
XXVII. "Những đồng tám real"

Con tàu nghiêng hẳn sang một bên, kéo theo những cột buồm vươn dài sát mặt nước. Từ chỗ ngồi vắt vẻo trên trục buồm chéo, bên dưới tôi trống huơ trống hoác, chỉ rặt một màu nước vịnh bao la. Israel Hands, do bám ở vị trí thấp hơn nên lúc ngã xuống hắn ở sát tàu hơn, rơi tọt ngay vào khoảng trống giữa tôi và mạn thuyền. Hắn ngoi lên mặt nước một lần duy nhất giữa lớp bọt tung trắng xóa loang lổ vết máu, rồi chìm nghỉm vĩnh viễn. Khi mặt vịnh phẳng lặng trở lại, tôi thấy rõ hắn nằm co quắp trên nền cát sáng màu, sạch bong dưới bóng râm của mạn tàu. Vài con cá bơi vụt qua cái xác. Có lúc, những gợn sóng lăn tăn xô đập khiến hắn trông như đang cựa quậy, tựa hồ muốn gượng dậy. Nhưng kỳ thực hắn đã chết hẳn rồi, vừa trúng đạn vừa sặc nước, nằm đó làm mồi cho cá ngay tại chính nơi mà hắn rắp tâm lấy mạng tôi.
Vừa nhận thức được sự thật ấy, tôi liền cảm thấy buồn nôn, váng vất và khiếp đảm tột độ. Dòng máu nóng hổi vẫn không ngừng túa ra, chảy ròng ròng trên ngực và lưng tôi. Con dao găm ghim chặt vai tôi vào cột buồm rát buốt như một thanh sắt nung đỏ. Nhưng những nỗi đau thể xác ấy chẳng thấm tháp gì so với nỗi kinh hoàng đang bóp nghẹt tâm trí: tôi cứ nơm nớp lo mình sẽ lộn cổ từ trục buồm chéo xuống làn nước xanh ngắt tĩnh lặng kia, rơi đúng vào nơi cái xác gã lái thuyền đang nằm.
Tôi bám chặt lấy cột buồm bằng cả hai tay đến mức móng tay râm ran đau nhức, nhắm nghiền hai mắt lại như thể để trốn tránh mọi hiểm nguy. Dần dà, tâm trí tôi cũng dịu lại, nhịp tim bớt đập dồn dập, và tôi đã làm chủ được chính mình một lần nữa.
Ý nghĩ đầu tiên lóe lên là phải rút phăng con dao găm ra, nhưng có lẽ nó cắm quá sâu, hoặc do tôi đã mất hết can đảm nên đành bỏ cuộc sau một cái rùng mình dữ dội. Trớ trêu thay, chính cái rùng mình ấy lại giải quyết mọi bề. Thực ra lưỡi dao suýt chút nữa đã trượt qua người tôi; nó chỉ dính lại ở một mẩu da nhỏ xíu, và cú rùng mình vừa rồi đã xé toạc mẩu da ấy ra. Chắc chắn là máu túa ra nhanh hơn, nhưng tôi đã khôi phục lại sự tự do cho cơ thể, chỉ còn bị ghim vào cột buồm qua hai lớp áo sơ mi và áo khoác.
Tôi giật mạnh, xé toạc hai lớp áo đó rồi men theo hệ thống dây văng mạn phải tụt xuống boong tàu. Chẳng đời nào tôi dám mạo hiểm đánh cược mạng sống một lần nữa trên mớ dây thừng chênh vênh bên mạn trái, nơi Israel vừa ngã xuống.
Tôi chui xuống khoang dưới, cố gắng xoay xở xử lý vết thương. Chỗ rách khá đau và vẫn rỉ máu đầm đìa, nhưng may mà không sâu, không gây nguy hiểm tính mạng và cũng không làm tôi buốt nhói mỗi khi cử động cánh tay. Xong xuôi, tôi đảo mắt nhìn quanh. Giờ đây con tàu, theo một nghĩa nào đó, đã hoàn toàn thuộc về tôi. Thế là tôi bắt đầu nghĩ đến việc dọn dẹp vị hành khách cuối cùng-cái xác của O’Brien.
