0217m

XXIII. Thủy triều rút

9217m

Chiếc thuyền thúng1 này, như tôi đã phải nếm trải đủ đường cho đến tận lúc kết thúc chuyến đi, quả thực vô cùng an toàn với một người có vóc dáng và cân nặng như tôi. Nó nổi lềnh bềnh và lướt đi khá lanh lẹ trên sóng nước. Thế nhưng, đây lại là loại phương tiện ương ngạnh và chòng chành nhất trần đời nếu muốn điều khiển. Mặc cho tôi cố xoay xở đủ kiểu, con thuyền phần lớn chỉ toàn trôi giạt sang ngang. Đặc biệt, trò xoay mòng mòng chính là ngón nghề điêu luyện nhất của nó. Thậm chí, đích thân Ben Gunn cũng từng phải thừa nhận rằng thứ này "cực kỳ khó bảo cho đến khi cậu nắm thóp được mấy cái tật của nó."

Hiển nhiên là tôi mù tịt về mấy cái tật ấy. Chiếc thuyền thúng cứ xoay bấn lên tứ phía, chừa đúng cái hướng mà tôi cần rẽ tới. Suốt chặng đường, cả tôi lẫn con thuyền đa phần chỉ trôi dạt vất vưởng sang ngang. Tôi dám cá là mình sẽ chẳng bao giờ lê xác đến được chỗ con tàu nếu không nhờ dòng thủy triều đẩy đi. Thật may mắn, bất kể tôi có khua dầm lóng ngóng ra sao, dòng nước vẫn cuốn tôi trôi tuột xuống bến. Hơn nữa, chiếc Hispaniola lại neo chình ình ngay giữa lạch nước nên có muốn trượt cũng khó.

Ban đầu, con tàu lù lù hiện ra trước mắt tôi như một vệt đen đặc quánh, thậm chí còn u ám hơn cả màn đêm. Dần dà, cột buồm và thân tàu mới lờ mờ thành hình. Ngay khoảnh khắc tiếp theo - hoặc có vẻ là thế, vì càng trôi xa bờ, dòng thủy triều rút lại càng chảy xiết - tôi đã ở sát sạt dây neo và với tay túm chặt lấy nó.

Sợi dây neo đang căng như dây cung. Dòng chảy xiết đến mức kéo con tàu giật căng cả mỏ neo. Xung quanh mạn tàu, giữa màn đêm đen kịt, làn nước gợn sóng sủi bọt róc rách hệt như một con suối nhỏ trên rẻo cao. Bây giờ, chỉ cần một nhát cứa gọn ghẽ bằng con dao đi biển của tôi, chiếc Hispaniola sẽ ngoan ngoãn trôi êm đềm theo dòng thủy triều.

Mọi chuyện cho đến lúc này vẫn vô cùng êm xuôi. Thế nhưng, tôi chợt rùng mình nhận ra: một sợi dây neo đang căng tột độ mà bị đứt phựt thì chẳng khác nào cú đá hậu trời giáng của một con ngựa chứng. Mười phần thì nắm chắc đến chín, nếu tôi làm liều cắt phăng dây neo của chiếc Hispaniola, lực văng sẽ hất cả tôi lẫn con thuyền thúng bay bổng lên khỏi mặt nước.

Suy nghĩ ấy khiến tôi khựng lại ngay tắp lự. Nếu vận may không một lần nữa mỉm cười đặc biệt ưu ái, hẳn là tôi đã phải ngậm ngùi từ bỏ kế hoạch. Nhưng may thay, những luồng gió nhẹ thổi từ hướng đông nam và hướng nam lúc chập tối đã bất thần chuyển sang hướng tây nam khi màn đêm buông xuống. Ngay lúc tôi còn đang mải miết phân vân, một cơn gió ập tới, quật vào chiếc Hispaniola và đẩy nó trôi ngược lên dòng nước. Trong niềm vui sướng tột độ, tôi cảm nhận rõ sợi dây neo đang chùng hẳn xuống trong tay mình, và bàn tay nắm dây của tôi chìm dưới mặt nước mất một giây.

