
XXXI. Cuộc truy tìm kho báu - Kim chỉ nam của Flint

"Jim à," Silver cất lời khi chỉ còn lại hai chúng tôi, "nếu bác cứu mạng cháu, thì cháu cũng vừa cứu mạng bác; và bác sẽ không bao giờ quên điều đó. Bác thoáng thấy bác sĩ vẫy tay gọi cháu chạy đi - chỉ qua khóe mắt thôi, nhưng bác nhìn rõ mồn một. Và bác cũng thấy cháu lắc đầu từ chối, rõ như ban ngày vậy. Jim, đây là một điểm sáng cho cháu đấy. Đây là tia hy vọng đầu tiên bác nhen nhóm được kể từ lúc cuộc tấn công đổ vỡ, và bác mang ơn cháu. Còn bây giờ, Jim, chúng ta sẽ lao vào cuộc truy tìm kho báu này, mang theo cả những mệnh lệnh hãy còn niêm phong, dù bác chẳng khoái gì chuyện đó. Cháu và bác phải dính chặt lấy nhau, tựa lưng vào nhau mà chiến đấu, và chúng ta sẽ giữ lấy mạng sống của mình mặc cho số phận hay xui rủi có ra sao."
Ngay lúc đó, tiếng một gã từ phía đống lửa vọng lại, báo rằng bữa sáng đã dọn xong. Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã ngồi rải rác trên bãi cát, nhẩn nha nhai bánh quy và thịt khô rán. Đám hải tặc đã nhóm lên một đống lửa to đủ để thui nguyên cả con bò, và giờ thì nó hừng hực nóng đến mức chúng chỉ dám mon men lại gần từ phía đầu gió, mà ngay cả thế cũng phải dè chừng. Vẫn với thói hoang phí ấy, tôi đồ rằng chúng đã nấu lượng thức ăn nhiều gấp ba lần sức ăn của cả bọn. Một gã cười rỗng tuếch, thẳng tay ném luôn phần thức ăn thừa vào ngọn lửa, khiến ngọn lửa lại bùng lên lách tách ngấu nghiến món mồi ngon dị hợm. Cả đời tôi chưa từng thấy lũ người nào sống bất cần ngày mai đến vậy. "Bóc ngắn cắn dài"1 là cụm từ duy nhất có thể lột tả cách hành xử của chúng. Nhìn đám thức ăn bị phung phí và đám lính gác ngủ gà ngủ gật, dẫu biết chúng liều mạng trong một trận đánh chớp nhoáng, tôi vẫn thấy rõ sự yếu kém hoàn toàn của chúng nếu phải bước vào một chiến dịch dài hơi.
Ngay cả Silver, dù đang nhồm nhoàm nhai thức ăn với con vẹt Flint đậu vắt vẻo trên vai, cũng chẳng hé nửa lời quở trách sự bừa bãi của đám thuộc hạ. Điều này càng làm tôi kinh ngạc, bởi tôi luôn nghĩ lão ta chưa bao giờ để lộ sự ranh ma của mình rõ ràng như lúc này.
"Chà, các anh em," lão lên tiếng, "thật là phúc đức cho các cậu khi có Barbecue này dùng cái đầu suy nghĩ thay cho các cậu. Ta đã có thứ ta cần. Bọn chúng đã cuỗm mất con tàu, điều đó là chắc chắn. Chúng giấu nó ở cái xó xỉnh nào thì ta chưa rõ, nhưng một khi moi được kho báu lên, chúng ta sẽ cày xới hòn đảo này để tìm ra nó. Và rồi, anh em ạ, hễ có tàu trong tay, ta tin chắc phần thắng sẽ thuộc về chúng ta."
Lão cứ thế tía lia không ngừng, miệng vẫn nhai trệu trạo đầy thịt xông khói nóng hổi; lão đang dần vực lại niềm hy vọng và sự tự tin của đám tay sai, và tôi thậm chí còn ngờ vực rằng, chính vào lúc ấy, lão cũng đang tự trấn an chính mình.