Như tôi đã kể, hắn bị hất phịch vào mạn tàu, nằm vật vã tựa như một con rối khổng lồ dị dạng, to bằng người thật nhưng lại vắng bặt mọi sắc màu và vẻ đẹp của sự sống. Từ vị trí đó, tôi có thể dễ dàng tống khứ hắn. Những biến cố bi thảm vừa qua đã rèn cho tôi bản lĩnh chai lỳ, chẳng còn mảy may sợ hãi người chết. Tôi xốc nách hắn lên nhẹ bẫng như ôm một bao cám, lấy hết sức bình sinh đẩy một cú thật mạnh, ném hắn lộn nhào qua mạn tàu. Hắn rơi xuống nước cái "tùm", chiếc mũ đỏ tuột ra, dập dềnh bồng bềnh trên mặt vịnh. Ngay khi bọt nước tan đi, tôi có thể thấy hắn và Israel đang nằm cạnh nhau, cả hai lững lờ đong đưa theo từng gợn sóng lăn tăn dưới đáy nước. O’Brien tuy còn khá trẻ nhưng đầu đã hói trọc lóc. Hắn nằm đó, gối cái đầu hói lên chân kẻ đã hạ sát mình, để mặc cho bầy cá bơi lội tung tăng lượn lờ quanh cả hai.
Lúc này trên tàu chỉ còn trơ trọi mình tôi; thủy triều cũng vừa mới đổi dòng. Mặt trời chênh chếch cách đường chân trời chỉ vài độ, vươn bóng của những rặng thông trên bờ tây phủ dài ngang qua khu neo đậu, in hằn những vệt hoa văn sậm màu lên boong tàu. Gió chiều đã bắt đầu nổi lên. Dù được ngọn đồi hai đỉnh phía đông che chắn khá kỹ lưỡng, hệ thống dây thừng vẫn không giấu được những tiếng rít rì rào khẽ khàng, trong khi những cánh buồm nhàn rỗi phần phật kêu lách cách qua lại.
Tôi chợt nhận ra một mối nguy hiểm đang rình rập con tàu. Lập tức, tôi hạ tuột những cánh buồm hình tam giác xuống boong, nhưng cánh buồm chính lại là một thách thức khó nhằn. Do con tàu nghiêng hẳn, cần cẩu buồm đã vung ra ngoài, phần chóp cùng một hai foot vải buồm còn thõng dài chìm vào trong nước. Tôi sợ rằng điều này sẽ làm tình hình thêm tồi tệ, nhưng sức căng quá lớn khiến tôi ngần ngại chẳng dám động vào. Cuối cùng, tôi lấy dao cắt đứt phăng dây ròng rọc kéo buồm. Đỉnh buồm tuột xuống ngay tắp lự, một mảng vải lớn lùng bùng nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Dù tôi có ra sức kéo cỡ nào thì dây hạ buồm vẫn không suy suyển, nên tôi đành buông xuôi. Phần còn lại, con tàu Hispaniola đành phó mặc cho số phận, hệt như tôi vậy.
Lúc bấy giờ, bóng tối đã bao trùm toàn bộ khu neo đậu. Tôi nhớ mãi những tia nắng chiều tà rớt lại len lỏi qua một trảng rừng, lấp lánh rực rỡ tựa như những viên ngọc đính trên lớp áo choàng rực rỡ hoa dại của một đống đổ nát. Trời bắt đầu se lạnh; thủy triều hối hả rút cạn ra biển, khiến chiếc thuyền buồm càng lúc càng lún sâu xuống đáy bùn.
Tôi trườn người tới trước, đảo mắt nhìn xuống. Nước có vẻ khá nông. Hai tay nắm chặt lấy sợi dây thừng đã bị cắt rời để phòng hờ bất trắc, tôi nhẹ nhàng thả mình xuống nước. Mực nước chỉ lưng chừng thắt lưng, dưới chân là lớp cát cứng với những gợn sóng lăn tăn. Tôi hăm hở lội vào bờ với một tâm trạng phấn khích tột độ, bỏ mặc chiếc tàu Hispaniola nằm nghiêng ngả, cánh buồm chính rũ rượi buông thõng trên mặt vịnh. Vừa lúc đó, mặt trời khuất bóng hẳn, tiếng gió rì rào hát khúc nhạc chiều giữa những rặng thông già đang đung đưa xào xạc.