Thấy thời cơ đã điểm, tôi không chần chừ thêm nữa. Tôi lập tức rút con dao ra, dùng răng tước mở lưỡi dao, rồi thận trọng cắt đứt từng tao cước một, cho đến khi con tàu chỉ còn bám trụ lại bằng đúng hai tao mỏng manh. Xong xuôi, tôi nằm im lìm chờ đợi luồng gió tiếp theo thổi tới làm giảm sức căng, đặng giáng nhát dao ân huệ để cắt đứt những tao cước cuối cùng.

Suốt khoảng thời gian đó, tôi vẫn nghe loáng thoáng những giọng nói ồn ào vẳng ra từ cabin. Thế nhưng, nói thật thì tâm trí tôi đang bận mải mê với những suy nghĩ khác nên chẳng mấy bận tâm lắng nghe. Giờ đây, khi không còn việc gì khác để làm, tôi mới bắt đầu dỏng tai lên chú ý.

Tôi nhận ra một giọng là của gã lái thuyền Israel Hands, kẻ từng làm pháo thủ cho thuyền trưởng Flint thuở trước. Giọng còn lại, khỏi phải nói, đích thị là của cái gã đội mũ ngủ màu đỏ. Rõ ràng cả hai tên này đều đã say bí tỉ, nhưng chúng vẫn nốc rượu không ngừng. Thậm chí, ngay khi tôi đang vểnh tai nghe ngóng, một trong hai gã đã rú lên một tràng the thé của kẻ nát rượu, rồi mở tung cửa sổ phía đuôi tàu và ném vút ra ngoài một vật gì đó - tôi đoán chừng là một cái vỏ chai. Chúng không chỉ say, mà còn đang nổi điên thực sự. Những lời chửi rủa văng ra xối xả như mưa đá. Thỉnh thoảng, chúng lại làm ầm ĩ cả lên, khiến tôi đinh ninh rằng kiểu gì cũng có kẻ phải sứt đầu mẻ trán bằng nắm đấm. Ấy thế nhưng, cứ sau mỗi lần như vậy, cuộc cãi vã lại trôi qua, những giọng nói lầm bầm cứ thế nhỏ dần đi một lúc. Rồi cơn lôi đình tiếp theo lại ập tới, nhưng rốt cuộc cũng chẳng dẫn tới đâu.

Dõi mắt về phía bờ, tôi có thể nhìn thấy ánh sáng rực rỡ của đống lửa trại khổng lồ đang hắt hơi ấm xuyên qua những tán cây. Có ai đó đang nghêu ngao hát. Đó là một khúc ca thủy thủ ảm đạm, cũ kỹ và rề rà, với âm điệu trầm buồn, run rẩy ở cuối mỗi câu hát. Bài hát dường như chẳng bao giờ kết thúc, trừ phi người hát cạn kiệt kiên nhẫn. Tôi đã nghe giai điệu này không dưới một lần trong suốt chuyến hành trình và vẫn còn nhớ như in những ca từ ấy:

“Nhưng chỉ còn một người trong thủy thủ đoàn sống sót, Trong số bảy mươi lăm người đã ra khơi.”

Tôi cho rằng đó là một bài hát quá sức u sầu, nhưng lại vô cùng hợp cảnh với một băng đảng vừa phải hứng chịu những tổn thất nặng nề vào buổi sáng hôm đó. Tuy nhiên, quả thực, qua những gì tôi tận mắt chứng kiến, tất thảy bọn hải tặc này đều vô cảm và lạnh lẽo y như chính vùng biển mà chúng đang giương buồm rẽ sóng.

Cuối cùng thì cơn gió cũng thổi tới; chiếc thuyền buồm khẽ nghiêng mình và nhích lại gần hơn trong màn đêm tĩnh mịch. Cảm nhận được sợi dây thừng chùng xuống một lần nữa, tôi dồn hết sức bình sinh, cắt đứt phăng những thớ dây mỏ neo cuối cùng.

Cơn gió chẳng hề mảy may tác động đến chiếc thuyền thúng, khiến tôi gần như ngay lập tức bị cuốn sát vào mũi tàu Hispaniola. Cùng lúc đó, con tàu buồm bắt đầu xoay vòng, chầm chậm quay dọc theo trục và cắt ngang dòng chảy.

