
XXII. Chuyến Phiêu Lưu Trên Biển Của Tôi Bắt Đầu Thế Nào

Bọn phản loạn lặn mất tăm-từ bìa rừng tuyệt nhiên không vọng lại thêm một tiếng súng nào nữa. Chúng đã "nhận đủ khẩu phần cho ngày hôm nay1," đúng như lời thuyền trưởng nói. Chúng tôi hoàn toàn làm chủ pháo đài và có một khoảng thời gian yên tĩnh để chăm sóc những người bị thương cũng như chuẩn bị bữa tối. Ngài địa chủ và tôi nhận nhiệm vụ nấu nướng bên ngoài phòng tuyến. Dù đã ở ngoài trời, hai bác cháu vẫn khó lòng tập trung vào công việc, bởi những tiếng rên la đầy đau đớn từ các bệnh nhân của bác sĩ cứ vọng ra khiến chúng tôi không khỏi rùng mình kinh hãi.
Trong số tám người gục ngã sau trận hỗn chiến, chỉ còn ba người thoi thóp thở-đó là tên hải tặc trúng đạn ngay lỗ châu mai, chú Hunter, và thuyền trưởng Smollett. Đáng buồn thay, hai người đầu tiên coi như đã nắm chắc phần chết. Tên phản loạn trút hơi thở cuối cùng ngay dưới lưỡi dao phẫu thuật của bác sĩ. Còn chú Hunter, dẫu chúng tôi có dốc lòng chạy chữa đến đâu, cũng vĩnh viễn chẳng thể tỉnh lại trên cõi đời này nữa. Chú nằm thoi thóp suốt cả ngày, hơi thở khò khè nhọc nhằn hệt như lão hải tặc già khi trước trong cơn đột quỵ. Cú đánh ác hiểm đã làm xương ngực chú vỡ nát, hộp sọ cũng nứt toác vì ngã đập đầu xuống đất. Rồi vào một thời khắc nào đó trong đêm, không một tiếng động hay dấu hiệu báo trước, chú lẳng lặng buông xuôi để về với Chúa.
Về phần thuyền trưởng, vết thương của ông quả thật rất trầm trọng, song may mắn thay lại không đe dọa đến tính mạng. Chẳng có cơ quan nội tạng nào bị tổn thương chí mạng. Phát đạn của Anderson-gã Job nổ súng vào ông đầu tiên-đã làm vỡ xương bả vai và sượt qua một bên phổi, nhưng tình hình chưa đến nỗi tồi tệ; viên đạn thứ hai thì chỉ xé toạc và làm chệch một vài bó cơ ở bắp chân. Bác sĩ khẳng định ông chắc chắn sẽ bình phục. Dù vậy, trong lúc chờ đợi, và ít nhất là nhiều tuần sắp tới, ông không được phép đi lại hay cử động cánh tay, đồng thời phải tuyệt đối kiệm lời nếu không thực sự cần thiết.
Vết xước do lưỡi dao xẹt ngang đốt ngón tay tôi xem ra chỉ như một vết muỗi đốt. Bác sĩ Livesey cẩn thận đắp cao dán cho tôi, chẳng quên tiện tay véo tai tôi một cái rõ đau.
Dùng xong bữa tối, ngài địa chủ và bác sĩ nán lại bên giường thuyền trưởng một lát để cùng nhau hội ý. Khi họ đã bàn bạc xong xuôi thì trời mới vừa quá bóng trưa. Bác sĩ điềm nhiên lấy mũ và súng ngắn, giắt một thanh gươm ngang hông, nhét tấm bản đồ vào túi áo, rồi vác khẩu súng hỏa mai lên vai, lẳng lặng trèo qua hàng rào cọc tùng ở phía bắc, thoăn thoắt rảo bước vào cánh rừng sâu thẳm.
Lúc ấy, chú Gray và tôi đang ngồi sát vai nhau tít ở góc xa của pháo đài để tránh vô tình nghe lén các sĩ quan bàn bạc. Chú Gray sững sờ đến độ rút luôn tẩu thuốc ra khỏi miệng mà quên bẵng việc ngậm lại, trố mắt kinh ngạc trước cảnh tượng này.
