giữa những người đàn ông với nhau. Chà, nếu thế thì"-chú ta nới lỏng tay-"chú đoán là cháu đi được rồi đấy, Jim. Mà này, Jim, lỡ cháu có chạm trán thằng Silver, cháu sẽ không bán đứng Ben Gunn đâu nhỉ? Dù có dùng ngựa hoang phanh thây cũng không cạy miệng cháu được phải không? Không đâu, cháu nhớ nói như thế. Và nếu lũ cướp biển đó dám dựng trại trên bờ, Jim, cháu sẽ nói gì ngoài việc loan tin rằng sáng mai sẽ có thêm hàng tá góa phụ?"
Đúng lúc đó, một tiếng nổ đinh tai nhức óc bất thần cắt ngang lời chú. Một quả đạn pháo xé toạc tán cây, lao phầm phập xuống bãi cát cách chỗ chúng tôi đứng chưa đầy một trăm thước. Trong chớp mắt, cả hai cuống cuồng cắm đầu tháo chạy theo hai hướng ngược nhau.
Suốt một giờ đồng hồ sau đó, những tràng đại bác liên hồi làm rung chuyển cả hòn đảo, đạn pháo rít gầm xé gió bay rào rào qua những cánh rừng. Tôi thoắt ẩn thoắt hiện từ nơi trú ẩn này sang nơi trú ẩn khác, luôn miệng nơm nớp lo sợ những quả đạn đáng sợ kia đang rượt đuổi chính mình. Nhưng khi trận oanh tạc dần hạ nhiệt, dù vẫn không dám liều lĩnh tiến thẳng về phía pháo đài-nơi hứng chịu nhiều đạn pháo nhất-tôi đã lấy lại chút can đảm. Cất công đi một vòng thật xa về hướng đông, tôi khép mình men theo những rặng cây ven bờ biển mà trườn đi rón rén.
Mặt trời vừa khuất dạng, gió biển bắt đầu rì rào thổi luồn qua kẽ lá, gợn lên những nốt sóng lăn tăn trên mặt nước xám ngắt quanh bãi neo đậu. Thủy triều đã rút xa, phơi ra một bãi cát rộng mênh mông bát ngát. Bầu không khí, sau những giờ phút oi ả của ban ngày, giờ đây thấm đẫm một cái lạnh thấu xương xuyên qua lớp áo khoác.
Tàu Hispaniola vẫn nằm trơ trọi tại nơi thả neo; nhưng, quả không sai, cờ Đầu Lâu Xương Chéo-lá cờ đen chết chóc của bọn hải tặc-đang phần phật tung bay trên đỉnh cột buồm. Ngay lúc tôi dõi mắt nhìn, lại một tia chớp đỏ rực lóe lên, kéo theo đó là một tiếng nổ kinh hồn dội lại lách cách, và một quả đạn tròn nữa ré lên giữa không trung. Đó là phát đại bác khép lại cuộc vây ráp.
Tôi nằm yên tại chỗ một lúc lâu, âm thầm quan sát sự hỗn loạn diễn ra sau trận tấn công. Vài gã đàn ông đang vung rìu hì hục đập phá thứ gì đó trên bãi biển gần pháo đài-sau này tôi mới xót xa nhận ra đó chính là chiếc xuồng nhỏ tội nghiệp của chúng tôi. Xa xa về phía cửa sông, một đống lửa lớn bùng lên rực rỡ giữa những rặng cây. Ở khoảng giữa đống lửa và con tàu, một chiếc thuyền nhỏ cứ liên tục chạy đi chạy lại; những gã đàn ông mà trước đó tôi từng thấy mặt mày ủ rũ, giờ lại đang phấn khích hò hét bên mái chèo như những đứa trẻ ranh. Nhưng chen lẫn trong giọng nói ồm ồm của bọn chúng là cái hơi hướm lè nhè nặc mùi rượu rum.
Cuối cùng, tôi đoán chừng mình đã có thể an toàn quay lại hướng pháo đài. Tôi đã luồn lách khá xa xuống dải cát thấp bao quanh bãi neo đậu phía đông, nơi nối liền với Đảo Bộ Xương khi thủy triều mới rút phân nửa. Lúc đứng thẳng dậy, tôi bất chợt thu vào tầm mắt một tảng đá đơn độc vươn cao khỏi những bụi cây lúp xúp, mang màu trắng toát đặc trưng, nằm tít phía xa dọc theo bãi cát. Tôi khẽ mỉm cười nhận ra, đây hẳn là tảng đá trắng mà Ben Gunn đã nhắc đến; và tôi biết chắc, nếu một ngày nào đó cần đến chiếc thuyền, mình đã có sẵn điểm tìm kiếm trong đầu.