"Còn về phần con tin," lão nói tiếp, "ta e đây là lần cuối cùng nó được chuyện trò với những kẻ nó hằng thương mến. Ta đã nắm được thông tin từ nó, và ta phải gửi lời cảm ơn nó vì chuyện đó; nhưng giờ thì xong rồi. Ta sẽ trói nghiến nó lại bằng một sợi dây khi chúng ta đi lấy kho báu, vì chúng ta phải canh giữ nó như giữ vàng vậy, đề phòng bất trắc, các cậu nhớ lấy. Còn trong lúc chờ đợi, một khi chúng ta tóm được cả tàu lẫn kho báu và giương buồm ra khơi như những người anh em vui vẻ, thì khi ấy, chúng ta sẽ thanh toán sòng phẳng với ngài Hawkins đây, chắc chắn là thế, và chúng ta sẽ chia cho nó một phần xứng đáng với lòng tốt của nó."
Chẳng trách sao lúc này tâm trạng bọn chúng lại hỉ hả đến vậy. Về phần mình, tôi cảm thấy một nỗi chán chường tột độ bủa vây. Nếu kế hoạch lão vừa vạch ra có cơ may thành sự thật, Silver - kẻ đã hai lần mang danh phản trắc - sẽ chẳng chút ngần ngại mà thi hành nó. Lão vẫn đang chơi trò bắt cá hai tay, và hiển nhiên lão sẽ nghiêng về sự giàu có và tự do cùng đám hải tặc hơn là việc thoát khỏi giá treo cổ trong gang tấc - niềm hy vọng mong manh nhất mà lão có thể cầu xin từ phe chúng tôi.
Không, và ngay cả khi tình thế ép buộc lão phải giữ lời giao ước với bác sĩ Livesey, thì lúc đó mối nguy hiểm kinh hoàng nào đang rình rập chúng tôi! Khoảnh khắc đó sẽ ra sao khi mối hoài nghi của đám tay sai trở thành sự thật, và lão cùng tôi sẽ phải liều mạng chiến đấu - một lão già thọt chân và một đứa trẻ ranh - để chống lại năm tên thủy thủ vạm vỡ và tinh ranh!
Đè nặng lên nỗi lo âu nhân đôi ấy là bức màn bí ẩn vẫn bao phủ hành tung của những người bạn tôi: việc họ bỏ lại pháo đài mà chẳng để lại lấy một lời giải thích, việc họ giao nộp tấm bản đồ một cách khó hiểu, và khó hiểu hơn cả là lời cảnh báo cuối cùng của bác sĩ dành cho Silver: "Hãy coi chừng giông tố khi anh tìm thấy nó." Hẳn bạn sẽ hiểu vì sao tôi chẳng còn bụng dạ nào mà nuốt trôi bữa sáng, và mang theo một trái tim thấp thỏm nhường nào khi cất bước theo chân những kẻ bắt cóc mình lao vào cuộc truy tìm kho báu.
Chúng tôi tạo thành một đội hình thật kỳ dị, giá như có ai đó vô tình chứng kiến - tất thảy đều vận những bộ đồ thủy thủ cáu bẩn, và ai nấy, ngoại trừ tôi, đều trang bị vũ khí đến tận răng. Silver giắt hai khẩu súng - một phía trước, một phía sau - cùng với thanh đoản kiếm to bản bên thắt lưng, và mỗi túi của chiếc áo khoác đuôi tôm2 lại giấu thêm một khẩu súng lục. Để điểm xuyết thêm cho cái vẻ ngoài kỳ quặc ấy, thuyền trưởng Flint đậu chễm chệ trên vai lão, không ngừng liến thoắng những câu từ hàng hải chắp vá đến vô nghĩa. Tôi bị trói một sợi dây quanh eo, ngoan ngoãn lê bước theo gã đầu bếp trên biển, người đang hờ hững cầm đầu dây kia, khi thì bằng tay không, lúc lại nghiến chặt bằng hàm răng rắn chắc của mình. Trông tôi chẳng khác nào một con gấu đang làm trò tiêu khiển.

