0054m

IV. Chiếc rương đi biển

9054m

Tất nhiên, con không hề chậm trễ kể hết cho mẹ nghe những gì mình biết, những chuyện lẽ ra con phải nói từ lâu. Hai mẹ con lập tức nhận ra mình đang rơi vào một tình thế cực kỳ nguy hiểm. Chắc chắn chúng con có quyền lấy lại phần nợ của mình từ số tiền của lão thuyền trưởng - nếu lão thực sự có tiền. Thế nhưng, bọn thủy thủ đồng đảng của lão, nhất là hai gã con từng chạm trán là Chó Đen và gã ăn mày mù, làm sao chịu để yên cho chúng con lấy chiến lợi phẩm của chúng để trừ nợ? Nếu làm theo lời dặn của thuyền trưởng là tức tốc cưỡi ngựa đi tìm bác sĩ Livesey, mẹ con sẽ phải ở lại một mình không ai bảo vệ. Đó là điều tuyệt đối không thể xảy ra. Thú thực, hai mẹ con cũng chẳng dám nán lại trong nhà thêm phút nào nữa. Ngay cả tiếng hòn than rụng xuống lò sưởi dưới bếp hay tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ cũng đủ làm chúng con thót tim. Ảo giác về những bước chân đang rình rập quanh xóm cứ văng vẳng bên tai. Nhìn cái xác của viên thuyền trưởng sõng soài trên sàn phòng khách, rồi lại nghĩ tới gã mù gớm ghiếc có thể quay lại bất cứ lúc nào, quả tình có lúc con đã sợ đến mức nhảy dựng cả người. Phải nhanh chóng đưa ra quyết định. Cuối cùng, hai mẹ con bàn nhau cùng trốn khỏi nhà, sang ngôi làng kế bên để tìm người giúp đỡ. Nói là làm. Bỏ mặc cả mũ nón, hai mẹ con cứ thế đầu trần lao ra ngoài giữa màn sương mù giá buốt của buổi hoàng hôn đang dần buông.

Ngôi làng ấy nằm cách quán trạm không xa, chỉ chừng vài trăm thước, khuất sau khúc vịnh kế tiếp. Điều khiến con an tâm hơn cả là nó nằm ở hướng ngược chiều với con đường gã mù đã xuất hiện và rời đi. Hai mẹ con rảo bước thật nhanh, dẫu thỉnh thoảng vẫn phải níu chặt lấy nhau, dừng lại dỏng tai nghe ngóng. Nhưng tuyệt nhiên chẳng có âm thanh nào bất thường - chỉ văng vẳng tiếng sóng vỗ rì rào khe khẽ và tiếng ếch nhái kêu râm ran từ bìa rừng.

Khi chúng con tới nơi, ngôi làng đã lên đèn. Con sẽ chẳng bao giờ quên được cảm giác trút bỏ được gánh nặng khi nhìn thấy những luồng ánh sáng vàng vọt hắt ra từ các khung cửa. Thế nhưng, hóa ra đó lại là sự an ủi duy nhất mà chúng con nhận được ở chốn này. Thật đáng xấu hổ cho những gã đàn ông ở đây - bởi chẳng một ai dám theo hai mẹ con quay lại quán trạm Admiral Benbow. Chúng con càng kể lể tình cảnh khốn cùng của mình, thì đám người kia, từ đàn ông, đàn bà đến trẻ nhỏ, lại càng trốn tịt vào nhà. Cái tên Thuyền trưởng Flint, dẫu còn xa lạ với con, lại là nỗi khiếp đảm ám ảnh tâm trí của không ít người trong làng. Không những thế, vài người đàn ông đi làm đồng tít phía xa bên kia quán trạm còn nhớ lại việc họ từng chạm trán vài kẻ lạ mặt trên đường. Lúc đó, họ cứ ngỡ đám người kia là bọn buôn lậu nên đã vắt chân lên cổ bỏ chạy thục mạng. Ít nhất cũng có một người quả quyết đã nhìn thấy một chiếc thuyền buồm nhỏ neo đậu ở khu Hang Kitt1. Tựu trung lại, chỉ cần nghe đến đồng bọn của lão thuyền trưởng cũng đủ khiến bọn họ sợ xanh mắt mèo. Cuối cùng, hai mẹ con chỉ nhờ được vài người tình nguyện cưỡi ngựa chạy đi tìm bác sĩ Livesey ở một hướng khác, còn tuyệt nhiên chẳng một ai dám vác mặt đến bảo vệ quán trạm.

