0062m

V. Hồi Kết Của Gã Mù

9062m

Dù sợ hãi, nhưng trí tò mò trong tôi dường như còn lấn át hơn cả, khiến tôi không tài nào nằm yên một chỗ. Tôi khẽ khàng bò lên lại bờ đất, nấp sau một bụi kim tước để ló đầu ra quan sát đoạn đường trước quán trọ. Tôi vừa kịp yên vị thì đám kẻ thù cũng bắt đầu lộ diện. Phải đến bảy, tám tên đang cắm đầu chạy thục mạng, bước chân giẫm thình thịch loạn xạ trên mặt đường, dẫn đầu là một gã cầm đèn lồng chạy vượt lên trước. Ba tên trong số đó khoác tay nhau chạy sát rạt; và xuyên qua màn sương mù dày đặc, tôi nhận ra kẻ đi giữa không ai khác chính là gã ăn mày mù. Ngay giây tiếp theo, giọng nói cất lên đã lập tức chứng minh tôi đúng.

"Phá cửa ra!" gã rít lên.

"Rõ, thưa sếp!" hai ba tên đồng thanh đáp. Cả đám lập tức xông thẳng vào quán Đốc đốc Benbow1 như một cơn lốc, gã cầm đèn lồng theo sát gót. Thế rồi, tôi thấy bọn chúng khựng lại, tiếng xì xầm thì thào vang lên, có vẻ như lũ hải tặc đang vô cùng sửng sốt khi thấy cửa nhà đã mở toang. Nhưng sự chần chừ ấy chẳng kéo dài lâu, bởi gã mù lại tiếp tục vung vẩy ra lệnh. Giọng gã ngày càng lớn và chói tai hơn, tựa hồ đang bốc hỏa vì giận dữ và nóng lòng.

"Vào! Vào ngay đi!" gã hét lớn, buông lời chửi rủa thậm tệ sự chậm chạp của đồng bọn.

Bốn, năm tên lập tức tuân lệnh xông vào, để lại hai tên đứng ngoài đường cùng gã ăn mày mù đáng sợ. Một khoảng lặng bao trùm, kế đến là tiếng thốt lên đầy kinh ngạc, và cuối cùng, một giọng nói từ trong nhà vỡ òa hét vọng ra: "Bill chết rồi!"

Mặc kệ, gã mù vẫn không ngừng văng tục vì sự lề mề của bọn chúng.

"Vài đứa trong bọn mày mau lục soát xác nó đi, cái lũ ăn hại lười biếng này! Những đứa còn lại lên gác lấy chiếc rương ngay!" gã gào lên.

Tôi có thể nghe rõ mồn một tiếng bước chân chạy huỳnh huỵch giẫm đạp lên chiếc cầu thang cũ kỹ, tưởng chừng như cả ngôi nhà cũng phải rung bần bật. Ngay sau đó, những tiếng kêu sửng sốt mới lại vang lên; cửa sổ phòng viên thuyền trưởng bị hất tung, đập đánh rầm vào tường kèm theo tiếng kính vỡ loảng xoảng. Một tên thò nửa người ra ngoài ánh trăng, nói vọng xuống với gã ăn mày mù đang đứng dưới đường.

"Pew," gã kêu lên, "có kẻ đến nẫng tay trên bọn tao rồi. Đứa nào đó đã lục tung chiếc rương không chừa một ngóc ngách."

"Thế 'cái đó' có ở đấy không?" Pew gầm lên.

"Tiền vẫn còn nguyên."

Gã mù điên tiết, buông lời nguyền rủa xối xả đống tiền.

"Ý tao là 'nắm đấm' của Flint2 cơ!" gã gắt gỏng.

"Bọn tao chả thấy nó đâu cả," tên kia đáp lại.

"Này, mấy đứa ở dưới đó, nó có trên người thằng Bill không?" gã mù lại gào xuống.

Nghe vậy, một tên khác-có lẽ là kẻ được giao nhiệm vụ ở lại dưới tầng trệt để lục soát xác viên thuyền trưởng-bước ra thềm quán trọ. "Thằng Bill đã bị lột sạch sành sanh rồi," gã đáp; "chẳng còn sót lại cái rếch gì."