Ít nhất thì cuối cùng tôi cũng đã từ giã biển khơi, và chẳng phải mang bàn tay trắng trở về. Con tàu nằm đó, vĩnh viễn rũ bỏ đám hải tặc và sẵn sàng chờ người của chúng tôi lên boong để tiếp tục ra khơi. Tôi chẳng mong gì hơn ngoài việc phóng nhanh về đồn lũy, khoe khoang những chiến công lẫy lừng của mình. Có lẽ cháu sẽ bị quở trách chút đỉnh vì tội tự ý bỏ đi, nhưng việc chiếm lại được con tàu Hispaniola quả là một câu trả lời đanh thép, và cháu tin rằng ngay cả Thuyền trưởng Smollett cũng sẽ phải gật gù thừa nhận rằng cháu chẳng hề hoang phí thời gian.
Vừa nghĩ vậy, lòng rộn lên niềm phấn chấn, tôi lập tức hướng về phía đồn lũy để tìm lại những người đồng hành. Tôi nhớ lại rằng con sông xa nhất về phía đông, nơi đổ vào khu neo đậu của Thuyền trưởng Kidd1, vốn bắt nguồn từ ngọn đồi hai đỉnh nằm bên tay trái. Thế là tôi bẻ hướng sang đó để tìm chỗ lội qua suối lúc nước còn nông. Khu rừng ở đây khá thưa thớt. Men theo những triền đồi thoai thoải, tôi nhanh chóng vòng qua ngọn đồi ấy và chẳng mấy chốc đã lội ngang qua dòng nước chỉ ngập đến bắp chân.
Đoạn đường này đưa tôi đến gần nơi từng chạm trán Ben Gunn, kẻ bị bỏ hoang trên đảo. Tôi cất bước cẩn trọng hơn, dáo dác đưa mắt nhìn tứ phía. Bóng tối lúc này đã buông xuống gần như đặc quánh. Khi bước ra khoảng hở giữa hai đỉnh đồi, tôi chợt nhận thấy một vệt sáng rực rỡ le lói hắt lên nền trời. Tôi đoán chắc con người hoang dã của hòn đảo này đang nấu bữa tối bên một đống lửa lớn. Thế nhưng, tôi lại thầm thắc mắc, sao ông ta lại hớ hênh đến vậy? Nếu tôi có thể nhìn thấy ánh sáng này, thì chẳng lẽ nó lại không lọt vào mắt Silver, kẻ đang cắm trại ven bờ giữa những vùng đầm lầy đằng kia sao?
Màn đêm dần trở nên đen đặc. Tôi chỉ còn biết nhắm chừng mà mò mẫm tiến về đích. Ngọn đồi đôi sau lưng và đồi Ống Nhòm bên tay phải cứ thế mờ dần, mờ dần. Những vì sao trên trời nhợt nhạt và thưa thớt. Đi dưới vùng đất trũng, tôi liên tục vướng chân vào những bụi rậm và ngã lăn cù xuống những hố cát.
Đột nhiên, một vệt sáng bừng lên rọi xuống quanh tôi. Ngước mắt lên nhìn, tôi thấy một dải sáng bàng bạc của ánh trăng đã đậu trên đỉnh đồi Ống Nhòm. Ngay sau đó, một vầng sáng to lớn lấp lánh ánh bạc nhô dần lên phía sau những tán cây ở tít dưới thấp. Tôi biết trăng đã lên.
Nhờ ánh trăng soi đường, tôi vượt qua chặng đường còn lại rất nhanh. Lúc thì đi bộ, khi lại chạy rảo bước, tôi nóng lòng tiến về phía đồn lũy. Tuy vậy, khi bắt đầu lách mình vào khu rừng nhỏ nằm ngay trước đồn, tôi vẫn giữ được sự tỉnh táo, tự động giảm tốc độ và rón rén bước đi thận trọng hơn. Sẽ thật là một kết cục thảm hại cho chuyến phiêu lưu của tôi nếu chẳng may bị chính đồng đội của mình bắn hạ do nhầm lẫn.