Những gã còn lại mang vác đủ thứ đồ nghề lỉnh kỉnh. Vài kẻ vác cuốc và xẻng - bởi đó là những vật dụng thiết yếu đầu tiên chúng mang lên bờ từ chiếc Hispaniola - những gã khác thì khệ nệ với thịt heo muối, bánh mì và rượu brandy để chuẩn bị cho bữa trưa. Mọi vật dụng dự trữ, theo tôi quan sát, đều được lấy từ kho của chúng tôi. Qua đó, tôi có thể thấu rõ sự thật trong những lời Silver thốt ra đêm qua. Nếu lão không đạt được thỏa thuận với bác sĩ, thì lão cùng đám phản loạn, khi bị bỏ mặc cùng con tàu, chắc chắn sẽ bị dồn vào đường cùng, phải sống vất vưởng bằng nước lã và săn bắn thú hoang. Nước lã thì chẳng hề hợp khẩu vị bọn chúng; một gã thủy thủ thường chẳng mấy khi là một tay súng cừ khôi; và hơn nữa, khi đã thiếu thốn lương thực đến mức ấy, thì chẳng có cớ gì chúng lại dư dả đạn dược.
Thế là, với đầy đủ trang bị, tất cả chúng tôi bắt đầu lên đường. Ngay cả gã hải tặc bị toạc đầu, người lẽ ra phải được nằm nghỉ ngơi nơi bóng râm, cũng gắng gượng bám theo. Từng người một rải rác tiến ra bãi biển, nơi hai chiếc thuyền nhỏ đang chực chờ. Những chiếc thuyền này cũng mang đậm dấu ấn say xỉn điên rồ của bọn chúng: một chiếc bị gãy thanh ván ngang, và cả hai đều lép nhép bùn lầy cáu bẩn, chẳng ai buồn tát nước. Dù vậy, chúng tôi vẫn kéo theo cả hai để phòng hờ bất trắc. Sau khi chia đều quân số lên thuyền, chúng tôi rẽ sóng lướt đi trên mặt nước khu vực neo đậu.
Vừa chèo thuyền, cả bọn vừa tranh cãi sôi nổi về tấm bản đồ. Dấu thập đỏ hiển nhiên là quá lớn để làm mốc chỉ đường chính xác; trong khi những dòng chữ ghi chú ở mặt sau lại ẩn chứa vài điểm mơ hồ, như các bạn hẳn còn nhớ:
Cây cao, sườn núi Ống Nhòm, hướng mũi về phía Bắc của Bắc Đông Bắc.
Đảo Đầu Lâu Đông Đông Nam và lệch về Đông.
Mười feet.
Một "cây cao" nào đó chính là cột mốc quan trọng nhất. Ngay trước mắt chúng tôi lúc này, khu vực neo đậu được bao bọc bởi một cao nguyên rộng lớn vươn lên từ hai đến ba trăm feet. Phía bắc của nó nối liền với sườn nam dốc thoải của ngọn Ống Nhòm, trong khi phía nam lại trồi lên thành một dải đồi đá lởm chởm, gồ ghề mang tên Đồi Cột Buồm Mizzen. Đỉnh cao nguyên được bao phủ bởi một rừng thông rậm rạp với đủ mọi độ cao. Cứ cách một quãng, lại có một thân cây khác loài vươn lên kiêu hãnh, cao hơn hẳn những cây xung quanh chừng bốn mươi hay năm mươi feet. Rốt cuộc đâu mới là "cây cao" thực sự mà thuyền trưởng Flint nhắc tới? Điều đó chỉ có thể xác định được khi đứng tận nơi và dùng la bàn để đo đạc.
Thế nhưng, bất chấp thực tế ấy, những gã hải tặc trên thuyền đều tự nhắm lấy một cái cây ưng ý cho riêng mình khi mới đi được nửa đường. Chỉ có Long John là nhún vai, bảo bọn chúng cứ đợi đến nơi rồi hãy hay.
Chúng tôi chèo tà tà theo chỉ thị của Silver để không bị rã rời tay chân quá sớm. Sau một chuyến đi khá dài, cả bọn cập bến tại cửa con sông thứ hai - dòng nước chảy dọc theo một hẻm núi rợp bóng cây của ngọn Ống Nhòm. Từ điểm đó, chúng tôi rẽ trái, bắt đầu leo lên sườn dốc để hướng về phía cao nguyên.