"Nhân danh Davy Jones2," chú lẩm bẩm, "bác sĩ Livesey điên rồi sao?"
"Không đâu chú," tôi quả quyết đáp. "Cháu nghĩ bác sĩ là người tỉnh táo nhất trong cái nhóm này đấy."
"Chà, cậu bạn thuyền ạ," chú Gray thở dài, "có thể ông ấy không điên; nhưng nếu ông ấy mà không điên thì, cậu cứ ghi nhớ lời tôi, chính tôi mới là kẻ phát điên mất rồi."
"Cháu lại đoán là," tôi nhỏ giọng đáp lại, "bác sĩ đang có một kế hoạch của riêng mình; và nếu cháu đoán không lầm, ông ấy đang lên đường đi tìm Ben Gunn đấy."
Diễn biến sau này đã chứng minh tôi đúng. Nhưng lúc bấy giờ, khi căn nhà gỗ nóng hầm hập ngột ngạt và bãi cát chật hẹp bên trong hàng rào như đang bốc cháy dưới cái nắng trưa thiêu đốt, trong đầu tôi lại nảy sinh một ý nghĩ khác, một ý nghĩ hoàn toàn sai lầm. Tôi bắt đầu tị nạnh với bác sĩ, người đang thong dong tản bộ dưới bóng râm mát rượi của khu rừng, xung quanh là tiếng chim hót ríu rít và hương thông thơm ngát. Còn tôi lại phải ngồi đây, nướng mình trong cái nóng bức bối, quần áo dính dấp nhựa thông bỏng rát. Quanh tôi, những vũng máu lênh láng và xác chết rải rác khắp nơi gợi lên một nỗi kinh tởm tột độ, mãnh liệt chẳng kém gì sự sợ hãi.
Trong suốt lúc cọ rửa pháo đài rồi dọn dẹp đồ đạc sau bữa tối, cảm giác ghê tởm và ghen tị ấy cứ len lỏi, lớn dần lên. Cho đến cuối cùng, nhân lúc quanh quẩn cạnh túi bánh quy mà không ai để ý, tôi đã dấn bước đầu tiên cho cuộc đào tẩu của mình bằng cách nhét đầy bánh quy vào hai bên túi áo khoác.
Có lẽ bạn sẽ cho tôi là một gã ngốc, và quả thực tôi đang chuẩn bị làm một chuyện ngớ ngẩn và quá đỗi liều lĩnh. Thế nhưng, tôi vẫn quyết tâm thực hiện kế hoạch bằng tất cả sự cẩn trọng vốn có. Những chiếc bánh quy này, dẫu có chuyện gì bất trắc xảy ra, ít ra cũng giúp tôi cầm cự khỏi chết đói cho đến tận ngày hôm sau.
Thứ tiếp theo tôi vơ lấy là một cặp súng ngắn. Vốn đã mang sẵn bên mình chiếc sừng đựng thuốc súng và đạn chì, tôi cảm thấy bản thân đã được trang bị vô cùng tươm tất.
Nói về kế hoạch đang ấp ủ trong đầu, thực ra đó chẳng phải là một ý kiến tồi. Tôi định men xuống dải cát ngăn cách bãi neo đậu phía đông với biển khơi, tìm kiếm tảng đá trắng mà tôi đã để mắt từ tối hôm trước. Tôi muốn xác minh xem liệu Ben Gunn có giấu chiếc thuyền nhỏ của ông ta ở đó hay không. Tôi vẫn luôn tin rằng đây là một việc hoàn toàn xứng đáng để đánh liều. Dù vậy, vì chắc mẩm mình sẽ không đời nào được phép rời khỏi hàng rào, cách duy nhất của tôi là lẳng lặng chuồn êm, lẻn ra ngoài lúc chẳng ai chú ý. Đó thực sự là một nước đi tồi tệ, biến hành động của tôi thành một lỗi lầm tai hại. Nhưng lúc ấy, tôi chỉ là một cậu nhóc bồng bột, và tôi đã hạ quyết tâm rồi.