Mặt trăng ngày một lên cao, vãi những vệt sáng lọt qua những khoảng rừng quang đãng. Và rồi, ngay trước mặt tôi, một quầng sáng mang màu sắc hoàn toàn khác biệt chợt hiện ra giữa những bóng cây. Ánh sáng ấy đỏ rực, nóng bỏng, và thỉnh thoảng lại mờ đi đôi chút-giống hệt ánh sáng từ những cục than hồng của một đống lửa đang cháy âm ỉ.
Dù có vắt óc suy nghĩ đến mấy, tôi cũng chẳng thể nào đoán ra được đó rốt cuộc là thứ gì.
Cuối cùng, tôi cũng đặt chân đến rìa bãi đất trống. Mạn tây đã ngập tràn ánh trăng rực rỡ; trong khi phần còn lại, bao trùm lên cả đồn lũy, vẫn chìm sâu vào màn đêm đen kịt, lác đác vài vệt sáng bàng bạc xuyên qua kẽ lá. Ở phía bên kia ngôi nhà, một đống lửa khổng lồ giờ đã rụi thành những ụ than hồng, hắt ra một luồng sáng đỏ quạch và ổn định, tương phản gay gắt với ánh trăng nhợt nhạt và êm dịu. Chẳng có lấy một bóng người lay động, không gian vắng lặng chỉ còn tiếng gió rít qua tán lá xạc xào.
Tôi khựng lại, trong lòng trào dâng bao nỗi hoài nghi, xen lẫn đôi chút bồn chồn, sợ hãi. Chúng tôi vốn không có thói quen đốt lửa to đến vậy; thực tế thì, theo lệnh của thuyền trưởng, mọi người phải dùng củi lửa hết sức dè sẻn. Nỗi bất an chợt len lỏi, tôi sợ rằng đã có biến cố chẳng lành ập đến trong lúc mình vắng mặt.
Tôi rón rén vòng qua mạn đông, nấp mình lẩn khuất trong bóng tối. Chọn một góc thuận lợi, nơi màn đêm buông xuống đặc quánh nhất, tôi trèo tọt qua hàng rào gỗ.
Để nắm chắc phần an toàn, tôi chống cả hai tay và đầu gối xuống nền đất rồi trườn tới góc nhà mà không gây ra lấy một tiếng động. Khi tiến lại gần hơn, lồng ngực tôi bỗng nhiên nhẹ nhõm hẳn. Bình thường thì tiếng ngáy vang rền vốn chẳng lọt tai chút nào, và những lúc khác tôi còn hay càu nhàu về nó; nhưng ngay khoảnh khắc ấy, thanh âm êm đềm trong giấc ngủ bình yên của những người đồng đội lại ngân vang như một khúc nhạc tuyệt diệu. Ngay cả câu hô canh gác trên biển, tiếng "Tất cả đều ổn2" tuyệt đẹp ấy, cũng chưa bao giờ rót vào tai tôi với một sức mạnh trấn an đến thế.
Dẫu vậy, có một sự thật không thể chối cãi: họ đã canh gác quá đỗi lỏng lẻo. Nếu như giờ phút này Silver và đám hải tặc của hắn lẻn vào đánh úp, thì chắc chắn chẳng còn một ai sống sót đón ánh bình minh. Tôi thầm nhủ, hẳn đây là hậu quả từ việc thuyền trưởng bị thương; rồi tôi lại tự dằn vặt bản thân một cách gay gắt, vì đã để mặc những người bạn của mình đương đầu với hiểm nguy trong cảnh thiếu thốn người canh gác.
Lúc này, tôi đã đến sát bậu cửa và đứng thẳng dậy. Bên trong tăm tối mịt mùng, chẳng thể nhìn rõ được vật gì. Về phần âm thanh, ngoài tiếng ngáy đều đều, thỉnh thoảng lại vang lên một vài tiếng động nhỏ lạ lùng-một tiếng lạch phạch như vỗ cánh hay tiếng lách cách như mổ thóc mà tôi chẳng sao lý giải nổi.