Sau đó, tôi lặng lẽ bám theo mép rừng cho đến khi vòng lại được phía sau, hay nói đúng hơn là mặt hướng bờ của pháo đài. Tại đây, tôi nhanh chóng được đội ngũ trung thành đón tiếp bằng một sự hân hoan không sao kể xiết.
Tôi liền kể lại toàn bộ câu chuyện của mình, đồng thời đưa mắt quan sát xung quanh. Ngôi nhà gỗ được dựng lên từ những thân thông nguyên vỏ sần sùi-từ mái nhà, những bức tường cho đến tận mặt sàn. Ở vài chỗ, sàn nhà được đôn cao hơn mặt cát đến cả thước hoặc thước rưỡi. Ngôi nhà có một mái hiên trước cửa. Ngay bên dưới mái hiên, một dòng suối nhỏ trào lên, tuôn nước vào một bể chứa nhân tạo mang hình thù khá kỳ lạ. Thực chất, đó chẳng qua là một chiếc vạc sắt khổng lồ của tàu biển bị đập thủng đáy, rồi được chôn vùi xuống cát "ngập đến tận vạch mớn nước3"-dùng đúng theo lời của thuyền trưởng.
Bên trong nhà trống hoác, chẳng có đồ đạc gì ngoài bộ khung gỗ. Dù vậy, ở một góc phòng có một phiến đá lớn được kê làm lò sưởi, kèm theo một chiếc giỏ sắt cũ kỹ, rỉ sét để đựng than củi.
Các sườn đồi và toàn bộ khoảng đất bên trong hàng rào pháo đài đều đã bị đốn sạch cây cối để lấy gỗ dựng nhà. Nhìn những gốc cây trơ trọi còn sót lại, chúng tôi đoán chắc rằng người ta đã tàn phá cả một khu rừng thưa tuyệt đẹp với những tán cây cao vút. Lớp đất màu mỡ phần lớn đã bị rửa trôi, hoặc bị chôn vùi dưới những đống đất đá ngổn ngang sau khi cây cối bị bật gốc. Chỉ riêng chỗ dòng suối nhỏ chảy tràn từ chiếc vạc ra, một thảm rêu rậm rạp xen lẫn vài cụm dương xỉ và những dây leo bé xíu vẫn kiên cường giữ lại được sắc xanh tươi mát giữa một vùng cát trắng. Sát ngay bên ngoài hàng rào pháo đài-một khoảng cách quá gần nên khó mà phòng thủ được, mọi người nhận xét thế-rừng cây vẫn mọc um tùm và sừng sững. Phía sâu trong đất liền toàn là thông, nhưng hướng quay ra biển lại có pha lẫn vô số những cây sồi xanh tốt.
Cơn gió biển buốt lạnh buổi chiều tà mà tôi từng nhắc đến bắt đầu rít gào qua từng kẽ hở của gian nhà thô sơ, không ngừng rắc xuống mặt sàn những trận mưa cát mịn. Cát bay xộc vào mắt, cát len lỏi vào từng kẽ răng, cát trộn lẫn vào bữa tối của chúng tôi. Cát còn nhảy múa xoáy tròn trong dòng suối đọng dưới đáy vạc, trông y hệt như một nồi cháo đang sôi sùng sục. Ống khói của chúng tôi thực chất chỉ là một cái lỗ vuông khoét trên mái nhà. Gió lùa xuống khiến cho khói lò sưởi chỉ có một phần nhỏ tìm được đường thoát ra ngoài; phần lớn khói lẩn quất, cuộn xoáy mịt mù khắp gian phòng, làm chúng tôi ho sặc sụa và cay xè hai mắt.
Thêm vào đó, Gray, người lính mới của chúng tôi, bị thương ở mặt do lãnh trọn một nhát chém trong lúc đào tẩu khỏi đám phiến loạn, giờ đang phải quấn băng gạc trắng toát. Và thi thể của lão Tom Redruth tội nghiệp thì vẫn chưa được chôn cất, nằm cứng đơ sát vách tường, đắp bên trên là lá cờ quốc kỳ Union Jack.