Tôi vùng vẫy dữ dội như một con quỷ nhỏ, bởi tôi cứ ngỡ mình sẽ bị nhấn chìm bất cứ lúc nào. Nhận ra không thể đẩy thẳng chiếc thuyền thúng ra xa, tôi đành dùng hết sức bình sinh đẩy nó dạt về phía đuôi tàu. Cuối cùng, tôi cũng thoát khỏi được gã khổng lồ nguy hiểm ấy. Ngay khi vung tay tung cú đẩy chót, tôi tình cờ chạm phải một sợi dây thừng mảnh vắt vẻo qua lan can đuôi tàu, thõng thả xuống mặt nước. Lập tức, tôi chộp lấy nó.

Chính tôi cũng khó lòng giải thích vì sao mình lại hành động như vậy. Thoạt đầu, đó chỉ là bản năng sinh tồn; nhưng khi đã nắm chặt sợi dây trong tay và nhận thấy nó được buộc rất chắc chắn, sự tò mò dần lấn át nỗi sợ, thôi thúc tôi phải ngó trộm vào ô cửa sổ cabin cho bằng được.

Tôi cẩn thận đu người kéo sợi dây thừng lên từng nhịp. Khi đoán chừng đã đủ gần, tôi đánh liều rướn nửa người lên để phóng tầm mắt qua lớp mái, nhìn thẳng vào bên trong cabin.

Lúc bấy giờ, cả con tàu buồm lẫn chiếc thuyền thúng nhỏ bé đi kèm đều đang lướt đi khá nhanh trên mặt nước; quả thực, chúng tôi đã trôi ngang qua khu vực có đống lửa trại. Con tàu bắt đầu "lên tiếng2" - như cách những người thủy thủ thường gọi - nó ầm ầm rẽ sóng, đạp lên vô vàn bọt nước trắng xóa với những tiếng tung tóe đinh tai nhức óc. Lẽ ra bọn lính gác phải báo động ngay từ lâu, vậy mà mãi tới khi tôi nhoài người ngó qua bệ cửa sổ, tôi mới hiểu vì sao chúng lại im bặt đến thế. Dẫu chỉ dám liếc vội một cái duy nhất từ chiếc thuyền con đang tròng trành dữ dội, cảnh tượng trước mắt cũng đủ làm tôi chết trân: Hands và gã bạn của hắn đang lao vào nhau trong một cuộc vật lộn sinh tử, mỗi kẻ đều đang bóp nghẹt lấy cổ họng của đối phương.

0223m

Tôi lảo đảo ngồi phịch xuống băng ghế chèo, vừa vặn thoát khỏi cú lộn nhào mười mươi xuống biển đen. Tâm trí tôi lúc ấy chẳng còn lưu lại hình ảnh nào ngoài hai khuôn mặt đỏ gay, điên loạn hằn học đang vật vã xoắn xuýt vào nhau dưới ánh đèn bão khói mờ mịt. Tôi vội vã nhắm nghiền mắt lại, cố để thị giác làm quen trở lại với màn đêm đặc quánh.

Khúc ca rầu rĩ lê thê rốt cuộc cũng chấm dứt, nhường chỗ cho đám hải tặc quanh đống lửa đồng thanh gào lên đoạn điệp khúc mà tôi đã nghe đến phát ngán:

“Mười lăm gã chung một rương người chết3- Yo-ho-ho, và một chai rượu rum! Rượu và quỷ dữ đã tước mạng những kẻ còn lại- Yo-ho-ho, và một chai rượu rum!”

Giữa lúc tâm trí tôi còn bận mường tượng xem men say và quỷ dữ đang hoành hành dữ dội đến mức nào bên trong cabin tàu Hispaniola, một cú chòng chành đột ngột của chiếc thuyền thúng khiến tôi giật bắn mình. Ngay tức khắc, chiếc thuyền đổi hướng rõ rệt, như thể đang rẽ sang một lối đi khác. Cùng lúc đó, tốc độ của nó cũng tăng vọt lên một cách dị thường.

Tôi choàng mở bừng mắt. Khắp xung quanh, vô vàn gợn sóng lăn tăn đua nhau xô dạt, phát ra những âm thanh lạo xạo, chói tai và hắt lên chút ánh sáng mờ ảo. Ngay cả chiếc Hispaniola - con tàu mà tôi vẫn đang bám riết cách đuôi nó chỉ vài thước - dường như cũng đang lảo đảo trên mặt nước. Trong màn đêm đen kịt, tôi thoáng thấy những cột buồm của nó đung đưa ngả nghiêng. Không, nhìn kỹ lại, tôi dám chắc rằng bản thân con tàu cũng đang xoay mũi dần về phương nam.