Chặng đầu tiên thực sự chật vật. Nền đất nhão nhoét bùn lầy cùng đám dây leo đầm lầy chằng chịt đã ngốn không ít thời gian và làm chậm đáng kể tiến độ của cả bọn. Nhưng dần dà, sườn đồi trở nên dốc hơn, mặt đất dưới chân cũng khô ráo và lạo xạo sỏi đá. Khung cảnh khu rừng dần thay đổi, cây cối cũng thưa thớt hẳn đi. Trùng hợp thay, khu vực chúng tôi đang tiến tới lại là một trong những nơi dễ chịu nhất của hòn đảo. Những bụi cây chổi tỏa hương thơm ngát rải rác đan xen với vô số khóm hoa dại, gần như thay thế hoàn toàn những bạt cỏ gai góc. Đó đây, những bụi nhục đậu khấu xanh mướt mọc xen lẫn bên thân cây đỏ au và bóng râm rộng lớn của rừng thông. Hương gia vị nồng nàn quyện vào mùi nhựa thông ngai ngái, tạo nên một mùi thơm vô cùng sảng khoái. Không khí ở đây trong vắt và tràn trề sức sống; dưới những tia nắng nhảy múa rực rỡ, mọi giác quan của chúng tôi như được bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài.
Cả nhóm tỏa ra theo hình dẻ quạt, vừa đi vừa la hét và nhảy nhót khắp nơi. Lùi lại tít phía sau, ở đoạn giữa đội hình, là Silver và tôi lầm lũi bước đi. Tôi bị trói chặt bằng dây thừng, còn lão thì thở hồng hộc, khó nhọc lê từng bước chân nặng trĩu trên những lớp đá sỏi trơn trượt. Lắm lúc, tôi quả thực phải đưa tay ra đỡ, bằng không lão ta chắc chắn đã trượt ngã lăn cù xuống chân đồi.
Chúng tôi hành quân như thế được chừng nửa dặm và đang tiến sát mép cao nguyên thì gã đi bìa cùng bên trái bỗng hét thất thanh, như thể vừa gặp phải điều kinh hoàng. Hắn hét hết tràng này đến tràng khác, khiến đám còn lại vội vàng đổ xô về phía hắn.
"Không phải nó tìm thấy kho báu đâu," lão Morgan nói, vội thò tay sang lôi chúng tôi sang bên phải, "bởi vì kho báu nằm tít trên đỉnh cơ."
Quả đúng như vậy, khi chúng tôi đuổi tới nơi, thứ bày ra trước mắt hoàn toàn là một cảnh tượng khác. Dưới gốc một cây thông lực lưỡng, lọt thỏm giữa đám dây leo chằng chịt - thứ thậm chí đã quấn lấy và nhấc bổng vài mẩu xương nhỏ lên - là một bộ xương người nằm sóng soài trên mặt đất, vương vãi vài mảnh giẻ rách. Trong khoảnh khắc ấy, tôi tin chắc sự ớn lạnh đã luồn lách qua trái tim của từng người.
"Đó là một tay thủy thủ," George Merry, gã gan dạ hơn cả trong đám, vừa bước lại gần săm soi những mảnh vải tả tơi vừa lên tiếng. "Ít nhất thì đây cũng là thứ vải thô đi biển."
"Đúng, đúng," Silver hùa theo; "rất có thể; ta đoán cậu cũng chẳng mong tìm thấy một vị giám mục ở chốn này đâu. Nhưng đám xương xẩu kia nằm kiểu gì thế nhỉ? Thật chẳng bình thường chút nào."
Quả thực, khi nhìn kỹ lại lần nữa, ai cũng thấy tư thế của cái xác này không thể nào là tự nhiên được. Dù có đôi chỗ bị xáo trộn (chắc hẳn là do lũ chim rỉa xác hoặc do đám dây leo mọc chậm chạp đã quấn lấy di hài ông ta), người đàn ông này vẫn nằm thẳng tắp - hai chân khép lại chỉ về một hướng, hai tay giương cao qua đầu như thế của một người thợ lặn, chỉ thẳng về phía đối diện.
"Cái đầu già nua ngốc nghếch của ta vừa nảy ra một ý," Silver nheo mắt quan sát. "La bàn đây; đỉnh nhọn của đảo Đầu Lâu nằm đằng kia kìa, nhô lên lởm chởm như một cái răng. Cậu làm ơn đo phương vị3 dọc theo đường thẳng của những khúc xương kia xem sao."