Người ta thường bảo sự hèn nhát rất dễ lây lan, thế nhưng, ở một khía cạnh khác, những lý lẽ đanh thép lại là liều thuốc trợ lực tuyệt vời cho lòng can đảm. Sau khi thấy đám dân làng xì xầm đùn đẩy nhau, mẹ con bèn dõng dạc lên tiếng. Mẹ tuyên bố dứt khoát sẽ không để mất số tiền lẽ ra thuộc về đứa con mồ côi cha của mình. "Nếu trong số các người không một ai dám," mẹ quả quyết, "thì Jim và tôi dám. Chúng tôi sẽ quay trở lại đúng con đường lúc nãy, và chẳng cần phải cậy nhờ gì tới các người, hỡi những gã đàn ông to xác, lực lưỡng mà nhát như cáy. Chúng tôi sẽ mở cái rương đó ra, dẫu có phải bỏ mạng. Và bà Crossley, tôi xin mượn cái túi kia để mang số tiền hợp pháp của chúng tôi về!"

Tất nhiên, con lập tức nói sẽ theo mẹ, và đám người kia thì thi nhau la ó, can ngăn sự liều lĩnh của hai mẹ con. Nhưng trớ trêu thay, đến tận phút chót vẫn chẳng có bóng nam nhi nào dám bước ra đi cùng chúng con. Tất cả những gì họ chịu làm là dúi vào tay con một khẩu súng lục đã nạp sẵn đạn để phòng thân, hứa sẽ chuẩn bị sẵn vài con ngựa đã thắng yên cương để chúng con kịp tẩu thoát nếu bị truy đuổi. Cùng lúc đó, một gã thanh niên cũng nhảy lên ngựa, phóng đi tìm bác sĩ để gọi người mang vũ trang tới ứng cứu.

Tim tôi đập thình thịch khi hai mẹ con bước vào màn đêm giá lạnh, dấn thân vào một cuộc mạo hiểm đầy rủi ro. Phía trên cao, một vầng trăng tròn vành vạnh đang dần ló rạng, hắt thứ ánh sáng đỏ ối xuyên qua màn sương mù dày đặc. Cảnh tượng ấy càng thúc giục chúng tôi bước đi vội vã hơn. Cứ đà này, chẳng mấy chốc mọi thứ sẽ sáng rõ như ban ngày, và nếu phải ra ngoài thêm lần nữa, sự vắng mặt của chúng tôi sẽ phơi bày trước con mắt tò mò của bất kỳ kẻ nào đang rình rập. Hai mẹ con cắm cúi men theo bờ rào, bước đi thoăn thoắt trong câm lặng. Thật may là chúng tôi không bắt gặp hay nghe thấy bất kỳ âm thanh đáng sợ nào dọc đường. Mãi cho đến khi cánh cửa quán trạm Admiral Benbow khép chặt lại sau lưng, hai mẹ con mới dám thở phào nhẹ nhõm.

Tôi lập tức chốt chặt cửa. Hai mẹ con đứng thở hổn hển trong bóng tối tĩnh lặng, trơ trọi giữa ngôi nhà cùng cái xác vô hồn của viên thuyền trưởng. Lát sau, mẹ với lấy một ngọn nến ở quầy rượu. Hai mẹ con nắm chặt tay nhau, dò dẫm từng bước tiến vào phòng khách. Ông ta vẫn nằm bất động y như lúc chúng tôi rời đi, gương mặt ngửa hẳn lên trần nhà, đôi mắt mở trừng trừng vô hồn và một cánh tay vẫn dang rộng ra.

"Kéo rèm xuống đi, Jim," mẹ thì thầm; "bọn chúng có thể mò đến và nhòm ngó từ bên ngoài. Và bây giờ," mẹ tiếp lời khi tôi vừa buông rèm, "chúng ta phải lấy được chiếc chìa khóa từ người đó; nhưng mẹ cũng không biết ai sẽ dám chạm vào ông ta đây!" Vừa dứt lời, mẹ khẽ nấc lên một tiếng nghẹn ngào.

Tôi lập tức quỳ gối xuống sàn. Ngay gần tay ông ta là một mảnh giấy tròn nhỏ xíu, một mặt được bôi đen xì. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, đó đích thị là vệt đen;2 và khi tôi nhặt nó lên, mặt kia lộ ra một dòng chữ rất đẹp và nắn nót, ghi vỏn vẹn một thông điệp ngắn gọn: "Ông có thời gian đến mười giờ đêm nay."