Chà, cơ hội tuyệt vời cuối cùng cũng gõ cửa. Ngài địa chủ và chú Gray đang lúi húi giúp thuyền trưởng quấn băng gạc, xung quanh chẳng có ai cản bước. Lợi dụng thời cơ, tôi phóng vụt qua hàng rào, lao thẳng vào chốn rừng rậm um tùm nhất. Và trước khi có ai kịp nhận ra sự vắng mặt của tôi, tôi đã chạy xa khỏi tầm gọi của những người đồng hành.
Đó là sự ngu ngốc thứ hai của tôi, một quyết định tồi tệ hơn lần trước rất nhiều, bởi tôi đã bỏ lại phía sau chỉ đúng hai người đàn ông khỏe mạnh để canh gác căn nhà gỗ. Nhưng, cũng giống như lần trước, sự rồ dại ấy hóa ra lại góp phần cứu mạng tất cả chúng tôi.
Tôi nhắm thẳng hướng bờ đông của hòn đảo mà tiến bước, quyết tâm men theo dải cát quay mặt ra đại dương để tránh bị đám người ở khu neo đậu dòm ngó. Trời lúc này đã về chiều, song nắng vẫn rải những vạt vàng ấm áp. Lách mình qua những thân cây cao vút, tôi không chỉ nghe thấy tiếng sóng gầm gào liên hồi từ đằng xa vọng lại, mà còn cảm nhận được ngọn gió biển đang mạnh dần lên qua tiếng lá xào xạc và những cành cây cọ xát vào nhau. Chẳng mấy chốc, từng luồng gió mát lạnh ùa vào mặt tôi. Chỉ thêm vài bước nữa, tôi đã thoát ra khỏi mép rừng rậm rạp, thu vào tầm mắt cả một vùng biển xanh thẳm, ngập tràn ánh nắng trải dài đến tận chân trời, nơi những con sóng bạc đầu không ngừng xô bờ tung bọt trắng xóa.
Chưa một lần nào tôi thấy vùng biển quanh Đảo Giấu Vàng chịu nằm yên. Dẫu cho mặt trời có chói chang trên đỉnh đầu, không gian đặc quánh chẳng một gợn gió, hay mặt nước xanh ngắt phẳng lặng như gương, thì những cuộn sóng khổng lồ ngoài khơi xa vẫn hối hả chạy dọc theo bờ biển, gầm thét dữ dội suốt ngày đêm. Thật khó mà tin được trên hòn đảo này lại có một góc khuất nào thoát khỏi âm thanh cuồng nộ ấy.
Tôi rảo bước men theo mép nước xô dạt trong niềm thích thú tột độ. Đi được một quãng khá xa về phía nam, tôi quyết định nấp dưới vài bụi cây rậm rạp rồi thận trọng trườn lên một dải đất cao.
Lúc này, sau lưng tôi là biển cả mênh mông, còn trước mặt là bến neo đậu. Trận gió lộng ban nãy dường như đã vắt kiệt sức lực trong một phút cuồng nộ nên giờ đã ngưng bặt. Thay vào đó, những luồng gió nhẹ hiu hiu đổi hướng từ phía nam và đông nam, kéo theo từng đụn sương mù đặc quánh. Vùng nước neo đậu dưới sự che chở của Đảo Đầu Lâu lại chìm trong vẻ tĩnh lặng và xám xịt như ngày đầu tiên chúng tôi bước chân đến. Trên mặt nước phẳng lặng như gương, con tàu Hispaniola in bóng rõ mồn một từ cột buồm vút cao cho đến tận mớn nước, với lá cờ sọ người Jolly Roger3 ủ rũ vắt vẻo trên đỉnh cột.
Đỗ sát cạnh đó là một chiếc thuyền nhỏ. Gã Silver đang ngồi chễm chệ ở băng ghế đuôi thuyền - dù ở đâu tôi cũng có thể nhận ra hắn - trong khi vài gã khác đang tựa người qua mạn thuyền. Một tên trong số đó đội chiếc mũ đỏ, chính là gã lưu manh tôi vừa thấy vắt vẻo trên hàng rào gỗ cách đây mấy tiếng. Trông chúng có vẻ đang cười đùa rôm rả, dù với khoảng cách hơn một dặm, hiển nhiên tôi chẳng thể nghe lọt tai được chữ nào. Đột nhiên, một tiếng thét chói lói, ma quái xé toạc không gian khiến tôi giật thót tim. Nhưng rồi tôi chợt nhận ra ngay đó là giọng của con vẹt Đại úy Flint, và thậm chí còn mường tượng ra bộ lông sặc sỡ của nó đang đậu ngoan ngoãn trên cổ tay gã chủ nhân.