Nếu cứ ngồi không ủ rũ, có lẽ tất cả chúng tôi đều sẽ chìm nghỉm trong sự chán nản. Nhưng Thuyền trưởng Smollett tuyệt đối không bao giờ để chuyện đó xảy ra. Ông tập hợp tất cả lại và dứt khoát phân chia thành các phiên gác. Bác sĩ, Gray và tôi trực chung một ca; điền chủ, Hunter cùng Joyce trực ca còn lại. Mặc dù ai nấy đều đã mệt mỏi rã rời, hai người vẫn được cử đi kiếm củi; hai người khác được giao nhiệm vụ đào huyệt chôn cất Redruth. Bác sĩ được bổ nhiệm làm đầu bếp; tôi bị phân công đứng gác ngay trước cửa nhà. Còn bản thân thuyền trưởng thì không ngừng đi từ người này sang người khác, xốc lại tinh thần của cả nhóm và xắn tay áo lao vào giúp đỡ bất cứ việc gì cần thiết.
Thỉnh thoảng, bác sĩ lại bước ra cửa hóng chút khí trời và cho đôi mắt cay xè vì khói mù mịt được nghỉ ngơi. Lần nào cũng thế, bác luôn có vài lời muốn thủ thỉ cùng tôi.
"Cái ông Smollett đó," có lần bác sĩ lên tiếng, "là một người tài ba hơn cả ta. Và một khi ta đã nói thế, thì đó là một lời công nhận mang sức nặng rất lớn đấy, Jim ạ."
Một lần khác, bác sĩ bước ra rồi đứng lặng thinh một chốc. Kế đó, bác nghiêng đầu sang một bên, đưa mắt nhìn tôi.
"Tay Ben Gunn này liệu có phải là người phàm không?" bác sĩ dò hỏi.
"Cháu cũng chẳng rõ nữa, thưa bác sĩ," tôi đáp. "Cháu không dám chắc chú ấy có thực sự tỉnh táo hay không."
"Nếu cháu còn mảy may nghi ngờ về chuyện đó, thì anh ta hoàn toàn tỉnh táo đấy," bác sĩ quả quyết. "Jim ạ, một người đàn ông đã sống lay lắt ba năm trời ròng rã trên một hòn đảo hoang, chỉ biết ngồi gặm móng tay qua ngày, thì không thể trông mong anh ta giữ được dáng vẻ bình thường như cháu hay ta đâu. Chuyện đó là đi ngược lại với bản tính con người. Cháu bảo anh ta đang thèm thuồng phô mai có đúng không?"
"Dạ vâng, thưa bác sĩ, phô mai ạ," tôi nhanh nhảu đáp.
"Chà, Jim," bác sĩ gật gù, "hãy xem sự kén chọn trong chuyện ăn uống có thể mang lại ích lợi gì nhé. Cháu từng thấy hộp đựng thuốc lá bột của ta rồi chứ? Cháu cũng chưa bao giờ thấy ta hít thuốc, đơn giản là vì bên trong chiếc hộp đó, ta có cất giữ một miếng phô mai Parmesan4-một loại phô mai Ý vô cùng bổ dưỡng. Chà, miếng phô mai đó giờ sẽ là phần thưởng dành cho Ben Gunn!"
Trước lúc dùng bữa tối, chúng tôi chôn cất lão Tom dưới lớp cát lạnh. Mọi người đứng quây quần bên mộ ông một lát, đầu để trần mặc cho gió lộng thổi qua. Dù cả bọn đã gom được khá nhiều củi, nhưng bấy nhiêu vẫn chưa đủ làm thuyền trưởng hài lòng. Ông nhìn đống củi, khẽ lắc đầu rồi dặn dò: "Ngày mai các anh phải tiếp tục việc này khẩn trương hơn." Sau đó, khi mọi người đã lót dạ bằng món thịt lợn và cạn sạch ly rượu grog pha đặc, ba vị thủ lĩnh liền lui vào một góc để bàn tính viễn cảnh tương lai.