"Ông ta có thời gian đến mười giờ, mẹ ạ," tôi khẽ thưa. Vừa dứt lời, chiếc đồng hồ cũ kỹ trong nhà bắt đầu điểm những tiếng chuông vang vọng. Âm thanh đột ngột ấy khiến cả hai mẹ con giật thót mình kinh hãi; nhưng đó lại là một tin tốt lành, bởi bây giờ mới chỉ sáu giờ tối.

"Bây giờ thì, Jim," mẹ giục, "mau lấy chìa khóa đi con."

Tôi rụt rè lục lọi hết túi áo này đến túi quần khác của ông ta. Vài đồng tiền lẻ, một chiếc đê khâu, một ít chỉ cùn cùng mấy cây kim to bản, một mẩu thuốc lá nhai cắn dở ở đầu, con dao găm chuôi cong quen thuộc, một chiếc la bàn bỏ túi và một hộp đánh lửa. Tất cả những gì có trong túi chỉ vỏn vẹn chừng ấy, khiến tôi bắt đầu chìm trong nỗi tuyệt vọng.

"Có khi ông ta đeo nó trên cổ đấy," mẹ gợi ý.

Gạt đi cảm giác ghê tởm tột độ đang dâng lên, tôi xé toạc nếp áo sơ mi nơi cổ ông ta. Quả đúng như vậy! Lủng lẳng trên một đoạn dây bện hắc ín là chiếc chìa khóa mà chúng tôi đang tìm kiếm. Tôi dùng chính con dao găm của viên thuyền trưởng để cắt đứt sợi dây. Món chiến lợi phẩm nhỏ bé này khiến cả hai mẹ con lại tràn trề hy vọng. Không chần chừ thêm một giây phút nào, chúng tôi vội vã chạy tót lên căn phòng nhỏ tĩnh lặng - nơi ông ta đã ngủ vùi suốt một thời gian dài, và cũng là nơi cất giấu chiếc rương bí ẩn kể từ ngày ông ta mới đặt chân đến.

Nhìn từ bên ngoài, nó cũng chẳng khác mấy so với những chiếc rương đi biển của đám thủy thủ thông thường. Chữ "B" được in hằn trên nắp rương bằng một thanh sắt nung đỏ, còn các góc thì sứt mẻ, mòn vẹt như thể đã phải chịu bao quăng quật phũ phàng qua năm tháng dãi dầu.

"Đưa chìa khóa cho mẹ," mẹ con bảo. Dù ổ khóa rít bưng và han gỉ, mẹ vẫn xoay xở vặn được chìa và lật bật nắp rương lên chỉ trong nháy mắt.

Một mùi thuốc lá trộn lẫn hắc ín nồng nặc sộc thẳng ra từ bên trong. Nằm trên cùng là một bộ quần áo đắt tiền, được chải chuốt cẩn thận và xếp nếp vô cùng ngay ngắn. Mẹ con bảo chắc hẳn bộ đồ này chưa từng được mặc qua lần nào. Bên dưới lớp quần áo ấy, đủ thứ đồ lỉnh kỉnh thi nhau lộ diện - một chiếc thước đo góc, một cái ca thiếc, vài thỏi thuốc lá, hai cặp súng lục chạm trổ tuyệt đẹp, một thỏi bạc, một chiếc đồng hồ Tây Ban Nha cũ rích, cùng dăm ba món trang sức ngoại quốc lặt vặt rẻ tiền, một chiếc la bàn bọc đồng, và năm sáu vỏ ốc Tây Ấn3 kỳ lạ. Mãi đến tận sau này, con vẫn thường băn khoăn không hiểu vì sao lão ta lại khư khư mang theo những chiếc vỏ ốc ấy giữa một cuộc đời nay đây mai đó, ngập ngụa tội lỗi và luôn bị săn đuổi.

Tuy nhiên, nãy giờ tìm mãi mà chúng con vẫn chẳng thấy thứ gì có giá trị, ngoài thỏi bạc và mớ trang sức kia - vốn chẳng phải là thứ chúng con đang cần. Nằm khuất bên dưới là một chiếc áo choàng đi biển cũ sờn, loang lổ vết muối kết tủa trắng toát từ vô số bến cảng. Mẹ con sốt ruột kéo phắt chiếc áo lên. Cuối cùng, phơi bày ra trước mắt chúng con ở tận đáy rương là một bọc được gói ghém bằng vải sơn - trông có vẻ như chứa toàn giấy tờ - cùng một chiếc túi bằng vải bạt, hễ chạm vào là phát ra tiếng leng keng giòn giã của những đồng tiền vàng.