"Chắc chắn là lũ người ở cái quán trọ này rồi-chính là thằng ranh con đó. Tao ước gì lúc nãy tao đã móc mù mắt nó đi cho xong!" gã mù Pew điên cuồng gào thét. "Bọn chúng chỉ vừa mới ở đây thôi-bọn chúng đã chốt chặt cửa khi tao cố đẩy vào. Tỏa ra mau, các chàng trai, và lùng sục bọn chúng cho tao!"

"Đúng thế, bọn chúng còn bỏ lại ngọn đèn ở đây này," gã đứng trên cửa sổ phụ họa.

"Tỏa ra và tìm cho bằng được bọn chúng! Lục tung cả ngôi nhà lên!" Pew nhắc lại, tay cầm gậy gõ bần bật xuống mặt đường đầy thị uy.

Ngay sau đó, một mớ âm thanh hỗn độn ầm ầm vang lên khắp quán trọ cũ kỹ của chúng tôi. Những bước chân nện thình thịch chạy tứ tung, đồ đạc bị quăng quật loảng xoảng, còn những cánh cửa thì bị đá văng rầm rầm. Tiếng ồn ào lớn đến mức cả những vách đá cũng phải dội lại âm thanh ầm ĩ. Lát sau, những gã đàn ông lần lượt tuôn ra đường, bực dọc tuyên bố chẳng tìm thấy mẹ con tôi đâu cả. Đúng lúc ấy, tiếng huýt sáo từng làm tôi sợ mất mật khi đứng bên rương tiền của viên cố thuyền trưởng lại một lần nữa xé toạc màn đêm, nhưng lần này nó lặp lại hai tiếng. Ban đầu, tôi cứ ngỡ đó là tiếng kèn hiệu triệu tập băng đảng của gã mù đến tấn công. Thế nhưng giờ tôi mới vỡ lẽ, đó là tín hiệu phát ra từ sườn đồi hướng về phía ngôi làng. Nhìn bộ dạng hốt hoảng của lũ hải tặc, tôi đoán chắc đấy là tín hiệu báo động nguy hiểm đang kề cận.

"Lại là thằng Dirk," một gã lên tiếng. "Hai tiếng cơ đấy! Bọn tao phải chuồn thôi, anh em."

"Chuồn cái gì mà chuồn, lũ hèn nhát!" Pew gầm lên. "Thằng Dirk xưa nay vốn là một thằng ngu và hèn nhát-bọn mày đừng thèm bận tâm đến nó. Mẹ con nó chắc chắn lẩn quẩn đâu đây thôi, làm sao mà chạy xa được! Cơ hội đang nằm trong lòng bàn tay bọn mày rồi. Tỏa ra mà lùng sục đi, lũ chó này! Ôi, chết tiệt thật," gã rên rỉ khóc lóc, "giá mà tao có đôi mắt!"

Lời kêu gọi của gã xem chừng cũng có chút tác dụng. Hai gã trong bọn bắt đầu sục sạo quanh đống gỗ vụn. Tuy vậy, tôi thấy chúng làm việc đó với vẻ đầy miễn cưỡng, mắt vẫn luôn dáo dác ngó chừng để lo giữ mạng, trong khi những tên còn lại thì cứ đứng trân trân, chần chừ giữa đường.

"Hàng ngàn đồng vàng đang nằm ngay trước mắt, thế mà lũ ngu bọn mày lại run rẩy chùn bước! Tìm thấy nó là bọn mày sẽ giàu nứt đố đổ vách như những vị vua. Bọn mày thừa biết nó ở ngay đây, vậy mà vẫn đứng co rúm lại sợ sệt. Cả lũ bọn mày chẳng có đứa nào dám vác mặt ra đối đầu với thằng Bill, thế mà tao đã làm được đấy-một gã mù lòa! Và giờ tao sắp mất trắng cơ hội ngàn vàng chỉ vì bọn mày! Tao lại sắp phải làm một gã ăn mày khốn khổ, lê lết xin xỏ từng ngụm rượu rum, trong khi đáng lẽ tao có thể ngồi rung đùi tận hưởng trong xe ngựa! Phải chi bọn mày có chút dũng khí chỉ bằng con mọt rúc trong miếng bánh quy, thì chắc chắn bọn mày vẫn tóm được chúng nó."