Gã cướp biển làm theo lời lão. Cái xác chỉ thẳng tắp về hướng hòn đảo, và la bàn chỉ đúng hướng Đông Đông Nam lệch Đông4.
"Ta đã đoán thế mà," gã đầu bếp ồ lên; "cái thây này chính là một vật chỉ đường. Dọc theo đường thẳng đó là hướng để chúng ta tìm đến chòm sao Bắc Đẩu5 và những đồng đô la vui vẻ. Nhưng, có sấm sét làm chứng! Ta cứ sởn gai ốc khi nghĩ về Flint. Đây đích thị là một trong những trò đùa bệnh hoạn của hắn, không trượt đi đâu được. Hắn và sáu tay này đã ở trên đảo một mình; hắn đã ra tay, giết sạch từng người một; còn tên này thì bị kéo đến tận đây, đặt nằm ngay ngắn làm la bàn chỉ đường, thật rợn người! Xương gã này dài ngoẵng, tóc lại còn vàng nữa chứ. Ái chà, hẳn phải là Allardyce rồi. Cậu còn nhớ tay Allardyce không, Tom Morgan?"
"Nhớ, nhớ chứ," Morgan rụt rè đáp lời; "tôi nhớ hắn; hắn còn nợ tôi tiền, đúng thế, vả lại hắn còn cuỗm luôn con dao của tôi lên bờ."
"Nhắc đến dao," một tên khác xen vào, "sao ta không thấy dao của hắn rơi rớt quanh đây nhỉ? Flint đâu phải cái ngữ bòn mót lục túi tử thi; và tôi cũng đoán chắc lũ chim sẽ chẳng thèm rỉa đến cục sắt đó."
"Thề có trời, cậu nói đúng đấy!" Silver gật gù kêu lên.
"Chẳng còn sót lại cái gì sất," Merry lẩm bẩm trong lúc tiếp tục lần mò quanh bộ xương; "không một đồng cắc, chẳng có cả hộp đựng thuốc lá. Việc này có vẻ mờ ám quá."
"Ừ, quỷ thần ơi, đúng thế," Silver đồng tình; "chẳng bình thường, cũng chả hay ho gì, cậu nói phải đấy. Chúa ơi! Này các anh em, nếu Flint mà còn sống, thì đây sẽ là một chốn tà môn cho tất thảy chúng ta. Bọn chúng từng có sáu người, chúng ta cũng vừa vặn sáu người; và giờ thì chúng chỉ còn là những đống xương mục."
"Chính mắt tôi đã thấy hắn tắt thở," Morgan rùng mình nói. "Billy đã dẫn tôi vào. Hắn nằm chết cứng, với hai đồng xu chèn trên mắt."
"Chết - ừ, chắc mẩm là hắn đã chết và mồ yên mả đẹp rồi," gã cướp biển quấn băng đầu run rẩy lên tiếng; "nhưng nếu trên đời có loại linh hồn hiện về, thì chắc chắn đó phải là oan hồn của Flint. Lạy Chúa, Flint đã chết một cái chết thật khủng khiếp!"
"Đúng vậy," một kẻ khác góp lời; "hắn hết lên cơn điên lại gào thét đòi rượu rum, rồi có lúc thì nghêu ngao hát hò. 'Mười lăm Người'6 là bài tủ duy nhất của hắn, các cậu ạ; và nói thật với các cậu, từ dạo ấy đến nay tôi chưa bao giờ thấy lọt tai bài đó nữa. Hôm ấy trời nóng như đổ lửa, cửa sổ mở toang hoác, và tôi nghe thấy cái bài điệu buồn nẫu ruột ấy văng vẳng ra rành rọt - ngay giữa lúc tử thần đang lôi cổ hắn xuống địa ngục."
"Thôi nào, thôi nào," Silver chậc lưỡi; "dẹp ba cái chuyện vớ vẩn này đi. Hắn chết ngắc rồi, và hắn chẳng hiện hồn về đâu, ta biết thừa điều đó; ít ra thì hắn cũng không dám rảo bước giữa ban ngày ban mặt đâu, các cậu cứ tin chắc như thế. Hơi đâu mà lo bò trắng răng. Tiến lên tìm những đồng doubloon thôi."