"Mẹ sẽ cho lũ vô lại đó thấy mẹ là một người đàn bà lương thiện," mẹ con quả quyết. "Mẹ sẽ chỉ lấy đúng phần nợ của mình, không dư dù chỉ một xu. Cầm cái túi của bà Crossley ra đây." Dứt lời, mẹ bắt đầu đếm tiền nợ của tay thuyền trưởng, trút từ chiếc túi của gã sang chiếc túi con đang cầm.

0059m

Đây quả là một công việc tốn thời gian và đầy nhọc nhằn, bởi đống tiền xu trong túi đến từ đủ mọi quốc gia với vô vàn kích cỡ - từ đồng doubloon4, louis d’ors5, đồng guinea6, cho đến cả những đồng bạc "mảnh tám" (pieces of eight)7, và con cũng chẳng biết còn loại nào khác nữa, tất thảy đều bị trộn lẫn lộn vào nhau. Oái oăm thay, đồng guinea lại là loại khan hiếm nhất trong túi, mà mẹ con thì lại chỉ biết cách tính toán với mỗi loại tiền này.

Khi hai mẹ con mới đếm được chừng phân nửa số tiền, con chợt đặt tay lên cánh tay mẹ. Trong không gian tĩnh lặng lạnh lẽo của màn sương giá, con bỗng nghe thấy một âm thanh khiến tim mình như muốn nhảy thót ra khỏi lồng ngực - tiếng lộc cộc cất lên từ cây gậy của gã mù đang gõ nhịp trên mặt đường đóng băng. Âm thanh ấy mỗi lúc một gần hơn, trong khi hai mẹ con chỉ biết ngồi im nín thở. Rồi tiếng gậy gõ mạnh vào cánh cửa quán trạm. Chúng con nghe rõ tiếng tay nắm cửa bị vặn xoay, tiếng chốt cửa kêu lách cách khi cái sinh vật quái gở ấy cố sức lách vào; và tiếp đó là một khoảng lặng dài đến rợn người, tĩnh mịch cả trong lẫn ngoài. Cuối cùng, tiếng gậy lại vang lên, và trong niềm vui sướng cùng sự biết ơn khôn tả của hai mẹ con, âm thanh ấy cứ nhỏ dần rồi chìm hẳn vào hư vô.

"Mẹ ơi," con giục, "gom hết lại rồi mình đi thôi." Con dám chắc cánh cửa bị chốt chặt từ bên trong kia hẳn sẽ khơi dậy sự nghi ngờ và sớm muộn gì cũng kéo cả một bầy ong vò vẽ hung hãn bu quanh hai mẹ con. Dẫu vậy, con vẫn thầm cảm tạ trời đất vì mình đã kịp thời cài chốt cửa; một cảm giác hú vía mà có lẽ chẳng ai hiểu thấu, nếu chưa từng một lần đụng độ với gã mù đáng sợ kia.

Thế nhưng mẹ con, dẫu đang run rẩy sợ hãi, vẫn kiên quyết không mảy may lấy thừa dù chỉ một xu so với số tiền thuộc về mình, và cũng dứt khoát không chịu cầm ít hơn phần nợ ấy. Mẹ bảo lúc này vẫn chưa đến bảy giờ tối; mẹ biết rõ quyền lợi của mình và mẹ sẽ lấy cho bằng đủ. Và ngay lúc mẹ còn đang mải tranh cãi với con, một tiếng huýt sáo trầm đục, khe khẽ chợt vang lên từ đằng xa tít trên ngọn đồi. Chừng đó thôi là đã đủ, thậm chí là quá sức chịu đựng với cả hai mẹ con rồi.

"Mẹ sẽ lấy chỗ tiền này thôi," mẹ nói rồi bật người đứng dậy.

"Còn con sẽ lấy thứ này để bù cho đủ phần thiếu," con đáp lời, tiện tay nhặt luôn cái bọc bằng vải sơn lên.