"Mặc xác nó đi, Pew, bọn tao đã tóm được mấy đồng vàng rồi!" một gã càu nhàu đáp trả.

"Chắc chắn chúng đã giấu nhẹm cái thứ chết tiệt đó rồi," một gã khác hùa theo. "Cầm lấy mấy đồng George3 này đi, Pew, và đừng có đứng đó mà gào thét nữa."

"Gào thét" quả là từ miêu tả chính xác nhất lúc này. Những lời cự cãi của đồng bọn càng làm cơn thịnh nộ của Pew bùng lên dữ dội. Hoàn toàn mất trí vì giận dữ, gã mù vung loạn xạ cây gậy vào đám đông, quất mạnh xuống người mấy gã đứng gần.

0065m

Đến lượt lũ hải tặc cũng điên tiết, quay sang chửi rủa gã ác ôn mù lòa không tiếc lời. Chúng buông ra những lời đe dọa rùng rợn và xúm lại cố tước đoạt cây gậy khỏi tay gã, nhưng mọi nỗ lực đều vô ích.

Trận cãi vã ầm ĩ ấy rốt cuộc lại là cứu tinh của mẹ con tôi. Ngay lúc bọn chúng còn đang gân cổ lên chửi rủa, một âm thanh lạ chợt vọng lại từ đỉnh đồi phía ngôi làng: tiếng vó ngựa dồn dập phi nước đại. Chớp nhoáng sau đó, một phát súng lục lóe sáng và nổ vang trời từ phía bờ rào. Đây rõ ràng là tín hiệu báo nguy cuối cùng, bởi đám hải tặc tức tốc quay đầu bỏ chạy tán loạn khắp ngả. Đứa cắm đầu chạy dọc theo vịnh ra biển, tên thì vắt chân lên cổ lao chéo qua đồi. Cứ như thế, chỉ trong vòng nửa phút ngắn ngủi, bóng dáng bọn chúng đã bốc hơi sạch sẽ, bỏ lại mình Pew trơ trọi giữa đường. Không rõ bọn chúng mặc kệ gã vì quá khiếp đảm, hay cố tình làm vậy để trả thù những lời nhục mạ và những đòn roi tàn nhẫn ban nãy. Chỉ biết rằng lão ăn mày mù lòa đã bị đồng bọn vứt bỏ. Gã điên cuồng khua khoắng cây gậy loạn xạ trên mặt đất, vừa mò mẫm vụng về vừa gào thét gọi đồng bọn. Cuối cùng, gã rẽ nhầm hướng, chạy sượt qua chỗ tôi đang nấp, hướng thẳng về phía ngôi làng. Vừa chạy gã vừa nức nở van nài: "Johnny, Black Dog, Dirk... bọn mày sẽ không bỏ rơi Pew già này đâu, anh em... đừng bỏ mặc Pew già này chứ!"

Đúng lúc ấy, tiếng vó ngựa đã dội vang trên đỉnh dốc. Dưới ánh trăng vằng vặc, bốn năm bóng kị sĩ hiện ra, thúc ngựa lao ầm ầm xuống sườn đồi.

Đến tận lúc này Pew mới nhận ra mình đã chạy nhầm hướng. Gã hét lên thất thanh, vội vàng quay ngoắt lại rồi cắm cổ chạy thẳng tới con mương, ngã lăn lông lốc xuống dưới. Nhưng chỉ chớp mắt, gã đã lồm cồm bò dậy và chồm người phóng đi. Giờ đây, hoàn toàn mất phương hướng, gã lao thẳng vào dưới chân con ngựa đi đầu đang phi nước đại.

Người kị sĩ cuống cuồng ghì cương hòng cứu mạng gã, nhưng mọi nỗ lực đều vô ích. Pew ngã gục xuống cùng một tiếng thét thảm thiết xé toạc màn đêm. Bốn móng ngựa sắt nhọn giẫm đạp không thương tiếc, hất tung thân hình tàn tạ của gã lên không trung rồi lao vút qua. Gã đổ gục xuống đường, nghiêng người một chốc rồi úp sấp mặt xuống nền đất lạnh lẽo, mãi mãi không còn động đậy.