Tôi ném ánh nhìn qua vai, và trái tim như muốn nhảy thót ra khỏi lồng ngực. Kìa, ngay phía sau lưng tôi, là quầng sáng rực rỡ của đống lửa trại. Dòng chảy đã rẽ ngoặt một góc vuông, cuốn phăng cả con thuyền buồm đồ sộ lẫn chiếc thuyền thúng bé tẹo đang nhảy múa trên sóng. Càng lúc càng lao đi vun vút, bọt nước tung trắng xóa mỗi lúc một cao hơn, tiếng sóng gầm gừ ngày một dữ dội hơn, dòng nước hung hãn cuốn chúng tôi băng qua eo biển thẳng tiến ra biển khơi.

Bất thình lình, con thuyền buồm phía trước tôi khực lại rồi chệch hướng dữ dội, xoay hẳn một vòng chừng hai mươi độ. Gần như cùng lúc, những tiếng la hét thất thanh liên tiếp vọng xuống từ boong tàu. Tôi nghe rõ mồn một tiếng bước chân chạy rầm rập trên những bậc thang hầm tàu. Dường như hai gã say xỉn kia rốt cuộc cũng phải dừng cuộc ẩu đả, bừng tỉnh để nhận ra thảm họa đang giáng xuống đầu mình.

Tôi ép mình nằm rạp xuống đáy chiếc thuyền thúng khốn khổ, thành tâm phó thác linh hồn cho Đấng Tạo Hóa. Ở ngay cuối eo biển kia, tôi đoán chắc chúng tôi sẽ lao sầm vào một bãi đá ngầm nơi sóng dập điên cuồng, và rồi mọi nỗi bi đát của tôi sẽ nhanh chóng khép lại. Dù đã sẵn sàng đón nhận cái chết, nhưng tôi chẳng thể nào gom đủ dũng khí để trân trân nhìn số phận nghiệt ngã ấy đang sập xuống.

Cứ thế, tôi có lẽ đã nằm lay lắt suốt nhiều giờ đồng hồ, liên tục bị những ngọn sóng dữ tợn quăng quật tả tơi, thỉnh thoảng lại bị bọt nước tạt cho ướt sũng, và không ngừng phấp phỏng chờ đợi Tử thần gõ cửa trong cú lao chúi mũi tiếp theo. Nhưng rồi, sự mệt mỏi rã rời dần xâm chiếm lấy tôi. Một cảm giác tê dại, một cơn mê man nhẹ nhàng buông lơi, phủ lấp tâm trí tôi giữa muôn trùng khiếp sợ. Cho đến khi giấc ngủ rốt cuộc cũng ghé thăm, giữa lòng chiếc thuyền thúng vẫn đang bị biển khơi vùi dập tơi bời, tôi chìm vào mộng mị, thấy mình được trở về quê nhà bình yên bên quán trọ Admiral Benbow cũ kỹ.



  1. Bản gốc tiếng Anh dùng từ 'coracle' - một loại thuyền nhỏ, nhẹ, hình tròn truyền thống của người Anh cổ (đặc biệt ở xứ Wales). Khác với thuyền thúng đan bằng tre ở Việt Nam, 'coracle' thường được đan bằng những cành cây mềm (như liễu) và bọc ngoài bằng da động vật để chống thấm nước. 

  2. Dịch từ thuật ngữ lóng của giới đi biển (nguyên gốc: 'talking'). Tàu 'lên tiếng' là cách gọi hình tượng hóa âm thanh ầm ĩ phát ra từ các tấm gỗ thân tàu cọ xát vào nhau và tiếng sóng vỗ mạnh vào thân tàu khi nó đang di chuyển với tốc độ cao. 

  3. Bản gốc tiếng Anh là 'Dead Man's Chest'. Trong văn hóa hải tặc, cụm từ này không chỉ mang nghĩa đen là chiếc rương chứa xác người (tựa như quan tài) mà còn ám chỉ đảo Dead Chest, một hòn đảo hoang cằn cỗi ở vùng biển Caribe. Hải tặc thường áp dụng hình phạt bỏ mặc kẻ phạm tội trên hòn đảo này cho đến chết.