Tôi chầm chậm đưa tay dò dẫm phía trước rồi bước thẳng vào trong. Tôi định bụng sẽ mò mẫm về đúng chỗ ngả lưng của mình (vừa nghĩ, tôi vừa thầm cười khúc khích) và chờ đến sáng hôm sau để thưởng thức vẻ mặt sửng sốt của bọn họ khi phát hiện ra tôi.

Mũi giày tôi khẽ vấp phải một thứ gì đó mèm mềm-hóa ra là chân của một kẻ đang say giấc; hắn cựa mình, làu bàu trong họng nhưng vẫn chưa tỉnh hẳn.
Rồi, bất thình lình, một giọng nói lanh lảnh cất lên xé toạc sự tĩnh mịch của màn đêm:
"Đồng tám real3! Đồng tám real! Đồng tám real! Đồng tám real! Đồng tám real!" Tràng âm thanh cứ thế tuôn ra không dứt, đều đều và rập khuôn hệt như tiếng lạch cạch của một chiếc cối xay thu nhỏ.
Là con vẹt xanh Đại úy Flint của Silver! Hóa ra âm thanh lách cách gõ vào mảnh vỏ cây mà tôi nghe thấy khi nãy chính là nó. Còn tinh tường hơn cả một gã lính gác mẫn cán, con vật ấy đã tấu lên cái điệp khúc chói tai ấy để loan báo về sự hiện diện của tôi.
Tôi chẳng còn thì giờ để định thần. Trước cái giọng the thé lanh lảnh của con vẹt, đám người đang ngủ đồng loạt choàng tỉnh và bật dậy. Kèm theo một tiếng chửi thề chát chúa, giọng của Silver gầm lên: "Ai đó?"
Tôi cuống cuồng quay lưng toan bỏ chạy, nhưng lại đâm sầm vào một gã nào đó, bật ngửa ra sau, rồi cứ thế ngã nhào thẳng vào vòng tay của một gã thứ hai. Hắn lập tức ôm chầm lấy tôi, siết chặt không buông.
"Cậu mang cho ta một ngọn đuốc lại đây, Dick," Silver lạnh lùng ra lệnh khi đã cầm chắc tôi trong tay.
Một gã cất bước rời khỏi ngôi nhà gỗ, rồi chốc sau quay lại với một thanh củi đang bừng bừng lửa đỏ.

-
William Kidd (Thuyền trưởng Kidd) là một thủy thủ kiêm cướp biển người Scotland khét tiếng ở thế kỷ 17. Các địa danh mang tên ông trên đảo ngụ ý đây từng là nơi trú ẩn yêu thích của cướp biển. ↩
-
Dịch từ khẩu lệnh gác đêm quen thuộc của lính gác hoặc thủy thủ 'All's well', dùng để báo hiệu tình hình vẫn an toàn và không có biến động, giúp mọi người trên tàu có thể an tâm ngủ. ↩
-
Nguyên gốc 'Pieces of eight' (Đồng 8 real), là đồng tiền bạc phổ biến của Đế quốc Tây Ban Nha, mệnh giá 8 real. Đây là chiến lợi phẩm đặc trưng và có giá trị nhất mà giới cướp biển săn lùng. Tiếng kêu của con vẹt Đại úy Flint mang tính biểu tượng cho quá khứ hải tặc. ↩

XXVII. “Pieces of Eight”

wing to the cant of the vessel, the masts hung far out over the water, and from my perch on the cross-trees I had nothing below me but the surface of the bay. Hands, who was not so far up, was in consequence nearer to the ship and fell between me and the bulwarks. He rose once to the surface in a lather of foam and blood and then sank again for good. As the water settled, I could see him lying huddled together on the clean, bright sand in the shadow of the vessel’s sides. A fish or two whipped past his body. Sometimes, by the quivering of the water, he appeared to move a little, as if he were trying to rise. But he was dead enough, for all that, being both shot and drowned, and was food for fish in the very place where he had designed my slaughter.
I was no sooner certain of this than I began to feel sick, faint, and terrified. The hot blood was running over my back and chest. The dirk, where it had pinned my shoulder to the mast, seemed to burn like a hot iron; yet it was not so much these real sufferings that distressed me, for these, it seemed to me, I could bear without a murmur; it was the horror I had upon my mind of falling from the cross-trees into that still green water, beside the body of the coxswain.