Tôi bật dậy khỏi chỗ nấp và cất tiếng gọi tốp kị sĩ. Lúc này, họ cũng đang ghì cương dừng ngựa, hãy còn bàng hoàng trước tai nạn thảm khốc vừa xảy ra; và tôi nhanh chóng nhận ra họ là những ai. Có một cậu bé đi lùi lại phía sau những người khác, chính là đứa nhóc đã từ làng chạy đi tìm bác sĩ Livesey. Những người còn lại đều là nhân viên hải quan mà cậu bé tình cờ gặp trên đường. Nhờ nhanh trí, cậu đã thuyết phục được họ quay lại ứng cứu ngay lập tức. Chẳng rõ bằng cách nào, tin tức về chiếc thuyền buồm khả nghi neo đậu ở Kitt's Hole đã lọt đến tai thanh tra Dance, khiến ông tức tốc dẫn người lên đường về phía chúng tôi ngay trong đêm. Và chính nhờ sự tình cờ may mắn ấy mà mẹ con tôi đã thoát khỏi lưỡi hái tử thần.

Lão Pew đã chết, một cái chết cứng đờ. Còn về phần mẹ tôi, khi chúng tôi đưa bà lên làng, chút nước lạnh và muối ngửi4 đã nhanh chóng giúp bà hồi tỉnh. Bà không còn hoảng sợ nữa, dẫu vẫn xuýt xoa tiếc rẻ khoản tiền còn thiếu. Trong lúc đó, ngài thanh tra thúc ngựa phi nước đại đến Kitt's Hole. Nhưng lính của ông đành phải xuống ngựa, mò mẫm dắt thú cưỡi lần bước xuống hẻm núi rợp bóng cây, thấp thỏm lo sợ bị phục kích bất cứ lúc nào. Thế nên, chẳng có gì ngạc nhiên khi họ xuống đến vịnh, chiếc thuyền buồm đã nhổ neo, dù vẫn còn lảng vảng gần bờ. Ngài thanh tra cất tiếng gọi vói theo con thuyền. Một giọng nói từ tăm tối vọng lại, bảo ông mau lùi khỏi ánh trăng nếu không muốn "ăn kẹo chì"5, và ngay tức khắc, một viên đạn rít gió sượt qua cánh tay ông. Chớp mắt sau đó, chiếc thuyền vòng qua mũi đất rồi mất hút vào màn đêm. Ông Dance chôn chân tại chỗ, hệt như ông tự nhận là "như cá mắc cạn", và tất cả những gì ông có thể làm là phái một người đến B-- để báo động cho tàu tuần duyên6. "Và làm thế," ông bảo, "cũng bằng thừa. Bọn chúng đã tẩu thoát trót lọt, thế là xong chuyện. Chỉ có điều," ông nói thêm, "ta rất khoái chí vì đã giẫm nát cái gai nhức nhối mang tên Pew." Lúc này, ông đã nghe tôi kể lại toàn bộ ngọn ngành.

Tôi cùng ông quay lại quán Admiral Benbow. Quả thật, bạn không thể tưởng tượng nổi ngôi nhà đã bị đập phá tan hoang đến mức nào đâu. Ngay cả chiếc đồng hồ quả lắc cũng bị lũ hải tặc xô đổ gãy nát trong cuộc lùng sục điên cuồng để tìm kiếm mẹ con tôi. Và dù thực chất chẳng có thứ gì bị mất ngoại trừ túi tiền của viên thuyền trưởng cùng chút bạc lẻ trong ngăn kéo, tôi hiểu ngay rằng cơ nghiệp của chúng tôi đã tiêu tan. Ông Dance ngơ ngác không sao hiểu nổi cảnh tượng trước mắt.

"Cậu bảo bọn chúng đã cuỗm được tiền rồi sao? Vậy thì, Hawkins, bọn chúng còn muốn đào bới cái quái gì nữa chứ? Chẳng lẽ lại muốn thêm tiền?"