Vậy là chúng tôi lại lên đường; nhưng mặc cho cái nắng rát da chói lòa và ánh sáng ban ngày rực rỡ, lũ cướp biển không còn dám tản ra rồi hò hét ầm ĩ băng qua khu rừng như trước. Chúng co cụm đi sát cạnh nhau, to nhỏ bàn tán bằng những giọng thì thào, thì thụt nín thở. Nỗi kinh hoàng về tên hải tặc quá cố đã bao trùm lấy tinh thần của bọn chúng.
-
Thành ngữ chỉ lối sống thiếu tính toán, tiêu xài hoang phí phần đang có mà không biết lo xa, dự phòng cho tương lai. Ở đây ám chỉ việc đám hải tặc phung phí thức ăn trong khi lương thực trên đảo rất hạn hẹp. ↩
-
Loại áo khoác nam sang trọng xuất hiện từ cuối thế kỷ 18, có vạt áo phía trước cắt ngắn và hai vạt dài phía sau trông như đuôi chim én. Việc một gã hải tặc như Silver mặc loại áo này tạo nên vẻ ngoài vừa kệch cỡm vừa nguy hiểm. ↩
-
Thuật ngữ hàng hải và địa lý chỉ góc hướng của một đường thẳng hay mục tiêu so với hướng Bắc của la bàn. Ở đây, Silver yêu cầu đo góc hướng của bộ xương để xác định đường đi tới kho báu. ↩
-
Cách gọi hướng la bàn chi tiết trong hàng hải cổ (tiếng Anh: East-South-East by East). Đây là hướng nằm giữa Đông Đông Nam và Đông, cho thấy sự tỉ mỉ cần thiết khi định vị trên biển hoặc đánh dấu kho báu. ↩
-
Chòm sao luôn chỉ hướng Bắc. Các thủy thủ xưa luôn dùng nó làm mốc chuẩn để xác định phương hướng khi đi biển vào ban đêm. ↩
-
Ám chỉ bài hát của giới hải tặc "Fifteen Men on the Dead Man's Chest" (Mười lăm người trên chiếc rương của người chết). Bài hát này thường gắn liền với rượu rum và cái chết, gợi lên không khí rùng rợn của bọn cướp biển. ↩

XXXI. The Treasure-hunt-Flint’s Pointer

im,” said Silver when we were alone, “if I saved your life, you saved mine; and I’ll not forget it. I seen the doctor waving you to run for it-with the tail of my eye, I did; and I seen you say no, as plain as hearing. Jim, that’s one to you. This is the first glint of hope I had since the attack failed, and I owe it you. And now, Jim, we’re to go in for this here treasure-hunting, with sealed orders too, and I don’t like it; and you and me must stick close, back to back like, and we’ll save our necks in spite o’ fate and fortune.”
Just then a man hailed us from the fire that breakfast was ready, and we were soon seated here and there about the sand over biscuit and fried junk. They had lit a fire fit to roast an ox, and it was now grown so hot that they could only approach it from the windward, and even there not without precaution. In the same wasteful spirit, they had cooked, I suppose, three times more than we could eat; and one of them, with an empty laugh, threw what was left into the fire, which blazed and roared again over this unusual fuel. I never in my life saw men so careless of the morrow; hand to mouth is the only word that can describe their way of doing; and what with wasted food and sleeping sentries, though they were bold enough for a brush and be done with it, I could see their entire unfitness for anything like a prolonged campaign.
Even Silver, eating away, with Captain Flint upon his shoulder, had not a word of blame for their recklessness. And this the more surprised me, for I thought he had never shown himself so cunning as he did then.
“Aye, mates,” said he, “it’s lucky you have Barbecue to think for you with this here head. I got what I wanted, I did. Sure enough, they have the ship. Where they have it, I don’t know yet; but once we hit the treasure, we’ll have to jump about and find out. And then, mates, us that has the boats, I reckon, has the upper hand.”
Thus he kept running on, with his mouth full of the hot bacon; thus he restored their hope and confidence, and, I more than suspect, repaired his own at the same time.
“As for hostage,” he continued, “that’s his last talk, I guess, with them he loves so dear. I’ve got my piece o’ news, and thanky to him for that; but it’s over and done. I’ll take him in a line when we go treasure-hunting, for we’ll keep him like so much gold, in case of accidents, you mark, and in the meantime. Once we got the ship and treasure both and off to sea like jolly companions, why then we’ll talk Mr. Hawkins over, we will, and we’ll give him his share, to be sure, for all his kindness.”