Dường như họ đang rơi vào bế tắc, chẳng biết phải xoay xở ra sao. Kho dự trữ đã cạn kiệt đến mức chắc chắn chúng tôi sẽ bị cơn đói khuất phục và phải đầu hàng từ rất lâu trước khi có bất kỳ ai đến ứng cứu. Theo những gì được bàn bạc, niềm hy vọng lớn nhất của chúng tôi lúc này là tiêu hao lực lượng hải tặc, ép chúng đến bước đường cùng, buộc chúng phải giương cờ trắng hoặc tháo chạy cùng con tàu Hispaniola. Đội ngũ của lũ chúng từ mười chín tên nay đã hao hụt chỉ còn mười lăm; hai kẻ đang mang thương tích, và ít nhất một tên - gã bị trúng đạn ngã gục ngay bên khẩu đại bác - nếu không chết thì cũng đã bị thương thập tử nhất sinh. Bất cứ khi nào có cơ hội nã đạn vào bọn chúng, chúng tôi đều không thể bỏ lỡ, đồng thời vẫn phải tự bảo vệ mạng sống của chính mình bằng sự cẩn trọng cao độ. Thêm vào đó, chúng tôi còn có hai đồng minh vô cùng đắc lực: rượu rum và thời tiết.
Về phần đồng minh thứ nhất, dù đang ở cách xa chúng chừng nửa dặm, chúng tôi vẫn nghe rõ mồn một tiếng bọn chúng gào thét và ca hát ầm ĩ cho tới tận đêm khuya. Về phần đồng minh thứ hai, bác sĩ sẵn sàng lấy bộ tóc giả của mình ra đánh cược rằng, vì bọn chúng cắm trại ngay vùng đầm lầy độc hại mà lại chẳng có lấy một viên thuốc phòng thân, nên chưa đầy một tuần nữa, quá nửa trong số chúng sẽ phải nằm liệt giường.
"Vậy nên," bác sĩ nói thêm, "nếu chúng ta không bị hạ gục trước, bọn chúng sẽ mừng rỡ vơ vét đồ đạc mà chuồn lên chiếc thuyền buồm dọc thôi. Dù sao thì đó vẫn là một con tàu, và ta đoán bọn chúng sẽ lại tiếp tục giương buồm làm hải tặc."
"Đó là con tàu đầu tiên mà ta từng đánh mất," Thuyền trưởng Smollett cất giọng xót xa.
Tôi đã mệt lả người, hẳn các vị cũng có thể mường tượng được. Và khi cơn buồn ngủ kéo đến, sau bao phen trằn trọc thao thức, cuối cùng tôi cũng thiếp đi, ngủ say như một khúc gỗ.
Những người còn lại đã thức dậy từ lâu. Họ không chỉ dùng xong bữa sáng mà còn kịp chất thêm đống củi cao gấp rưỡi ban đầu. Mãi đến lúc đó, tôi mới giật mình choàng tỉnh bởi những âm thanh ồn ào cùng tiếng người lao xao bàn tán.
"Cờ hưu chiến!" Tôi nghe thấy giọng ai đó cất lên; và rồi, ngay lập tức, một tiếng kêu đầy thảng thốt vang lên: "Đích thân Silver tới!"
Vừa nghe vậy, tôi bật phắt dậy, cuống cuồng dụi mắt rồi lao ngay đến một lỗ châu mai trên vách tường.
-
Trong tiếng Anh lóng thế kỷ 19, 'a precious sight' không mang nghĩa đen là 'cảnh tượng vô giá', mà là một thành ngữ nhấn mạnh ý 'rất nhiều' (a great deal). Lời dặn dò này thực chất có nghĩa là Ben Gunn 'cực kỳ đáng tin cậy'. ↩
-
Hệ thống báo giờ trên tàu biển xưa, chia thành các ca trực dài 4 tiếng. 'Sáu tiếng chuông' sau khi mặt trời đứng bóng (12 giờ trưa) tương đương với 3 giờ chiều. ↩
-
Đường ranh giới sơn trên vỏ tàu, cho biết thân tàu được phép chìm dưới nước đến mức nào để đảm bảo an toàn. Thuyền trưởng dùng từ chuyên ngành này để ví von việc chiếc vạc được chôn sâu một nửa dưới cát. ↩
-
Một loại phô mai cứng nổi tiếng của Ý. Do chứa rất ít nước, loại phô mai này có thể bảo quản lâu dài mà không bị hỏng, rất phù hợp làm nguồn dinh dưỡng quý giá trong những chuyến đi biển dài ngày thời xưa. ↩

XIX. Narrative Resumed by Jim Hawkins: The Garrison in the Stockade

s soon as Ben Gunn saw the colours he came to a halt, stopped me by the arm, and sat down.
“Now,” said he, “there’s your friends, sure enough.”