Ngay sau đó, chiếc thuyền nhỏ nhổ sào, rẽ nước hướng về phía bờ, còn gã mũ đỏ cùng đồng bọn uể oải bước xuống hầm tàu qua lối cầu thang buồng lái.
Cùng lúc ấy, mặt trời cũng lặn khuất sau đỉnh Ống Kính Viễn Vọng. Sương mù ùn ùn kéo tới, bóng tối bắt đầu buông xuống dày đặc. Tôi hiểu rằng mình không thể lãng phí thêm một giây phút nào nữa nếu muốn tìm thấy chiếc thuyền thúng ngay trong đêm nay.
Tảng đá trắng nhô lên rõ mồn một giữa đám bụi rậm. Dẫu vậy, nó vẫn còn cách dải cát đến chừng một phần tám dặm. Tôi phải mất khá nhiều thời gian mới tiếp cận được tới nơi, có những lúc phải bò trườn bằng cả tay lẫn chân qua những bụi cây lúp xúp. Màn đêm gần như đã buông xuống khi tôi đặt tay lên sườn đá thô ráp. Ngay dưới chân tảng đá là một hõm đất nhỏ vô cùng xanh tươi. Nơi ấy bị che lấp bởi những bờ đất cao và một lớp bụi rậm um tùm mọc ngang đầu gối. Nằm lọt thỏm ngay giữa vùng trũng ấy, quả đúng như dự đoán, là một chiếc lều nhỏ làm bằng da dê. Nó trông hệt như loại lều mà những người Digan4 vẫn thường mang theo khi phiêu bạt ở nước Anh.
Tôi nhảy xuống hõm đất, lật vạt lều lên. Chiếc thuyền của Ben Gunn đang nằm ngay đó-một sản phẩm thủ công thô sơ đến mức khó tin. Thuyền được dựng từ một bộ khung gỗ dẻo dai nhưng xiêu vẹo và thô kệch. Phủ bên ngoài là một tấm da dê kéo căng, với phần lông lộn vào trong. Chiếc thuyền quá đỗi bé nhỏ, ngay cả đối với một đứa nhóc như tôi, thành thử tôi khó lòng tưởng tượng nổi làm thế nào nó có thể nổi lềnh bềnh mà chịu được sức nặng của một người đàn ông trưởng thành. Thuyền có một thanh giằng đặt ngang ở vị trí thấp nhất có thể, một cái giá đỡ nhô ra ở mũi, đi kèm một chiếc mái chèo đôi để đẩy thuyền đi.

Thuở ấy tôi chưa từng thấy một chiếc thuyền thúng nào giống như loại người Anh cổ đại thường đóng. Mãi sau này tôi mới có dịp chiêm ngưỡng, và có lẽ cách duy nhất để giúp bạn hình dung cho xác đáng về chiếc thuyền của Ben Gunn là: trông nó giống hệt chiếc thuyền thúng đầu tiên, và cũng là chiếc tồi tệ nhất từng được bàn tay con người nhào nặn ra. Dù vậy, nó chắc chắn vẫn giữ được ưu điểm tuyệt vời nhất của dòng thuyền thúng: cực kỳ nhẹ và vô cùng tiện lợi khi mang vác.
Bạn có thể nghĩ rằng, khi đã tìm thấy chiếc thuyền này, tôi hẳn sẽ chán ngấy cái trò trốn đi chơi đầy nguy hiểm và chỉ muốn quay về. Nhưng ngay lúc đó, một ý tưởng táo bạo khác lại lóe lên trong đầu tôi. Ý nghĩ ấy bám rễ mãnh liệt đến mức tôi tin chắc mình sẽ làm tới cùng, dẫu cho có bị thuyền trưởng Smollett cấm cản đi chăng nữa. Kế hoạch của tôi là lợi dụng màn đêm buông xuống, lẻn ra cắt đứt dây neo chiếc Hispaniola và để mặc nó trôi dạt vô định vào bờ. Tôi đinh ninh rằng đám phiến loạn, sau khi nếm mùi thất bại vào ban sáng, giờ đây chỉ nhăm nhe nhổ neo tháo chạy ra biển khơi. Nếu tôi cắt đứt dây neo, đó sẽ là một đòn chí mạng chặn đứng âm mưu của chúng. Thêm vào đó, việc chúng để lại những kẻ gác đêm trên tàu mà chẳng mảy may chừa lại một chiếc thuyền nhỏ nào càng khiến tôi tin rằng, kế hoạch này hoàn toàn khả thi với rủi ro thấp nhất.