I clung with both hands till my nails ached, and I shut my eyes as if to cover up the peril. Gradually my mind came back again, my pulses quieted down to a more natural time, and I was once more in possession of myself.
It was my first thought to pluck forth the dirk, but either it stuck too hard or my nerve failed me, and I desisted with a violent shudder. Oddly enough, that very shudder did the business. The knife, in fact, had come the nearest in the world to missing me altogether; it held me by a mere pinch of skin, and this the shudder tore away. The blood ran down the faster, to be sure, but I was my own master again and only tacked to the mast by my coat and shirt.
These last I broke through with a sudden jerk, and then regained the deck by the starboard shrouds. For nothing in the world would I have again ventured, shaken as I was, upon the overhanging port shrouds from which Israel had so lately fallen.
I went below and did what I could for my wound; it pained me a good deal and still bled freely, but it was neither deep nor dangerous, nor did it greatly gall me when I used my arm. Then I looked around me, and as the ship was now, in a sense, my own, I began to think of clearing it from its last passenger-the dead man, O’Brien.
He had pitched, as I have said, against the bulwarks, where he lay like some horrible, ungainly sort of puppet, life-size, indeed, but how different from life’s colour or life’s comeliness! In that position I could easily have my way with him, and as the habit of tragical adventures had worn off almost all my terror for the dead, I took him by the waist as if he had been a sack of bran and with one good heave, tumbled him overboard. He went in with a sounding plunge; the red cap came off and remained floating on the surface; and as soon as the splash subsided, I could see him and Israel lying side by side, both wavering with the tremulous movement of the water. O’Brien, though still quite a young man, was very bald. There he lay, with that bald head across the knees of the man who had killed him and the quick fishes steering to and fro over both.
I was now alone upon the ship; the tide had just turned. The sun was within so few degrees of setting that already the shadow of the pines upon the western shore began to reach right across the anchorage and fall in patterns on the deck. The evening breeze had sprung up, and though it was well warded off by the hill with the two peaks upon the east, the cordage had begun to sing a little softly to itself and the idle sails to rattle to and fro.
I began to see a danger to the ship. The jibs I speedily doused and brought tumbling to the deck, but the main-sail was a harder matter. Of course, when the schooner canted over, the boom had swung out-board, and the cap of it and a foot or two of sail hung even under water. I thought this made it still more dangerous; yet the strain was so heavy that I half feared to meddle. At last I got my knife and cut the halyards. The peak dropped instantly, a great belly of loose canvas floated broad upon the water, and since, pull as I liked, I could not budge the downhall, that was the extent of what I could accomplish. For the rest, the Hispaniola must trust to luck, like myself.
By this time the whole anchorage had fallen into shadow-the last rays, I remember, falling through a glade of the wood and shining bright as jewels on the flowery mantle of the wreck. It began to be chill; the tide was rapidly fleeting seaward, the schooner settling more and more on her beam-ends.
I scrambled forward and looked over. It seemed shallow enough, and holding the cut hawser in both hands for a last security, I let myself drop softly overboard. The water scarcely reached my waist; the sand was firm and covered with ripple marks, and I waded ashore in great spirits, leaving the Hispaniola on her side, with her main-sail trailing wide upon the surface of the bay. About the same time, the sun went fairly down and the breeze whistled low in the dusk among the tossing pines.
At least, and at last, I was off the sea, nor had I returned thence empty-handed. There lay the schooner, clear at last from buccaneers and ready for our own men to board and get to sea again. I had nothing nearer my fancy than to get home to the stockade and boast of my achievements. Possibly I might be blamed a bit for my truantry, but the recapture of the Hispaniola was a clenching answer, and I hoped that even Captain Smollett would confess I had not lost my time.
So thinking, and in famous spirits, I began to set my face homeward for the block house and my companions. I remembered that the most easterly of the rivers which drain into Captain Kidd’s anchorage ran from the two-peaked hill upon my left, and I bent my course in that direction that I might pass the stream while it was small. The wood was pretty open, and keeping along the lower spurs, I had soon turned the corner of that hill, and not long after waded to the mid-calf across the watercourse.