“Far more likely it’s the mutineers,” I answered.
“That!” he cried. “Why, in a place like this, where nobody puts in but gen’lemen of fortune, Silver would fly the Jolly Roger, you don’t make no doubt of that. No, that’s your friends. There’s been blows too, and I reckon your friends has had the best of it; and here they are ashore in the old stockade, as was made years and years ago by Flint. Ah, he was the man to have a headpiece, was Flint! Barring rum, his match were never seen. He were afraid of none, not he; on’y Silver-Silver was that genteel.”
“Well,” said I, “that may be so, and so be it; all the more reason that I should hurry on and join my friends.”
“Nay, mate,” returned Ben, “not you. You’re a good boy, or I’m mistook; but you’re on’y a boy, all told. Now, Ben Gunn is fly. Rum wouldn’t bring me there, where you’re going-not rum wouldn’t, till I see your born gen’leman and gets it on his word of honour. And you won’t forget my words; ‘A precious sight (that’s what you’ll say), a precious sight more confidence’-and then nips him.”
And he pinched me the third time with the same air of cleverness.
“And when Ben Gunn is wanted, you know where to find him, Jim. Just wheer you found him today. And him that comes is to have a white thing in his hand, and he’s to come alone. Oh! And you’ll say this: ‘Ben Gunn,’ says you, ‘has reasons of his own.’”
“Well,” said I, “I believe I understand. You have something to propose, and you wish to see the squire or the doctor, and you’re to be found where I found you. Is that all?”
“And when? says you,” he added. “Why, from about noon observation to about six bells.”
“Good,” said I, “and now may I go?”
“You won’t forget?” he inquired anxiously. “Precious sight, and reasons of his own, says you. Reasons of his own; that’s the mainstay; as between man and man. Well, then”-still holding me-“I reckon you can go, Jim. And, Jim, if you was to see Silver, you wouldn’t go for to sell Ben Gunn? Wild horses wouldn’t draw it from you? No, says you. And if them pirates camp ashore, Jim, what would you say but there’d be widders in the morning?”
Here he was interrupted by a loud report, and a cannonball came tearing through the trees and pitched in the sand not a hundred yards from where we two were talking. The next moment each of us had taken to his heels in a different direction.
For a good hour to come frequent reports shook the island, and balls kept crashing through the woods. I moved from hiding-place to hiding-place, always pursued, or so it seemed to me, by these terrifying missiles. But towards the end of the bombardment, though still I durst not venture in the direction of the stockade, where the balls fell oftenest, I had begun, in a manner, to pluck up my heart again, and after a long detour to the east, crept down among the shore-side trees.
The sun had just set, the sea breeze was rustling and tumbling in the woods and ruffling the grey surface of the anchorage; the tide, too, was far out, and great tracts of sand lay uncovered; the air, after the heat of the day, chilled me through my jacket.
The Hispaniola still lay where she had anchored; but, sure enough, there was the Jolly Roger-the black flag of piracy-flying from her peak. Even as I looked, there came another red flash and another report that sent the echoes clattering, and one more round-shot whistled through the air. It was the last of the cannonade.
I lay for some time watching the bustle which succeeded the attack. Men were demolishing something with axes on the beach near the stockade-the poor jolly-boat, I afterwards discovered. Away, near the mouth of the river, a great fire was glowing among the trees, and between that point and the ship one of the gigs kept coming and going, the men, whom I had seen so gloomy, shouting at the oars like children. But there was a sound in their voices which suggested rum.
At length I thought I might return towards the stockade. I was pretty far down on the low, sandy spit that encloses the anchorage to the east, and is joined at half-water to Skeleton Island; and now, as I rose to my feet, I saw, some distance further down the spit and rising from among low bushes, an isolated rock, pretty high, and peculiarly white in colour. It occurred to me that this might be the white rock of which Ben Gunn had spoken and that some day or other a boat might be wanted and I should know where to look for one.
Then I skirted among the woods until I had regained the rear, or shoreward side, of the stockade, and was soon warmly welcomed by the faithful party.
I had soon told my story and began to look about me. The log-house was made of unsquared trunks of pine-roof, walls, and floor. The latter stood in several places as much as a foot or a foot and a half above the surface of the sand. There was a porch at the door, and under this porch the little spring welled up into an artificial basin of a rather odd kind-no other than a great ship’s kettle of iron, with the bottom knocked out, and sunk “to her bearings,” as the captain said, among the sand.