Tôi nán lại, vừa nhẩn nha nhai chiếc bánh quy vừa chực chờ bóng tối ập xuống. Đêm nay quả là một đêm hoàn hảo cho mưu đồ của tôi. Lớp sương mù dày đặc đã nuốt chửng cả bầu trời. Ngay khi những tia sáng le lói cuối cùng của ban ngày lịm tắt, bóng tối đặc quánh, im lìm đã nuốt trọn Treasure Island. Cuối cùng, tôi vác chiếc thuyền thúng bé nhỏ lên vai, quờ quạng dò dẫm từng bước rời khỏi hõm đất nơi tôi vừa dùng bữa. Phóng tầm mắt khắp khu neo đậu lúc này, tôi chỉ còn thấy hai đốm sáng lẻ loi.
Một là ngọn lửa bập bùng cháy rực trên bờ, nơi đám hải tặc bại trận đang ngả ngớn chè chén say sưa giữa đầm lầy. Đốm sáng còn lại chỉ là một vầng mờ ảo leo lét giữa màn đêm, đánh dấu vị trí con tàu đang thả neo. Chiếc tàu đã xoay mũi theo dòng thủy triều đang rút, trực diện hướng về phía tôi. Chút ánh sáng duy nhất sót lại trên tàu phát ra từ trong cabin, hắt những tia sáng mạnh mẽ qua cửa sổ đuôi tàu và loang lổ trên bức tường sương mù.
Thủy triều đã rút được một lúc lâu. Tôi phải nhọc nhằn lội qua một dải bùn cát lầy lội, có những chỗ lún sâu đến quá mắt cá chân, rồi mới chạm tới mép nước. Cố lội thêm một đoạn ngắn nữa, tôi cẩn trọng dồn sức, khéo léo lật úp chiếc thuyền thúng và thả nó bềnh bồng trên mặt nước mông lung.
-
Một cách nói ẩn dụ và mỉa mai của thuyền trưởng. 'Khẩu phần' thông thường là phần thức ăn được phát hàng ngày cho thủy thủ, nhưng ở đây ám chỉ những viên đạn và tổn thất mà bọn hải tặc phải hứng chịu trong trận chiến. ↩
-
Trong văn hóa của những người đi biển phương Tây, 'Davy Jones' (hay 'Davy Jones's Locker') là từ lóng ám chỉ đáy đại dương, nơi yên nghỉ của những thủy thủ chết đuối. Câu nói này thường được dùng như một lời cảm thán thể hiện sự kinh ngạc. ↩
-
Tên gọi truyền thống bằng tiếng Anh của cờ hải tặc, thường có hình đầu lâu và hai khúc xương chéo nhau trên nền đen. Nó được kéo lên nhằm gieo rắc nỗi khiếp sợ cho các nạn nhân trước khi tấn công. ↩
-
Người Digan (hay người Romani) là một nhóm dân tộc du mục có nguồn gốc từ Nam Á, sống rải rác khắp châu Âu. Họ nổi tiếng với lối sống rày đây mai đó, thường dựng những túp lều tạm hoặc sống trên xe ngựa kéo. ↩

XXII. How I Began My Sea Adventure

here was no return of the mutineers-not so much as another shot out of the woods. They had “got their rations for that day,” as the captain put it, and we had the place to ourselves and a quiet time to overhaul the wounded and get dinner. Squire and I cooked outside in spite of the danger, and even outside we could hardly tell what we were at, for horror of the loud groans that reached us from the doctor’s patients.