"Không, thưa ngài, cháu nghĩ không phải tiền đâu ạ," tôi đáp. "Sự tình là, thưa ngài, cháu tin mình đang giữ món đồ đó ngay trong túi áo ngực. Và nói thật với ngài, cháu muốn cất giấu nó vào một nơi an toàn."

"Chắc chắn rồi, cậu bé, hoàn toàn hợp lý," ông gật gù. "Ta sẽ giữ hộ nó, nếu cậu muốn."

"Cháu nghĩ có lẽ bác sĩ Livesey-" tôi ngập ngừng lên tiếng.

"Tuyệt vời," ông hồ hởi ngắt lời, "hoàn toàn chính xác! Bác sĩ vừa là một quý ông, vừa là một quan tòa7. Giờ ngẫm lại, ta cũng nên đích thân cưỡi ngựa đến đó để bẩm báo tình hình cho ông ấy hoặc ngài địa chủ. Lão Pew đã mất mạng, mọi chuyện coi như xong. Chẳng phải ta hối hận gì đâu, nhưng gã đã chết, cậu thấy đấy, và người ta sẽ chực chờ để đổ lỗi cho một sĩ quan hải quan của Bệ hạ nếu có cơ hội. Thế này nhé, Hawkins, nếu cậu muốn, ta sẽ đưa cậu đi cùng."

Tôi chân thành cảm ơn lời đề nghị của ngài thanh tra, rồi hai bác cháu cùng thả bộ về ngôi làng nơi để ngựa. Vào lúc tôi thưa chuyện với mẹ về ý định của mình, tất cả lính tráng đều đã yên vị trên lưng ngựa.

"Dogger," ông Dance cất tiếng, "ngựa của anh khỏe đấy, cho cậu bé này ngồi ké phía sau đi."

Ngay khi tôi vừa trèo lên lưng ngựa và bám chặt lấy thắt lưng của Dogger, viên thanh tra dõng dạc hô lệnh. Cả đoàn phi nước kiệu, hối hả lao đi trên con đường dẫn thẳng tới nhà bác sĩ Livesey.



  1. Tên quán trọ bắt nguồn từ Đô đốc John Benbow (1653-1702), một vị tướng hải quân Anh nổi tiếng. Việc đặt tên quán trọ theo tên ông cho thấy không khí đặc trưng của vùng ven biển thời xưa. (Lưu ý: 'Đốc đốc' trong bản dịch có thể là cách đọc trại đi hoặc lỗi in ấn của từ 'Đô đốc'). 

  2. "Nắm đấm" (fist) ở đây là cách nói lóng của hải tặc để chỉ nét chữ, bản ghi chép hoặc đồ vật do chính tay thuyền trưởng Flint tạo ra (ở đây ám chỉ bản đồ kho báu). 

  3. "Đồng George" là cách gọi lóng chỉ các đồng tiền xu bằng vàng hoặc bạc có in hình chân dung các đời Vua George (những người cai trị nước Anh thời bấy giờ). 

  4. "Muối ngửi" (smelling salts) là một hỗn hợp hóa học (thường chứa amoniac) tỏa mùi hăng nồng, được sử dụng rất phổ biến ở thế kỷ 18 và 19 để đánh thức những người bị ngất xỉu hoặc choáng váng. 

  5. "Ăn kẹo chì" là tiếng lóng mang ý nghĩa bị bắn bằng súng. Vào thời đại này, đạn súng lục và súng trường thường được đúc bằng kim loại chì. 

  6. Tàu tuần duyên (revenue cruiser) là lực lượng tàu vũ trang của nhà nước, có nhiệm vụ tuần tra bảo vệ vùng bờ biển, chống lại nạn buôn lậu và bắt giữ hải tặc. 

  7. Ở nước Anh thế kỷ 18, những người có học thức hoặc địa vị trong một vùng (như bác sĩ, địa chủ) thường được chỉ định kiêm nhiệm chức danh "quan tòa" (magistrate) để duy trì an ninh và xử lý các vụ việc luật pháp ở địa phương.