Little had been left besides the framework of the house, but in one corner there was a stone slab laid down by way of hearth and an old rusty iron basket to contain the fire.
The slopes of the knoll and all the inside of the stockade had been cleared of timber to build the house, and we could see by the stumps what a fine and lofty grove had been destroyed. Most of the soil had been washed away or buried in drift after the removal of the trees; only where the streamlet ran down from the kettle a thick bed of moss and some ferns and little creeping bushes were still green among the sand. Very close around the stockade-too close for defence, they said-the wood still flourished high and dense, all of fir on the land side, but towards the sea with a large admixture of live-oaks.
The cold evening breeze, of which I have spoken, whistled through every chink of the rude building and sprinkled the floor with a continual rain of fine sand. There was sand in our eyes, sand in our teeth, sand in our suppers, sand dancing in the spring at the bottom of the kettle, for all the world like porridge beginning to boil. Our chimney was a square hole in the roof; it was but a little part of the smoke that found its way out, and the rest eddied about the house and kept us coughing and piping the eye.
Add to this that Gray, the new man, had his face tied up in a bandage for a cut he had got in breaking away from the mutineers and that poor old Tom Redruth, still unburied, lay along the wall, stiff and stark, under the Union Jack.
If we had been allowed to sit idle, we should all have fallen in the blues, but Captain Smollett was never the man for that. All hands were called up before him, and he divided us into watches. The doctor and Gray and I for one; the squire, Hunter, and Joyce upon the other. Tired though we all were, two were sent out for firewood; two more were set to dig a grave for Redruth; the doctor was named cook; I was put sentry at the door; and the captain himself went from one to another, keeping up our spirits and lending a hand wherever it was wanted.
From time to time the doctor came to the door for a little air and to rest his eyes, which were almost smoked out of his head, and whenever he did so, he had a word for me.
“That man Smollett,” he said once, “is a better man than I am. And when I say that it means a deal, Jim.”
Another time he came and was silent for a while. Then he put his head on one side, and looked at me.
“Is this Ben Gunn a man?” he asked.
“I do not know, sir,” said I. “I am not very sure whether he’s sane.”
“If there’s any doubt about the matter, he is,” returned the doctor. “A man who has been three years biting his nails on a desert island, Jim, can’t expect to appear as sane as you or me. It doesn’t lie in human nature. Was it cheese you said he had a fancy for?”
“Yes, sir, cheese,” I answered.
“Well, Jim,” says he, “just see the good that comes of being dainty in your food. You’ve seen my snuff-box, haven’t you? And you never saw me take snuff, the reason being that in my snuff-box I carry a piece of Parmesan cheese-a cheese made in Italy, very nutritious. Well, that’s for Ben Gunn!”
Before supper was eaten we buried old Tom in the sand and stood round him for a while bare-headed in the breeze. A good deal of firewood had been got in, but not enough for the captain’s fancy, and he shook his head over it and told us we “must get back to this tomorrow rather livelier.” Then, when we had eaten our pork and each had a good stiff glass of brandy grog, the three chiefs got together in a corner to discuss our prospects.

It appears they were at their wits’ end what to do, the stores being so low that we must have been starved into surrender long before help came. But our best hope, it was decided, was to kill off the buccaneers until they either hauled down their flag or ran away with the Hispaniola. From nineteen they were already reduced to fifteen, two others were wounded, and one at least-the man shot beside the gun-severely wounded, if he were not dead. Every time we had a crack at them, we were to take it, saving our own lives, with the extremest care. And besides that, we had two able allies-rum and the climate.
As for the first, though we were about half a mile away, we could hear them roaring and singing late into the night; and as for the second, the doctor staked his wig that, camped where they were in the marsh and unprovided with remedies, the half of them would be on their backs before a week.
“So,” he added, “if we are not all shot down first they’ll be glad to be packing in the schooner. It’s always a ship, and they can get to buccaneering again, I suppose.”
“First ship that ever I lost,” said Captain Smollett.
I was dead tired, as you may fancy; and when I got to sleep, which was not till after a great deal of tossing, I slept like a log of wood.
The rest had long been up and had already breakfasted and increased the pile of firewood by about half as much again when I was wakened by a bustle and the sound of voices.
“Flag of truce!” I heard someone say; and then, immediately after, with a cry of surprise, “Silver himself!”
And at that, up I jumped, and rubbing my eyes, ran to a loophole in the wall.