Out of the eight men who had fallen in the action, only three still breathed-that one of the pirates who had been shot at the loophole, Hunter, and Captain Smollett; and of these, the first two were as good as dead; the mutineer indeed died under the doctor’s knife, and Hunter, do what we could, never recovered consciousness in this world. He lingered all day, breathing loudly like the old buccaneer at home in his apoplectic fit, but the bones of his chest had been crushed by the blow and his skull fractured in falling, and some time in the following night, without sign or sound, he went to his Maker.
As for the captain, his wounds were grievous indeed, but not dangerous. No organ was fatally injured. Anderson’s ball-for it was Job that shot him first-had broken his shoulder-blade and touched the lung, not badly; the second had only torn and displaced some muscles in the calf. He was sure to recover, the doctor said, but in the meantime, and for weeks to come, he must not walk nor move his arm, nor so much as speak when he could help it.
My own accidental cut across the knuckles was a flea-bite. Doctor Livesey patched it up with plaster and pulled my ears for me into the bargain.
After dinner the squire and the doctor sat by the captain’s side awhile in consultation; and when they had talked to their hearts’ content, it being then a little past noon, the doctor took up his hat and pistols, girt on a cutlass, put the chart in his pocket, and with a musket over his shoulder crossed the palisade on the north side and set off briskly through the trees.
Gray and I were sitting together at the far end of the block house, to be out of earshot of our officers consulting; and Gray took his pipe out of his mouth and fairly forgot to put it back again, so thunder-struck he was at this occurrence.
“Why, in the name of Davy Jones,” said he, “is Dr. Livesey mad?”
“Why no,” says I. “He’s about the last of this crew for that, I take it.”
“Well, shipmate,” said Gray, “mad he may not be; but if he’s not, you mark my words, I am.”
“I take it,” replied I, “the doctor has his idea; and if I am right, he’s going now to see Ben Gunn.”
I was right, as appeared later; but in the meantime, the house being stifling hot and the little patch of sand inside the palisade ablaze with midday sun, I began to get another thought into my head, which was not by any means so right. What I began to do was to envy the doctor walking in the cool shadow of the woods with the birds about him and the pleasant smell of the pines, while I sat grilling, with my clothes stuck to the hot resin, and so much blood about me and so many poor dead bodies lying all around that I took a disgust of the place that was almost as strong as fear.
All the time I was washing out the block house, and then washing up the things from dinner, this disgust and envy kept growing stronger and stronger, till at last, being near a bread-bag, and no one then observing me, I took the first step towards my escapade and filled both pockets of my coat with biscuit.
I was a fool, if you like, and certainly I was going to do a foolish, over-bold act; but I was determined to do it with all the precautions in my power. These biscuits, should anything befall me, would keep me, at least, from starving till far on in the next day.
The next thing I laid hold of was a brace of pistols, and as I already had a powder-horn and bullets, I felt myself well supplied with arms.
As for the scheme I had in my head, it was not a bad one in itself. I was to go down the sandy spit that divides the anchorage on the east from the open sea, find the white rock I had observed last evening, and ascertain whether it was there or not that Ben Gunn had hidden his boat, a thing quite worth doing, as I still believe. But as I was certain I should not be allowed to leave the enclosure, my only plan was to take French leave and slip out when nobody was watching, and that was so bad a way of doing it as made the thing itself wrong. But I was only a boy, and I had made my mind up.
Well, as things at last fell out, I found an admirable opportunity. The squire and Gray were busy helping the captain with his bandages, the coast was clear, I made a bolt for it over the stockade and into the thickest of the trees, and before my absence was observed I was out of cry of my companions.
This was my second folly, far worse than the first, as I left but two sound men to guard the house; but like the first, it was a help towards saving all of us.
I took my way straight for the east coast of the island, for I was determined to go down the sea side of the spit to avoid all chance of observation from the anchorage. It was already late in the afternoon, although still warm and sunny. As I continued to thread the tall woods, I could hear from far before me not only the continuous thunder of the surf, but a certain tossing of foliage and grinding of boughs which showed me the sea breeze had set in higher than usual. Soon cool draughts of air began to reach me, and a few steps farther I came forth into the open borders of the grove, and saw the sea lying blue and sunny to the horizon and the surf tumbling and tossing its foam along the beach.