It was no wonder the men were in a good humour now. For my part, I was horribly cast down. Should the scheme he had now sketched prove feasible, Silver, already doubly a traitor, would not hesitate to adopt it. He had still a foot in either camp, and there was no doubt he would prefer wealth and freedom with the pirates to a bare escape from hanging, which was the best he had to hope on our side.
Nay, and even if things so fell out that he was forced to keep his faith with Dr. Livesey, even then what danger lay before us! What a moment that would be when the suspicions of his followers turned to certainty and he and I should have to fight for dear life-he a cripple and I a boy-against five strong and active seamen!
Add to this double apprehension the mystery that still hung over the behaviour of my friends, their unexplained desertion of the stockade, their inexplicable cession of the chart, or harder still to understand, the doctor’s last warning to Silver, “Look out for squalls when you find it,” and you will readily believe how little taste I found in my breakfast and with how uneasy a heart I set forth behind my captors on the quest for treasure.
We made a curious figure, had anyone been there to see us-all in soiled sailor clothes and all but me armed to the teeth. Silver had two guns slung about him-one before and one behind-besides the great cutlass at his waist and a pistol in each pocket of his square-tailed coat. To complete his strange appearance, Captain Flint sat perched upon his shoulder and gabbling odds and ends of purposeless sea-talk. I had a line about my waist and followed obediently after the sea-cook, who held the loose end of the rope, now in his free hand, now between his powerful teeth. For all the world, I was led like a dancing bear.

The other men were variously burthened, some carrying picks and shovels-for that had been the very first necessary they brought ashore from the Hispaniola-others laden with pork, bread, and brandy for the midday meal. All the stores, I observed, came from our stock, and I could see the truth of Silver’s words the night before. Had he not struck a bargain with the doctor, he and his mutineers, deserted by the ship, must have been driven to subsist on clear water and the proceeds of their hunting. Water would have been little to their taste; a sailor is not usually a good shot; and besides all that, when they were so short of eatables, it was not likely they would be very flush of powder.
Well, thus equipped, we all set out-even the fellow with the broken head, who should certainly have kept in shadow-and straggled, one after another, to the beach, where the two gigs awaited us. Even these bore trace of the drunken folly of the pirates, one in a broken thwart, and both in their muddy and unbailed condition. Both were to be carried along with us for the sake of safety; and so, with our numbers divided between them, we set forth upon the bosom of the anchorage.
As we pulled over, there was some discussion on the chart. The red cross was, of course, far too large to be a guide; and the terms of the note on the back, as you will hear, admitted of some ambiguity. They ran, the reader may remember, thus:
Tall tree, Spy-glass shoulder, bearing a point to the N. of N.N.E.
Skeleton Island E.S.E. and by E.
Ten feet.
A tall tree was thus the principal mark. Now, right before us the anchorage was bounded by a plateau from two to three hundred feet high, adjoining on the north the sloping southern shoulder of the Spy-glass and rising again towards the south into the rough, cliffy eminence called the Mizzenmast Hill. The top of the plateau was dotted thickly with pine-trees of varying height. Every here and there, one of a different species rose forty or fifty feet clear above its neighbours, and which of these was the particular “tall tree” of Captain Flint could only be decided on the spot, and by the readings of the compass.
Yet, although that was the case, every man on board the boats had picked a favourite of his own ere we were half-way over, Long John alone shrugging his shoulders and bidding them wait till they were there.
We pulled easily, by Silver’s directions, not to weary the hands prematurely, and after quite a long passage, landed at the mouth of the second river-that which runs down a woody cleft of the Spy-glass. Thence, bending to our left, we began to ascend the slope towards the plateau.
At the first outset, heavy, miry ground and a matted, marish vegetation greatly delayed our progress; but by little and little the hill began to steepen and become stony under foot, and the wood to change its character and to grow in a more open order. It was, indeed, a most pleasant portion of the island that we were now approaching. A heavy-scented broom and many flowering shrubs had almost taken the place of grass. Thickets of green nutmeg-trees were dotted here and there with the red columns and the broad shadow of the pines; and the first mingled their spice with the aroma of the others. The air, besides, was fresh and stirring, and this, under the sheer sunbeams, was a wonderful refreshment to our senses.