Ngay giây phút tiếp theo, hai mẹ con lảo đảo mò mẫm bước xuống lầu, bỏ lại ngọn nến le lói bên cạnh chiếc rương trống rỗng; và chỉ một chớp mắt sau đó, chúng con đã tung cửa, vắt chân lên cổ mà tháo chạy thục mạng. Quả thật, chúng con rời đi chẳng sớm chút nào. Lớp sương mù đang tản đi nhanh chóng; vầng trăng đã tỏa ánh sáng vằng vặc xuống những gò đất cao ở hai bên đường. Giờ đây, chỉ còn lơ thơ một màn sương mỏng chưa kịp tan lẩn khuất dưới đáy thung lũng và quanh cửa quán trạm, miễn cưỡng che giấu những bước chân đầu tiên trong cuộc đào tẩu của hai mẹ con. Mới chạy được chưa đầy nửa quãng đường tới làng, vừa qua khỏi chân đồi một đoạn ngắn, chúng con thừa biết mình chắc chắn sẽ bị phơi bày dưới ánh trăng. Đó chưa phải là tất cả, bởi tiếng những bước chân rầm rập đang chạy xộc tới đã dội thẳng vào tai chúng con. Khi hai mẹ con hoảng hốt ngoái nhìn lại, một luồng sáng đung đưa qua lại và lao đi vun vút trong đêm báo hiệu rằng có kẻ nào đó trong đám người mới đến đang cầm theo đèn lồng.

"Con yêu," mẹ con chợt lên tiếng, "cầm lấy tiền rồi mau chạy đi con. Mẹ sắp ngất mất rồi."

Đây chắc chắn là dấu chấm hết cho cả hai mẹ con rồi, con thầm nghĩ. Lòng con sôi sục oán thán sự hèn nhát của những người hàng xóm; con cũng không khỏi trách móc người mẹ đáng thương của mình vì sự thật thà cứng nhắc, vì sự liều lĩnh dại dột lúc nãy cũng như sự yếu ớt ngay lúc này! Nhưng thật may mắn làm sao, chúng con vừa vặn chạy tới chiếc cầu nhỏ. Trong lúc mẹ đang lảo đảo chực ngã, con vội đỡ lấy mẹ dìu tới sát mép bờ. Ngay tại đó, mẹ trút một tiếng thở dài thườn thượt rồi gục hẳn vào vai con. Con chẳng hiểu nổi mình đào đâu ra sức mạnh để làm được điều đó, và con cũng e rằng mình đã hơi thô bạo, nhưng con đã cố gắng hết sức để lôi mẹ xuống bờ mương và chui tọt vào một đoạn ngắn bên dưới vòm cầu. Xa hơn nữa thì con đành bất lực chẳng thể dịch chuyển mẹ thêm được phân nào, vì gầm cầu quá thấp, con chẳng thể làm gì khác ngoài việc chống tay bò trườn bên dưới. Vậy là hai mẹ con đành phải chôn chân tại đó - mẹ con gần như phơi mình ra ngoài, và cả hai chúng con đều nằm lọt thỏm trong tầm nghe của quán trạm.



  1. "Kitt's Hole" (Hang Kitt) là một bến đỗ hoang vắng ven bờ biển, thường được bọn buôn lậu hoặc hải tặc thời xưa sử dụng làm nơi neo đậu tàu thuyền và cất giấu hàng hóa bí mật để tránh ánh mắt của chính quyền. 

  2. "Vệt đen" (The Black Spot) là một biểu tượng hư cấu do tác giả Robert Louis Stevenson sáng tạo ra trong tiểu thuyết này, tượng trưng cho bản án tử hình hoặc lời cảnh báo cuối cùng của giới hải tặc dành cho kẻ phản bội. 

  3. "Tây Ấn" (West Indies) là tên gọi cũ của vùng biển Caribê và các quần đảo lân cận. Đây từng là trung tâm hoạt động khét tiếng của giới hải tặc vào thế kỷ 17 và 18. 

  4. Doubloon là đồng tiền vàng có mệnh giá lớn của Đế quốc Tây Ban Nha. Do sức mạnh thương mại của Tây Ban Nha thời bấy giờ, đồng tiền này lưu hành rộng rãi trên toàn cầu và thường là mục tiêu cướp bóc của hải tặc. 

  5. Louis d'or (Đồng Louis vàng) là đồng tiền vàng tiêu chuẩn của Pháp thời phong kiến, được đúc từ thời Vua Louis XIII. Tên gọi này xuất phát từ việc đồng tiền có khắc hình ảnh của các vị vua Pháp tên Louis. 

  6. Guinea là đồng tiền vàng của Anh được sử dụng từ thế kỷ 17. Tên gọi này bắt nguồn từ vùng Guinea ở Tây Phi, nơi cung cấp phần lớn lượng vàng dùng để đúc loại tiền này. 

  7. "Pieces of eight" (Đồng 8 real) là đồng tiền bạc phổ biến nhất của Đế quốc Tây Ban Nha. Nó thường được cắt thành tám mảnh hình chiếc bánh để thối lại tiền lẻ, và là biểu tượng đặc trưng nhất khi nhắc đến kho báu hải tặc.