I have never seen the sea quiet round Treasure Island. The sun might blaze overhead, the air be without a breath, the surface smooth and blue, but still these great rollers would be running along all the external coast, thundering and thundering by day and night; and I scarce believe there is one spot in the island where a man would be out of earshot of their noise.
I walked along beside the surf with great enjoyment, till, thinking I was now got far enough to the south, I took the cover of some thick bushes and crept warily up to the ridge of the spit.
Behind me was the sea, in front the anchorage. The sea breeze, as though it had the sooner blown itself out by its unusual violence, was already at an end; it had been succeeded by light, variable airs from the south and south-east, carrying great banks of fog; and the anchorage, under lee of Skeleton Island, lay still and leaden as when first we entered it. The Hispaniola, in that unbroken mirror, was exactly portrayed from the truck to the waterline, the Jolly Roger hanging from her peak.
Alongside lay one of the gigs, Silver in the stern-sheets-him I could always recognize-while a couple of men were leaning over the stern bulwarks, one of them with a red cap-the very rogue that I had seen some hours before stride-legs upon the palisade. Apparently they were talking and laughing, though at that distance-upwards of a mile-I could, of course, hear no word of what was said. All at once there began the most horrid, unearthly screaming, which at first startled me badly, though I had soon remembered the voice of Captain Flint and even thought I could make out the bird by her bright plumage as she sat perched upon her master’s wrist.
Soon after, the jolly-boat shoved off and pulled for shore, and the man with the red cap and his comrade went below by the cabin companion.
Just about the same time, the sun had gone down behind the Spy-glass, and as the fog was collecting rapidly, it began to grow dark in earnest. I saw I must lose no time if I were to find the boat that evening.
The white rock, visible enough above the brush, was still some eighth of a mile further down the spit, and it took me a goodish while to get up with it, crawling, often on all fours, among the scrub. Night had almost come when I laid my hand on its rough sides. Right below it there was an exceedingly small hollow of green turf, hidden by banks and a thick underwood about knee-deep, that grew there very plentifully; and in the centre of the dell, sure enough, a little tent of goat-skins, like what the gipsies carry about with them in England.
I dropped into the hollow, lifted the side of the tent, and there was Ben Gunn’s boat-home-made if ever anything was home-made; a rude, lop-sided framework of tough wood, and stretched upon that a covering of goat-skin, with the hair inside. The thing was extremely small, even for me, and I can hardly imagine that it could have floated with a full-sized man. There was one thwart set as low as possible, a kind of stretcher in the bows, and a double paddle for propulsion.

I had not then seen a coracle, such as the ancient Britons made, but I have seen one since, and I can give you no fairer idea of Ben Gunn’s boat than by saying it was like the first and the worst coracle ever made by man. But the great advantage of the coracle it certainly possessed, for it was exceedingly light and portable.
Well, now that I had found the boat, you would have thought I had had enough of truantry for once, but in the meantime I had taken another notion and become so obstinately fond of it that I would have carried it out, I believe, in the teeth of Captain Smollett himself. This was to slip out under cover of the night, cut the Hispaniola adrift, and let her go ashore where she fancied. I had quite made up my mind that the mutineers, after their repulse of the morning, had nothing nearer their hearts than to up anchor and away to sea; this, I thought, it would be a fine thing to prevent, and now that I had seen how they left their watchmen unprovided with a boat, I thought it might be done with little risk.
Down I sat to wait for darkness, and made a hearty meal of biscuit. It was a night out of ten thousand for my purpose. The fog had now buried all heaven. As the last rays of daylight dwindled and disappeared, absolute blackness settled down on Treasure Island. And when, at last, I shouldered the coracle and groped my way stumblingly out of the hollow where I had supped, there were but two points visible on the whole anchorage.
One was the great fire on shore, by which the defeated pirates lay carousing in the swamp. The other, a mere blur of light upon the darkness, indicated the position of the anchored ship. She had swung round to the ebb-her bow was now towards me-the only lights on board were in the cabin, and what I saw was merely a reflection on the fog of the strong rays that flowed from the stern window.
The ebb had already run some time, and I had to wade through a long belt of swampy sand, where I sank several times above the ankle, before I came to the edge of the retreating water, and wading a little way in, with some strength and dexterity, set my coracle, keel downwards, on the surface.