The party spread itself abroad, in a fan shape, shouting and leaping to and fro. About the centre, and a good way behind the rest, Silver and I followed-I tethered by my rope, he ploughing, with deep pants, among the sliding gravel. From time to time, indeed, I had to lend him a hand, or he must have missed his footing and fallen backward down the hill.
We had thus proceeded for about half a mile and were approaching the brow of the plateau when the man upon the farthest left began to cry aloud, as if in terror. Shout after shout came from him, and the others began to run in his direction.
“He can’t ’a found the treasure,” said old Morgan, hurrying past us from the right, “for that’s clean a-top.”
Indeed, as we found when we also reached the spot, it was something very different. At the foot of a pretty big pine and involved in a green creeper, which had even partly lifted some of the smaller bones, a human skeleton lay, with a few shreds of clothing, on the ground. I believe a chill struck for a moment to every heart.
“He was a seaman,” said George Merry, who, bolder than the rest, had gone up close and was examining the rags of clothing. “Leastways, this is good sea-cloth.”
“Aye, aye,” said Silver; “like enough; you wouldn’t look to find a bishop here, I reckon. But what sort of a way is that for bones to lie? ’Tain’t in natur’.”
Indeed, on a second glance, it seemed impossible to fancy that the body was in a natural position. But for some disarray (the work, perhaps, of the birds that had fed upon him or of the slow-growing creeper that had gradually enveloped his remains) the man lay perfectly straight-his feet pointing in one direction, his hands, raised above his head like a diver’s, pointing directly in the opposite.
“I’ve taken a notion into my old numbskull,” observed Silver. “Here’s the compass; there’s the tip-top p’int o’ Skeleton Island, stickin’ out like a tooth. Just take a bearing, will you, along the line of them bones.”
It was done. The body pointed straight in the direction of the island, and the compass read duly E.S.E. and by E.
“I thought so,” cried the cook; “this here is a p’inter. Right up there is our line for the Pole Star and the jolly dollars. But, by thunder! If it don’t make me cold inside to think of Flint. This is one of his jokes, and no mistake. Him and these six was alone here; he killed ’em, every man; and this one he hauled here and laid down by compass, shiver my timbers! They’re long bones, and the hair’s been yellow. Aye, that would be Allardyce. You mind Allardyce, Tom Morgan?”
“Aye, aye,” returned Morgan; “I mind him; he owed me money, he did, and took my knife ashore with him.”
“Speaking of knives,” said another, “why don’t we find his’n lying round? Flint warn’t the man to pick a seaman’s pocket; and the birds, I guess, would leave it be.”
“By the powers, and that’s true!” cried Silver.
“There ain’t a thing left here,” said Merry, still feeling round among the bones; “not a copper doit nor a baccy box. It don’t look nat’ral to me.”
“No, by gum, it don’t,” agreed Silver; “not nat’ral, nor not nice, says you. Great guns! Messmates, but if Flint was living, this would be a hot spot for you and me. Six they were, and six are we; and bones is what they are now.”
“I saw him dead with these here deadlights,” said Morgan. “Billy took me in. There he laid, with penny-pieces on his eyes.”
“Dead-aye, sure enough he’s dead and gone below,” said the fellow with the bandage; “but if ever sperrit walked, it would be Flint’s. Dear heart, but he died bad, did Flint!”
“Aye, that he did,” observed another; “now he raged, and now he hollered for the rum, and now he sang. ‘Fifteen Men’ were his only song, mates; and I tell you true, I never rightly liked to hear it since. It was main hot, and the windy was open, and I hear that old song comin’ out as clear as clear-and the death-haul on the man already.”
“Come, come,” said Silver; “stow this talk. He’s dead, and he don’t walk, that I know; leastways, he won’t walk by day, and you may lay to that. Care killed a cat. Fetch ahead for the doubloons.”
We started, certainly; but in spite of the hot sun and the staring daylight, the pirates no longer ran separate and shouting through the wood, but kept side by side and spoke with bated breath. The terror of the dead buccaneer had fallen on their spirits.