This brought me near to where I had encountered Ben Gunn, the maroon; and I walked more circumspectly, keeping an eye on every side. The dusk had come nigh hand completely, and as I opened out the cleft between the two peaks, I became aware of a wavering glow against the sky, where, as I judged, the man of the island was cooking his supper before a roaring fire. And yet I wondered, in my heart, that he should show himself so careless. For if I could see this radiance, might it not reach the eyes of Silver himself where he camped upon the shore among the marshes?
Gradually the night fell blacker; it was all I could do to guide myself even roughly towards my destination; the double hill behind me and the Spy-glass on my right hand loomed faint and fainter; the stars were few and pale; and in the low ground where I wandered I kept tripping among bushes and rolling into sandy pits.
Suddenly a kind of brightness fell about me. I looked up; a pale glimmer of moonbeams had alighted on the summit of the Spy-glass, and soon after I saw something broad and silvery moving low down behind the trees, and knew the moon had risen.
With this to help me, I passed rapidly over what remained to me of my journey, and sometimes walking, sometimes running, impatiently drew near to the stockade. Yet, as I began to thread the grove that lies before it, I was not so thoughtless but that I slacked my pace and went a trifle warily. It would have been a poor end of my adventures to get shot down by my own party in mistake.
The moon was climbing higher and higher, its light began to fall here and there in masses through the more open districts of the wood, and right in front of me a glow of a different colour appeared among the trees. It was red and hot, and now and again it was a little darkened-as it were, the embers of a bonfire smouldering.
For the life of me I could not think what it might be.
At last I came right down upon the borders of the clearing. The western end was already steeped in moonshine; the rest, and the block house itself, still lay in a black shadow chequered with long silvery streaks of light. On the other side of the house an immense fire had burned itself into clear embers and shed a steady, red reverberation, contrasted strongly with the mellow paleness of the moon. There was not a soul stirring nor a sound beside the noises of the breeze.
I stopped, with much wonder in my heart, and perhaps a little terror also. It had not been our way to build great fires; we were, indeed, by the captain’s orders, somewhat niggardly of firewood, and I began to fear that something had gone wrong while I was absent.
I stole round by the eastern end, keeping close in shadow, and at a convenient place, where the darkness was thickest, crossed the palisade.
To make assurance surer, I got upon my hands and knees and crawled, without a sound, towards the corner of the house. As I drew nearer, my heart was suddenly and greatly lightened. It is not a pleasant noise in itself, and I have often complained of it at other times, but just then it was like music to hear my friends snoring together so loud and peaceful in their sleep. The sea-cry of the watch, that beautiful “All’s well,” never fell more reassuringly on my ear.
In the meantime, there was no doubt of one thing; they kept an infamous bad watch. If it had been Silver and his lads that were now creeping in on them, not a soul would have seen daybreak. That was what it was, thought I, to have the captain wounded; and again I blamed myself sharply for leaving them in that danger with so few to mount guard.
By this time I had got to the door and stood up. All was dark within, so that I could distinguish nothing by the eye. As for sounds, there was the steady drone of the snorers and a small occasional noise, a flickering or pecking that I could in no way account for.
With my arms before me I walked steadily in. I should lie down in my own place (I thought with a silent chuckle) and enjoy their faces when they found me in the morning.

My foot struck something yielding-it was a sleeper’s leg; and he turned and groaned, but without awaking.
And then, all of a sudden, a shrill voice broke forth out of the darkness:
“Pieces of eight! Pieces of eight! Pieces of eight! Pieces of eight! Pieces of eight!” and so forth, without pause or change, like the clacking of a tiny mill.
Silver’s green parrot, Captain Flint! It was she whom I had heard pecking at a piece of bark; it was she, keeping better watch than any human being, who thus announced my arrival with her wearisome refrain.
I had no time left me to recover. At the sharp, clipping tone of the parrot, the sleepers awoke and sprang up; and with a mighty oath, the voice of Silver cried, “Who goes?”
I turned to run, struck violently against one person, recoiled, and ran full into the arms of a second, who for his part closed upon and held me tight.
“Bring a torch, Dick,” said Silver when my capture was thus assured.
And one of the men left the log-house and presently returned with a lighted brand.
